Hôi Tiên Tầm Thương - Chương 1: Chuột Bạc Mắt Đỏ

Gió bấc rít qua những khe vách nứa của căn chái mục nát dựng cheo leo trên sườn đồi Bản Mạt, mang theo hơi sương muối buốt thấu xương tuỷ. Vùng biên ải…

Nội dung chương

Gió bấc rít qua những khe vách nứa của căn chái mục nát dựng cheo leo trên sườn đồi Bản Mạt, mang theo hơi sương muối buốt thấu xương tuỷ. Vùng biên ải những năm đầu thập niên hai mươi của thế kỷ trước chẳng khác nào một bãi tha ma khổng lồ, nơi thổ phỉ, lính khố đỏ và dân đào vàng sẵn sàng thọc dao vào cổ nhau chỉ vì nửa phong sáp ong hay vài hào rách nếp gấp. Ngọn đèn hoa kỳ vặn bấc thấp lè tè tỏa ra một vùng sáng vàng vọt, mùi dầu hỏa khét lẹt quyện lấy mùi bùn ướt và mùi ẩm mốc của xó rừng sâu.

Tôi đưa ngón tay cái thô ráp, chai sần miết dọc theo vết sẹo dài chạy từ chân mày bên trái chéo qua sống mũi xuống tận khóe môi. Vết thương cũ mười năm trước do một nhát xẻng cướp mả chém hụt để lại, cứ mỗi bận trời trở lạnh là lại giật từng cơn ngứa ngáy râm ran. Tôi đảo mắt nhìn hai bóng người ngồi đối diện qua chiếc bàn gỗ tạp ghép bằng những mảnh ván quan tài cậy trộm.

Tứ Hải ngồi bên tay phải tôi, chiếc cằm nhẵn nhụi không râu hơi hếch lên, ngón tay thoăn thoắt gõ nhịp xuống mặt bàn theo một điệu gõ cơ quan của dân thợ khóa. Gã mới ba mươi tuổi, mặt mũi non choẹt nhưng lòng dạ thì chứa đầy gai góc và dao găm. Đôi mắt ti hí của gã dán chặt vào bọc vải đỏ sẫm đặt ngay giữa bàn, nơi lớp vải chốc chốc lại phập phồng như có một quả tim đang đập dồn dập.

Ngồi bên cạnh gã là Lão Bát. Lão sáu mươi tuổi, tóc muối tiêu búi túm sau gáy bằng một chiếc trâm tiện từ xương đùi trâu. Cặp kính đen tròn xoe viền đồng che kín đôi mắt, biến gương mặt gầy guộc đầy nếp nhăn của lão thành một pho tượng đất nung chết cứng. Đôi bàn tay gầy gò của Lão Bát không ngừng lần những hạt chuỗi tiện thô, miệng lầm rầm những câu khẩu quyết bói toán không ai nghe rõ.

"Lão Tam, trời đã sang canh ba rồi." Tứ Hải không kìm được nữa, gã nuốt một ngụm nước bọt đánh ực, giọng khàn đặc vì khói thuốc lào. "Đêm nay anh gọi chúng tôi đến căn chòi hoang này rốt cuộc là có vụ làm ăn gì lớn? Đất biên ải này quan thầy Pháp đang lùng sục ráo riết, bọn phỉ trên đèo cũng đang đói khát. Đi đêm lắm thế nào cũng có ngày cắn phải bả."

Tôi không vội trả lời. Tôi với tay lấy thanh nhíp sắt rèn thủ công nằm cạnh hộp diêm quẹt, khẽ gảy gảy vào nút thắt bằng dây gân bò trên miệng bao vải.

"Cắn phải bả hay vớ được lộc trời, lát nữa khắc biết." Tôi gằn giọng, âm sắc trầm đục như tiếng đá tảng lăn dưới đáy vực. "Cái mồm chú mày lúc nào cũng sốt sắng hơn cái đầu. Muốn ăn vàng ròng nghìn năm thì phải biết ngậm miệng mà chờ."

