Hôi Tiên Tầm Thương - Chương 4: Thạch Môn Trấn Mộ
Lưỡi rựa trong tay tôi phạt đứt từng chùm rễ đa to bằng bắp tay người lớn, nhựa cây rỉ ra đen ngòm, hôi tanh như máu ươn. Mỗi nhát chém giáng xuống, lớp…
Nội dung chương
Lưỡi rựa trong tay tôi phạt đứt từng chùm rễ đa to bằng bắp tay người lớn, nhựa cây rỉ ra đen ngòm, hôi tanh như máu ươn. Mỗi nhát chém giáng xuống, lớp dây leo chằng chịt lại rụng lả tả, để lộ dần ra khối đá xanh khổng lồ chôn sâu trong lòng vách núi. Bóng tối dưới vòm hang đặc quánh, nuốt chửng thứ ánh sáng vàng vọt phát ra từ hai chiếc đèn bão treo lủng lẳng bên vách đá.
Gió từ cửa hang phía sau lưng thốc vào từng cơn buốt lạnh, nhưng càng tiến lại gần phiến thạch, luồng khí tức phả ra lại càng khô khốc và nồng nặc mùi khoáng chất. Đó là thứ mùi hăng hắc lợm giọng của thạch tín hòa lẫn lưu huỳnh, thứ độc chất mà thợ xây lăng tẩm thời xưa thường quét đẫm lên gạch đá để xua đuổi trùng bọ đào bới và giết chết bất cứ kẻ trộm mộ nào hít phải hơi độc ngàn năm.
Lão Bát dừng bước ở khoảng cách chừng bảy bước chân. Lão tháo chiếc kính đen cài bên vành tai, đưa ống tay áo chàm lên lau qua hai tròng mắt đục ngầu, chiếc mũi khoằm chun lại hít hà liên tục. Lão lục trong đãy da đeo bên sườn, lôi ra ba mảnh vải xô thô ráp đã tẩm sẵn dấm thanh trộn bột hùng hoàng nồng nặc:
- Độc khí bốc lên từ kẽ đá. Thạch tín ngâm chu sa, hít sâu ba hơi là lục phủ ngũ tạng nát nhừ như cháo. Mau bịt mũi lại!
Tôi nhận lấy một mảnh vải, buộc chặt sau gáy. Mùi dấm chua gắt lập tức xộc thẳng lên đại não, át đi phần nào vị tanh ngọt lợm giọng đang bám lấy cuống họng. Tứ Hải cũng vội vàng quấn mảnh vải quanh miệng, nhưng đôi mắt hẹp dài của gã chẳng thèm đoái hoài gì đến lời cảnh báo của Lão Bát. Hai con ngươi gã sáng rực lên, ghim chặt vào bề mặt nhẵn bóng của cánh cửa đá sừng sững.
- Cửa lớn thế này, bên trong ắt hẳn là mộ phần của vương hầu khanh tướng! - Tứ Hải nuốt nước bọt ừng ực, giọng nghẹt lại sau lớp vải xô. - Tam gia, phen này bọn mình trúng đậm rồi! Cửa đá thời Tiền Lê hay Lý Trần đây? Nhìn lớp hoa văn chạm nổi kìa!
Tôi giơ cao cây đuốc dầu thông vừa châm lửa, hất mạnh tàn than đỏ rực bay tung tóe. Ngọn lửa bùng lên rừng rực, xua tan lớp bóng tối ẩm mốc, soi rọi toàn bộ diện mạo của Thạch Môn Trấn Mộ.
Tấm cự thạch cao hơn hai trượng, rộng chừng một trượng rưỡi, được đẽo gọt từ một khối đá thanh nguyên vẹn không hề có vết ghép nối. Rìa ngoài của phiến thạch áp sát vào vách hang đá vôi tự nhiên khít khao đến mức ngay cả một lưỡi dao cạo mỏng dính cũng khó lòng lách qua. Giữa thân cửa, người xưa kỳ công tạc một phù điêu rồng cuộn uốn lượn giữa những đám mây lửa, nhưng hình tượng con rồng này quái dị đến rợn người: thân hình gầy guộc khẳng khiu, vuốt sắc quặp chặt lấy một chiếc đầu lâu người, miệng há hốc ngậm một viên đá tròn đã bị đục mất một nửa.
