Hôi Tiên Tầm Thương - Chương 2: Quẻ Bói Huyết Hung
Tiếng mưa gõ dồn dập trên mái nứa mục nát tạo thành một chuỗi âm thanh nhức óc. Gió từ đỉnh Đèo Gió thốc qua các khe vách hở, cuốn theo hơi lạnh cắt da…
Nội dung chương
Tiếng mưa gõ dồn dập trên mái nứa mục nát tạo thành một chuỗi âm thanh nhức óc. Gió từ đỉnh Đèo Gió thốc qua các khe vách hở, cuốn theo hơi lạnh cắt da thịt của vùng biên ải và mùi tanh nồng từ miếng ngọc bội vỡ còn rỉ máu tươi trên mặt bàn gỗ.
Lão Bát không nói thêm lời nào. Lão đặt chiếc túi da thú đen nhánh xuống cạnh đĩa đèn dầu hỏa, rồi chậm rãi vươn hai ngón tay khẳng khiu cởi gọng kính đen tròn trượt khỏi vành tai. Khi lớp thủy tinh tối màu hạ xuống, một vẻ mặt dữ tợn và thê lương bày ra dưới ánh lửa bập bùng. Cặp mắt của lão không có con ngươi đen, hai tròng mắt trắng dã, đục ngầu như mắt cá ươn, phủ một lớp màng xám xịt do di chứng của những năm tháng hít phải khí độc dưới hầm sâu. Quanh khóe mắt là những vết rạch nông sâu ngoằn ngoèo, dấu tích của một lần bị cơ quan bẫy cát bắn nát mặt từ ba mươi năm trước.
Người đời nhìn vào tưởng lão mù, nhưng tôi biết đôi mắt ấy nhìn thấu những thứ bóng tối mà mắt thường không bắt được. Lão thuộc dòng dõi bói tướng đất Cao Bằng, cả đời chỉ sống bằng cách dọ dẫm đường vào cõi chết cho phường đào trộm cổ vật.
"Lửa than," giọng Lão Bát khàn đặc như tiếng hai hòn đá mài vào nhau.
Tứ Hải đứng tựa lưng vào cột chòi, hai tay ôm khư khư chiếc xà beng thép bọc vải gai, vẻ mặt bồn chồn lộ rõ. Gã đá mũi giày vào chiếc lò đất nung dưới gầm bàn, gắt gỏng: "Thầy già vẽ chuyện quá. Dưới đất có ngọc, có vàng, có cạm bẫy thì phá, có thây ma thì chém. Đêm hôm biên thùy sương xuống ngập gối rồi, chần chừ lũ phỉ Đèo Gió nó vét sạch đáy hầm thì ngồi đấy mà húp nước cặn."
"Câm mồm," tôi gằn giọng, bàn tay phải ấn chặt lên bao da khẩu súng lục ổ quay đeo bên hông. Tiếng chốt kim loại va vào nhau khô khốc làm Tứ Hải giật mình im bặt. Tôi quắc mắt nhìn gã thợ khóa trẻ tuổi: "Để Lão Bát làm việc. Chú mày muốn chết sớm thì cứ việc vác cuốc ra rừng một mình, tao không cản."
Tứ Hải hậm hực nhổ một bãi nước bọt xuống nền đất ẩm, lùi lại nửa bước nhưng mắt vẫn dán chặt vào mẩu ngọc bội dính máu. Ánh sáng lập lòe từ ngọn đèn dầu hắt lên gương mặt hốc hác của gã những mảng sáng tối chập chờn, phơi bày trần trụi sự thèm khát điên cuồng đối với thứ tài bảo nghìn năm dưới lòng đất.
Lão Bát lôi từ trong túi da ra một chiếc mai rùa màu nâu sẫm, to bằng bàn tay xòe. Chiếc mai rùa này không phẳng phiu mà gồ ghề từng ngấn xương nổi rõ, mép viền mòn vẹt vì đã qua tay nhiều đời thầy bói chốn giang hồ. Lão dùng một chiếc kẹp đồng gắp miếng than đượm đỏ từ lò đất nung đặt lên một chiếc đĩa sành, sau đó lấy con dao nhỏ rạch nhẹ đầu ngón tay trỏ của chính mình.