Tứ Hải nghe nhắc đến vàng ròng thì hai con ngươi co rút lại, khóe miệng khẽ giật. Lão Bát vẫn ngồi im lìm, những ngón tay khô đét dừng lại trên một hạt chuỗi xù xì, chiếc đầu hơi nghiêng về phía bao vải như thể đang lắng nghe một âm thanh vô hình nào đó truyền qua thớ gỗ.

Tôi cởi từng nút gút gân bò. Lớp vải điều đỏ sẫm hé mở, để lộ ra một khoảng tối tĩnh mịch bên trong. Rồi từ miệng túi, hai chấm đỏ rực như hai hòn than non từ từ trồi lên.

Một cái đầu chuột to dị thường thò ra ngoài. Nó không giống bất kỳ loài gặm nhấm nào sống dưới cống rãnh hay hang đất ở chốn đồng bằng. Con chuột này to bằng một con mèo rừng nhỏ, toàn thân phủ một lớp lông xám bạc dày dặn, mượt mà và bóng loáng như được tráng một lớp thiếc lỏng. Đôi tai mỏng dính của nó giật giật, chóp mũi hồng nhạt khịt khịt liên hồi hít thở bầu không khí ngột ngạt của gian nhà lá. Đôi mắt nó đỏ quạch, sâu hoắm và ánh lên vẻ khôn ngoan quái đản vượt xa trí khôn của loài muông thú.

Đó là Hôi Tiên. Mười năm trước, tôi tìm thấy nó đang nằm cuộn tròn bên trong một chiếc bình tro men lam dưới đáy một ngôi mộ cổ bỏ hoang ở biên giới phía Bắc. Kể từ ngày đó, con vật này đã cùng tôi đi qua hàng chục hầm mộ kiên cố, nếm trải không biết bao nhiêu độc thủy, bẫy sập và ám khí.

Hôi Tiên từ từ bò hẳn ra mặt bàn. Bộ móng vuốt cong vút, sắc nhọn cào nhẹ lên mặt gỗ ván quan tài tạo ra những tiếng ken két rợn người. Chiếc đuôi trụi lông dài ngoẵng của nó quất nhẹ sang hai bên, phát ra âm thanh lách tách khô khốc.

Tứ Hải vô thức thụt lùi người ra sau, bàn tay theo bản năng mò xuống chiếc dao găm giắt bên hông, nhưng ánh mắt lại không giấu nổi sự ghen tỵ lẫn thèm thuồng. Gã thèm cái bản lĩnh hiểu được thứ tiếng ríu rít dị kỳ của con chuột mà tôi nắm giữ, thèm cái kho tàng tri thức về những ngôi mộ cổ nằm sâu dưới lòng đất mà con thú gặm nhấm này sở hữu.

Tôi không để tâm đến phản ứng của Tứ Hải. Tôi mở chiếc hộp gỗ nhỏ bọc thiếc đặt cạnh đèn, bên trong chứa đầy những mảnh vụn bạc trắng hếu. Dùng chiếc nhíp sắt gắp một mẩu bạc vụn cỡ móng tay, tôi đưa lại gần mõm Hôi Tiên.

Con chuột ngửi nhẹ mẩu kim loại, đôi mắt đỏ loé lên một tia sáng quỷ quyệt. Nó há chiếc miệng đỏ hỏn để lộ hai chiếc răng cửa dài nhọn hoắt vàng ệch, đớp lấy miếng bạc từ kẹp sắt.

Tiếng kim loại bị nghiến vụn vang lên rau ráu giữa màn đêm yên tĩnh. Răng nó cứng hơn thép nguội, chỉ vài nhát nhai đã biến mẩu bạc thành bột vụn rồi nuốt chửng vào bụng. Sau khi ăn xong, nó vươn cổ, chùi mép vào hai chi trước ngắn ngủn rồi ngồi xổm bằng hai chân sau, ngực ưỡn ra như một bức tượng đồng đen.