Bên dưới bức phù điêu rồng cuộn là hai hàng chữ triện khắc chìm, nét chữ vuông vức, sâu hoắm vào thớ đá. Tôi ghé sát ngọn đuốc, dùng đầu ngón tay dính đầy mồ hôi cạo đi lớp rêu phong bám trên mặt chữ:
- "Sinh nhân nhập mộ, cốt nhục câu tiêu. Hậu thế thiện khai, cửu tộc diệt tuyệt." - Tôi trầm giọng dịch từng chữ. Kẻ sống bước vào mộ, xương thịt tan rữa. Đời sau tự tiện mở cửa, chín họ diệt vong.
Tứ Hải nghe xong liền bật cười khẩy, tiếng cười the thé đầy vẻ bất kính:
- Mấy lão thợ hồ cổ đại lúc nào chả khắc mấy câu dọa trẻ con này. Nếu sợ chết thì bọn mình đã ở nhà ôm vợ cày ruộng, việc đéo gì phải mò lên tận cái xó rừng rú này! Cứ để tôi xem cái ổ khóa này cứng đến cỡ nào!
Nói đoạn, gã thả chiếc ba lô cói xuống đất nghe một tiếng "uỵch" nặng nề. Tứ Hải quỳ một chân xuống nền hang, mở toang nắp túi, lôi ra bộ đồ nghề gia truyền của giới thợ khóa chốn biên thùy. Hàng chục thanh móc sắt dài ngắn khác nhau sáng loáng ánh thép nguội, những chiếc nêm bằng đồng thau, búa con cán ngắn, cùng một chiếc ống nghe bằng đồng chế tác tinh xảo hình chiếc tù và nằm ngay ngắn trên tấm vải nỉ đen.
Trong lúc Tứ Hải lúi húi chuẩn bị đồ nghề, Lão Bát lại lùi thêm một bước về phía sau. Lão không nhìn cánh cửa đá, mà ngước đầu hướng về phía vòm hang cao vút nơi những chiếc rễ cây đa rủ xuống như những sợi thòng lọng lơ lửng. Tay lão mân mê chuỗi tràng hạt bằng gỗ dâu rừng, môi mấp máy đọc những câu chú ngữ chấn sát trầm đục:
- Nam mô A Di Đà Phật... Đất có thần, sông có bễ, mồ mả có chúa tể... Oan hồn uổng tử, chớ có quấy rầy... Tam gia, lão thấy khí đen tụ lại trên trán cửa không tan. Đây là thế đất "Ngọa Hổ Hàm Thi", thạch môn này dùng để nhốt thứ dữ bên trong, chứ đâu nhằm ngăn người ngoài bước vào.
Hôi Tiên nằm gọn trong đẫy vải trước ngực tôi khẽ ngọ nguậy. Nó thò cái đầu xám xịt ra ngoài, đôi mắt đỏ ngầu lóe lên những tia sáng lạnh lẽo. Nó dùng chiếc móng vuốt sắc nhọn cào nhẹ vào lớp vải áo chàm của tôi, giọng rít the thé truyền thẳng vào màng nhĩ:
- Đừng nghe lão già mù lòa sủa bậy... Đằng sau cửa đá là điện thờ bằng đá cẩm thạch... Vàng thoi xếp thành bậc thang... Ngươi mà chần chừ, khí độc tràn ra ngoài hang, lúc đó có muốn vào cũng chẳng kịp...
Tôi siết chặt quai đẫy vải, ép con chuột lùi sâu vào trong bóng tối:
- Câm mồm lại. Để Tứ Hải làm việc.
Tứ Hải cầm lấy chiếc xẻng gấp bằng thép, gạt bỏ lớp lá mục và đất cát đóng dày dưới chân thạch môn để tìm điểm tựa đặt kích đồng.
Lưỡi xẻng cắm phập xuống nền đất ẩm, phát ra một âm thanh giòn rụm rất lạ, nghe lạo xạo như thể vừa nghiền nát một đống vỏ trứng khô.
- Cái quái gì thế này? - Tứ Hải lầm bầm, tay giật mạnh cán xẻng lên.
Một mảng mùn đen bị lật tung. Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đuốc, thứ phơi bày ra dưới lưỡi thép làm cả ba chúng tôi đồng thời sững sờ.
Dưới chân thạch môn không hề có cuội sỏi hay đất đá tự nhiên. Toàn bộ lớp nền dày tới nửa thước trải dài dọc theo khe cửa ngập ngụa hàng vạn bộ xương chuột khô khốc.
Những khúc xương sườn bé tí xíu trắng bệch nằm ken đặc vào nhau, tạo thành một tấm thảm xương cốt xốp xộp trải dài suốt bề ngang của lối vào. Điều quái đản tột cùng nằm ở tư thế chết của chúng: tất cả những cái sọ chuột bé bằng ngón chân cái đều bị bẻ gãy gập ngược về phía sau một góc vuông vức. Những chiếc cổ gãy trơ xương cắm ngập xuống đất, nhưng hốc mắt đen ngòm của hàng vạn cái đầu lâu gặm nhấm ấy lại đồng loạt ngửa lên, chầu mặt thẳng tắp vào khe hở nhỏ hẹp nằm dưới chân phiến cự thạch.
Tứ Hải rùng mình đánh thót một cái, vội vàng rút tay lại như vừa chạm phải than hồng. Gã giương mắt nhìn đống xương tàn dưới chân, miệng lắp bắp:
- Chuột... sao lại toàn xương chuột thế này? Con nào con nấy đều bị bẻ cổ... Ai rảnh rỗi mà đi giết ngàn vạn con chuột rồi xếp hàng ở đây?
Tôi ngồi thụp xuống, rút con dao găm bên hông gạt nhẹ một góc lớp hài cốt. Xương khô giòn tan, vỡ vụn dưới sức nặng của lưỡi thép. Nhìn độ mủn và màu vàng ố của lớp xương nằm sâu bên dưới, bãi tha ma tí hon này đã tồn tại qua hàng trăm năm. Từng lứa, từng đàn chuột qua nhiều thế hệ dường như đã tự mò đến đây, chui rúc vào chân cánh cửa đá này rồi chết gục trong cùng một tư thế gãy cổ rùng rợn.
- Chúng nó không phải bị người ta giết, - Tôi trầm giọng, ngón tay khẽ miết lên một chiếc sọ chuột còn nguyên vẹn hai chiếc răng cửa nhọn hoắt - Mà là bị một thứ lực lượng vô hình bẻ gãy đốt sống cổ ngay khi vừa chạm mõm vào khe cửa đá.
Lão Bát đứng phía sau thở dài một tiếng sầu não:
- Huyết tế... Đây là vạn thử hiến linh. Loài gặm nhấm tính vốn tham lam, đánh hơi thấy mùi đồ ăn hay châu báu là cắm đầu lao tới. Nhưng cửa địa ngục đâu dễ bước qua. Chạm vào cơ quan trấn yểm, sét đánh ngang tai, gãy xương nát thịt...
Hôi Tiên trong túi áo tôi bỗng nhiên run rẩy kịch liệt. Khác hẳn với vẻ kiêu ngạo thường ngày, nó co rúm toàn bộ thân hình to bằng con mèo nhỏ lại, hai chân trước ôm chặt lấy mũi, miệng phát ra những tiếng "khẹc khẹc" đứt quãng đầy vẻ căm phẫn và sợ hãi. Bộ lông xám bạc của nó dựng đứng lên, đôi mắt đỏ rực nhìn trừng trừng vào khe hở đen ngòm dưới đáy thạch môn.