"Tam ca... thơm... đất sâu có mùi thơm..."

Một âm thanh the thé, đanh và nghẹt như tiếng kim loại cọ vào mảnh sành rách rưới phát ra từ cổ họng con chuột. Thứ âm thanh đó lọt vào tai người thường sẽ giống như tiếng chuột chít chít lúc tranh mồi, nhưng mười năm qua, tôi đã học được cách phân tách từng tầng ngữ điệu quái dị trong vòm họng nó thành tiếng người rành rọt.

"Thơm thế nào?" Tôi cúi sát mặt xuống, vết sẹo trên má giật nhẹ. "Có bằng cái huyệt quan ba ở Lạng Sơn năm ngoái không?"

"Hơn... gấp trăm lần..." Hôi Tiên nhe răng, chiếc đuôi quất mạnh xuống bàn một nhịp dứt khoát. "Vàng ròng đúc cột... áo liệm kết bằng ngọc... xương cốt đã mủn thành bùn, chỉ còn vàng ròng thở dưới đá xanh."

Tứ Hải chồm người tới, hai tay chống chặt xuống mép bàn, mắt gã long lên những tia máu đỏ: "Nó nói gì thế Lão Tam? Vàng thật à? Ở đâu? Đèo Gió hay thung lũng Bản Mạt?"

Tôi lạnh lùng liếc nhìn Tứ Hải: "Ngồi lùi lại. Chú mày muốn làm nó kinh động thì cứ việc bước tới một bước nữa xem."

Tứ Hải hậm hực ngồi thụt xuống ghế, miệng lầm bầm chửi thề nhưng ánh mắt vẫn dán chặt vào từng cử động của Hôi Tiên. Gã hiểu rõ trong cái nghề đào mồ cuốc mả này, kẻ nào nắm được đường đi nước bước dưới lòng đất thì kẻ đó nắm quyền sinh sát. Không có tôi phiên dịch chỉ dẫn của Hôi Tiên, tài phá cơ quan của gã cũng chỉ là trò vặt vãnh vứt đi trước những hầm mộ nghìn năm tuổi.

Lão Bát lúc này mới chậm rãi cất giọng, âm vực già nua khàn đục như tiếng lá khô cọ vào đá tảng: "Mộ cổ nghìn năm chứa vàng ròng đúc cột... Thời buổi tao loạn này, mộ lớn cỡ đó trên đất Bắc chỉ đếm trên đầu ngón tay. Đất biên ải rừng thiêng nước độc, những nơi có long mạch kết tụ châu báu đa phần đều là đất dữ. Lão Tam, con vật này có chỉ rõ cửa sinh cửa tử không?"

Tôi quay sang nhìn Hôi Tiên. Con chuột dường như nghe hiểu câu hỏi của Lão Bát, đôi mắt đỏ trừng trừng nhìn vào cặp kính đen của ông lão mù dở. Nó ngửa đầu hít mạnh một hơi không khí ẩm ướt tràn qua khe liếp, rồi lồng ngực nó bắt đầu phập phồng dữ dội.

"Khục... khục..."

Hôi Tiên đột nhiên cúi gập người lại. Hai chi trước của nó cào mạnh xuống mặt gỗ quan tài, để lại những vệt xước trắng xóa sâu hoắm. Cổ họng nó phát ra những tiếng ọe khan nghẹn ứ, như thể có một vật thể lạ đang mắc kẹt giữa khí quản và thực quản.

Tứ Hải giật mình đứng bật dậy, tay nắm chặt cán dao: "Nó làm sao thế? Bị nghẹn bạc vụn à?"

"Im mồm!" Tôi quát khẽ, vươn tay giữ chặt lấy sống lưng Hôi Tiên.

Bộ lông xám bạc của con chuột dựng đứng lên như lông nhím. Da thịt dưới lớp lông run rẩy từng chập liên hồi. Tôi cảm nhận được một luồng khí lạnh buốt từ cơ thể nó truyền qua lòng bàn tay mình, cái lạnh âm u của những tầng đất sâu chưa từng thấy ánh mặt trời. Hôi Tiên há to mồm, quai hàm bạnh ra đến mức tưởng chừng như sắp rách toạc khóe miệng.

Một tiếng "khạc" khô khốc vang lên.

Một vật thể nhỏ từ trong vòm họng đỏ lòm của con chuột bắn ra ngoài, lăn lông lốc trên mặt bàn gỗ rồi dừng lại ngay trước bát đèn dầu hỏa.

Mùi tanh nồng bốc lên ngay lập tức xộc thẳng vào mũi cả ba người chúng tôi. Đó là thứ mùi tanh tưởi đặc quánh của máu tươi, hòa lẫn với mùi đất thối rữa và mùi kim loại gỉ sét.

Ngọn đèn dầu chập chờn rọi sáng vật thể vừa rơi ra. Đó là một mẩu ngọc bội vỡ hình nửa vầng trăng, chất ngọc trắng đục như mỡ cừu nhưng trên bề mặt lại loang lổ những vệt máu đỏ tươi rói. Máu vẫn chưa hề đông lại, từng giọt chất lỏng sền sệt rỉ ra từ kẽ ngọc, chảy tràn xuống mặt gỗ tạp tạo thành một vệt dài nhờn nhợt.

Tôi nín thở, chầm chậm dùng đầu nhíp sắt gạt nhẹ miếng ngọc.

Khói mỏng từ giọt máu bốc lên thoang thoảng. Miếng ngọc này còn ấm. Hơi ấm của cơ thể người sống, chứ không phải cái lạnh buốt của cổ vật chôn vùi dưới đáy mồ nghìn năm.

Tứ Hải trợn trừng hai mắt, hơi thở trở nên dồn dập: "Ngọc... ngọc cổ dính máu? Tại sao máu còn tươi thế này? Con chuột này vừa đi đâu về trước khi anh mang nó tới đây?"

"Nó ở trong đẫy vải suốt ba ngày qua," tôi lạnh lùng đáp, ngón tay lại vô thức miết mạnh lên vết sẹo dài trên mặt. Cảm giác ngứa ngáy râm ran biến mất, thay vào đó là sự căng thẳng tột độ đang lan khắp sống lưng. "Nó không đi đâu cả. Nhưng hồn vía và tai mắt của loài gặm nhấm này có thể đào sâu xuống lòng đất qua những đường hang ngầm mà người sống không thể chạm tới."

Lão Bát vươn bàn tay xương xẩu ra, những ngón tay gầy gò lần mò trên mặt bàn một cách chuẩn xác lạ kỳ rồi dừng lại ngay bên cạnh mẩu ngọc bội. Lão không chạm trực tiếp vào máu, chỉ đưa đầu ngón tay lướt nhẹ trên luồng hơi ấm còn sót lại, sau đó đưa lên mũi ngửi.

Gương mặt như tượng đất nung của Lão Bát khẽ giật giật. Cặp kính đen tròn xoe phản chiếu ánh lửa leo lét của ngọn đèn dầu hỏa: "Máu người. Là máu của trai tráng khỏe mạnh, chết chưa quá hai canh giờ."

Gian chòi rách nát hoàn toàn chìm vào im lặng. Chỉ còn tiếng gió bấc gào thét bên ngoài vách nứa và tiếng mưa rừng bắt đầu rơi lộp bộp trên mái lá mục.

Hôi Tiên sau khi nôn ra mẩu ngọc bội dường như đã lấy lại được vẻ linh hoạt vốn có. Nó chồm tới, dùng chiếc mũi hồng hít hà vệt máu tươi trên mặt bàn, lưỡi thè ra liếm láp một cách thèm thuồng. Đôi mắt đỏ rực của nó ngước lên nhìn thẳng vào tôi, giọng rít the thé lại vang lên trong tâm khảm:

"Kẻ đến trước... đã nát thịt tan xương... Vàng ròng vẫn còn đó... Đất sâu đang đợi... Đợi người mang xẻng..."