- Tứ Hải, - Tôi đứng dậy, giẫm nát một mảng xương khô dưới đế ủng - Đừng bận tâm đến mấy thứ xương xẩu này nữa. Tìm tim trục cơ quan đi. Mày có nửa canh giờ để mở cái cửa này ra. Nếu không mở được, quay đầu về ngay lập tức.
Nghe tôi nhắc đến chuyện mở cửa, bản tính hiếu thắng và lòng tham của Tứ Hải lập tức lấn át nỗi kinh sợ ban nãy. Gã nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống đống xương chuột, nghiến răng chửi đổng một câu rồi xốc lại tinh thần:
- Tam gia cứ yên tâm! Trên đời này chưa có cái khóa đá nào làm khó được Tứ Hải này cả!
Gã lấy chiếc ống nghe bằng đồng thau áp chặt vào khe nứt giữa hai mép đá, một tay cầm thanh móc sắt dài ba thước, uốn cong phần đầu thành một chiếc mỏ quạ tí hon. Tứ Hải nhắm nghiền mắt lại, toàn bộ sự tập trung dồn hết vào đôi tai và đầu ngón tay đang run rẩy điều khiển thanh thép luồn sâu vào lòng phiến cự thạch.
Không gian xung quanh chìm vào một sự im lặng chết chóc. Chỉ còn tiếng đuốc dầu thông cháy lách tách phả ra mùi khói khét lẹt và tiếng gió rít qua khe nứt trên vòm hang cao.
Tứ Hải nín thở. Đầu ngón tay gã khẽ xoay nhẹ thanh móc sắt.
Từ sâu bên trong lòng phiến thạch nghìn cân, một chuỗi âm thanh kim loại va chạm rất nhỏ vọng ra qua ống nghe: "Cạch... cạch... roọc..."
- Bắt được tim trục rồi! - Tứ Hải reo lên khe khẽ, khóe môi nhếch lên một nụ cười đắc ý. - Cửa này dùng hệ thống "Thiên Cân Áp Đỉnh", bên trong có hai thanh xà bằng đồng đúc ngậm chặt vào ngàm đá ngầm dưới đất. Phía trên đỉnh cửa treo bốn quả chùy sắt đối trọng. Muốn mở cửa, phải gạt ngã hai viên bi sắt chốt hãm ở góc trái để giải phóng lực ép của quả chùy!
Gã rút thanh móc thứ nhất ra, cắm tiếp một thanh thép dẹp có răng cưa vào khe hở. Tứ Hải dùng chiếc búa con gõ nhẹ từng nhịp "cốc, cốc" vào chuôi thép để đẩy lẫy ngầm vào đúng khớp rãnh.
Gương mặt non choẹt của gã thợ khóa bắt đầu bóng nhẫy mồ hôi. Từng giọt mồ hôi túa ra từ trán, chảy dài xuống thái dương, nhỏ tong tỏng xuống lớp xương chuột trắng hếu dưới chân. Gã cắn chặt môi đến rớm máu, hai cánh tay gồng lên nổi rõ từng đường gân xanh ngoằn ngoèo.
"Lách cách..."
Một tiếng động khô khốc vang lên từ vách đá bên trái. Viên bi sắt chốt hãm thứ nhất đã rơi vào rãnh thoát.
- Được một viên rồi! - Tứ Hải thở hắt ra một hơi dài, lau vội mồ hôi trên trán vào bắp tay. - Còn một viên nữa ở ngàm đáy... Chỉ cần khều trúng cái lẫy phụ...
Gã lại luồn thanh móc sâu hơn vào lòng đất, hướng thẳng xuống vị trí ngập ngụa xương cốt.
Nhưng ngay khi thanh móc sắt vừa chạm tới độ sâu chừng hai thước dưới lòng thạch môn, bàn tay Tứ Hải đột nhiên khựng lại. Nụ cười vừa hé nở trên môi gã lập tức đông cứng.