Tôi siết chặt chiếc nhíp sắt trong tay cho đến khi các khớp ngón tay trắng bệch. Câu nói của Hôi Tiên quá rõ ràng. Dưới hầm mộ cổ kia không chỉ có vàng ròng nghìn năm và cơ quan bẫy sập, mà ngay trong đêm nay, đã có một toán người khác lần mò tới đó và bỏ mạng làm mồi cho thứ bóng tối bên dưới. Miếng ngọc bội vỡ này là tín vật của kẻ chết oan, bị con chuột tha về như một lời cảnh báo, hoặc cũng có thể là một mồi nhử chết người.

Tứ Hải nhìn chằm chằm vào mẩu ngọc bội dính máu, yết hầu gã giật liên hồi. Lòng tham lam và nỗi sợ hãi giằng xé dữ dội trên khuôn mặt non choẹt của gã.

"Có kẻ phỗng tay trên chúng ta?" Gã nghiến răng, giọng căm phẫn. "Là đám phỉ của Thổ phỉ Đèo Gió, hay là lũ người dưới xuôi mò lên? Chúng nó biết vị trí ngôi mộ từ đâu?"

"Kẻ nào đi trước không quan trọng nữa," tôi ngắt lời gã, giọng đanh lại như thép. "Quan trọng là chúng nó đã chết. Cơ quan dưới ngôi mộ đó đủ mạnh để nghiền nát những kẻ vội vã. Chú mày có dám xuống không, Tứ Hải?"

Tứ Hải nhìn tôi, rồi lại nhìn sang mẩu ngọc bội dính máu tươi ròng rã trên bàn. Đôi mắt ti hí của gã lóe lên sự liều lĩnh tột cùng của một kẻ chuyên đùa giỡn với cái chết để kiếm chác từng đồng bạc vụn: "Chết thì đã sao? Dưới đó có vàng ròng đúc cột! Đời thằng thợ khóa như tôi sống chui rúc nơi biên ải này cũng chẳng thọ hơn con chó rách. Đi! Phải đi trước khi trời sáng!"

Tôi quay sang nhìn Lão Bát. Ông lão vẫn ngồi bất động như một tảng đá xám xịt giữa căn chòi mục nát, tràng hạt trong tay lão đã ngừng quay từ lúc nào. Đôi môi mỏng dính của lão mím chặt lại, vẻ mặt nghiêm trọng lạ thường.

"Thu dọn đồ nghề," tôi ra lệnh, với tay kéo chiếc bao tải đựng xẻng Lạc Dương, móc sắt và dây thừng đặt dưới gầm bàn lên. "Trước khi bước chân vào cửa mộ, chúng ta phải biết rõ phía dưới là mả của ai, và thứ gì đã uống cạn máu của kẻ cầm miếng ngọc này."

Lão Bát chậm rãi thò tay vào bọc áo chàm, rút ra một chiếc túi da thú đen nhánh đã sờn rách góc mép. Chiếc túi chứa những dụng cụ bói toán cổ xưa truyền đời của môn phái lão.

"Khoan đã Lão Tam," giọng Lão Bát trầm thấp vang lên, át cả tiếng gió rít qua khe nứa. "Máu người sống dính trên ngọc cổ là điềm huyết hung đại kỵ. Để lão xem thử quẻ này, xem mảnh đất biên ải nghìn năm này có mở đường cho bốn cái bóng chúng ta quay về hay không."

Hôi Tiên khẽ rụt đầu lại vào trong đẫy vải đỏ, đôi mắt đỏ ngầu vẫn trừng trừng nhìn vào chiếc mai rùa cổ quái mà Lão Bát vừa rút ra khỏi túi da, phát ra một chuỗi tiếng rít the thé ghê rợn như một điệu cười châm chọc giữa đêm đen.

Chương khác

Xem thêm