Đôi lông mày gã nhíu chặt lại, ngón tay run lên bần bật:
- Sao... sao lại thế này?
- Có chuyện gì? - Tôi bước tới một bước, bàn tay vô thức đặt lên báng khẩu súng lục bên hông.
Tứ Hải không trả lời ngay. Gã ghé sát tai vào ống đồng, tay kia ra sức vặn xoắn thanh móc thép, nhưng thanh kim loại dường như đã bị một thứ gì đó kẹp chặt cứng, không thể nhúc nhích dù chỉ nửa phân.
"Keng!"
Một tiếng gãy sắc lạnh vang lên từ trong kẽ đá.
Đầu móc thép chịu lực quá tải đã bị bẻ gãy gập làm đôi. Tứ Hải lảo đảo ngã ngồi bệt xuống đống xương chuột, hai mắt trợn trừng trừng nhìn vào đoạn thép cụt lủn trong tay mình, mồ hôi vã ra như tắm làm trôi đi cả lớp muội than trên mặt.
- Hỏng rồi... - Gã lắp bắp, giọng run rẩy đến thảm hại - Không phải là chốt hãm thông thường... Đây là "Khóa Tử Thần"...
Lão Bát chống gậy bước lên, chiếc gậy tre gõ cồm cộp vào vách đá:
- Tử tỏa? Kẻ xây mộ đã rót nước chì nóng chảy bịt kín tim trục cơ quan rồi sao?
- Tàn độc hơn thế nhiều! - Tứ Hải ôm đầu, giọng nghẹn lại vì uất ức và bất lực - Chốt ngầm bằng sắt nguyên khối to bằng bắp chân, nhưng đầu ngàm khóa đã bị người xưa dùng búa đập tòe loe thành một khối chết ngậm chặt vào lòng đất! Bọn họ căn bản không hề để lại bất kỳ đường sống nào để tra chìa hay dùng móc gẩy! Cửa này... một khi đã hạ xuống nghìn năm trước là vĩnh viễn khóa chết! Trừ phi dùng mười tạ thuốc nổ phá nát cả quả núi này, bằng không sức người đừng hòng làm nó suy chuyển một tấc!
Không khí trong vòm hang bỗng chốc trở nên ngột ngạt đến nghẹt thở.
Toàn bộ hy vọng về một chuyến đào báu êm thấm vừa bị dập tắt không thương tiếc trước cánh cửa đá nghìn cân sừng sững trơ trơ. Khí độc thạch tín từ kẽ đá vẫn rỉ ra từng đợt, bám vào mắt cay xè. Ba chúng tôi đứng chôn chân giữa bãi tha ma xương chuột, trước mặt là ngõ cụt tăm tối, sau lưng là Rừng Ma Đèo Gió mù sương.
Giữa lúc sự bế tắc và tuyệt vọng đang bao trùm lấy tất cả, một tiếng rít the thé, nhọn hoắt đột ngột cất lên từ trước ngực tôi.
Hôi Tiên chầm chậm trèo ra khỏi đẫy vải. Nó đứng thẳng trên hai chân sau ngay trên bờ vai tôi, chiếc đuôi trụi lông dài ngoằng quất mạnh vào không khí. Đôi mắt đỏ rực như hai hòn than cháy ngùn ngụt của nó nhìn chằm chằm vào khoảng tối tăm dưới chân Thạch Môn, chiếc mũi hếch lên, để lộ ra hai chiếc răng cửa vàng ố dài bằng ngón tay trỏ, sắc nhọn như hai mũi dùi thép:
- Khóa chết đối với người phàm... nhưng với Tiên gia... sắt thép cũng chỉ giòn như củ cải khô...
Nó quay ngoắt cái đầu xám xịt lại, dí sát chiếc mõm ươn ướt tanh nồng vào tai tôi, giọng rít lên đầy ma mị:
- Tam gia... Có muốn phá chốt ngầm không? Đem vàng ra đây... Một lạng vàng đổi một ngón sắt... Khế ước bằng vàng... Mau!