Một giọt máu sẫm màu rỉ ra, lão không nhỏ lên mai rùa mà quẹt thẳng vào vệt máu tươi còn ươn ướt trên mẩu ngọc bội vỡ của Hôi Tiên mang về. Hai dòng máu, một già cỗi héo hon, một tươi rói nóng hổi, quyện vào nhau sủi bọt lăn tăn. Lão Bát lẩm bẩm những câu chú ngữ bằng thứ tiếng thổ âm biên giới cổ xưa, ngón tay bôi lớp máu hỗn hợp ấy lên phần bụng dưới của mai rùa, rồi ghì chặt mai rùa lên hòn than đỏ rực.
Khói trắng bốc lên nghi ngút. Mùi tanh của máu người quyện với mùi mai rùa khét lẹt xộc thẳng vào mũi, tạo nên một thứ tử khí ngột ngạt bao trùm cả gian chòi rách.
Trong đẫy vải đỏ đeo trước ngực tôi, con chuột cống lông xám Hôi Tiên bỗng cựa mình dữ dội. Chiếc đầu nhọn hoắt của nó thò ra ngoài, ria mép rung giật liên hồi. Đôi mắt đỏ như hai hạt hồng ngọc của nó không chớp, nhìn trừng trừng vào ngọn khói mỏng đang uốn lượn quanh chiếc mai rùa. Tiếng rít the thé của nó lại vang lên bên màng nhĩ tôi:
"Xương khô... cháy rồi... Nó giận... nó khát..."
Tôi nín thở, ngón tay cái miết nhẹ lên vết sẹo dài chạy dọc má trái. Cảm giác lạnh buốt chạy dọc sống lưng. Mỗi lần Hôi Tiên cất tiếng với cái giọng nửa người nửa quỷ này, bóng tối dưới lòng đất lại hiện về rõ mồn một. Mười năm trước, khi tôi kéo nó ra từ chiếc quách đá mục nát ở mỏm đá Hà Giang, nó cũng đã rít lên những âm thanh ma quái như thế này trước khi trần hầm sụp xuống chôn sống bảy tên đồng bọn của tôi.
Mai rùa trên đĩa sành bắt đầu phát ra những tiếng nổ nhỏ lách tách.
Lão Bát ngồi bất động, đôi mắt mù đục ngầu trợn trừng hướng về phía trước, hai bờ môi mỏng dính run rẩy theo từng nhịp nổ của xương rùa. Lão ghé sát tai vào đĩa than, lắng nghe từng âm thanh rạn nứt như đang nghe tiếng thì thầm của vong linh từ cõi u minh truyền về.
"Tách!"
Một tiếng nổ giòn vang lên, sắc nhọn xé toang không gian tĩnh mịch của căn chòi. Chiếc mai rùa cổ nứt toác làm đôi.
Lão Bát lập tức hất mai rùa ra khỏi đĩa than. Chiếc mai nóng bỏng rơi xuống mặt bàn gỗ, lão không hề sợ bỏng, vội vã đưa những ngón tay gầy gò sần sùi sờ soạng lên các đường rạn nứt vừa hình thành. Ngón tay lão lướt nhanh, rồi đột ngột khựng lại ở vị trí chính giữa mai rùa.
Gương mặt già nua như vỏ cây khô của Lão Bát giật nảy lên một cái. Cả thân hình lão run rẩy, lớp màng đục trong khóe mắt lão dại đi. Lão rụt tay lại như vừa chạm phải sắt nung đỏ, ngực phập phồng thở dốc, mồ hôi lạnh túa ra ướt đẫm hai bên thái dương bạc trắng.
"Điềm gì vậy lão già?" Tứ Hải sốt ruột bước chồm tới, chống một tay lên mép bàn. "Có thông huyệt được không? Cửa sinh nằm ở hướng nào?"
Lão Bát không trả lời Tứ Hải. Lão quay cái nhìn trắng dã hướng thẳng về phía tôi, giọng run bần bật, hơi thở đứt quãng: "Huyết... Huyết Tế Vô Sinh! Tam gia, quẻ này không thể đi!"
Tôi nhíu mày, bước lại gần bàn, cúi đầu nhìn xuống chiếc mai rùa nứt nẻ.
Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu, vết nứt chính giữa mai rùa không chạy dọc hay chạy ngang theo thớ xương thông thường. Đường nứt cong queo, vặn vẹo lại một cách quái dị, tạo thành hình thù rõ rệt của một chiếc đầu chuột nhọn hoắt đang há ngoác mồm. Đáng sợ hơn cả, lớp máu người khi nãy bị nhiệt độ của than thiêu đốt đã không cháy thành tro, mà đọng lại thành đúng ba giọt máu khô tròn trịa, nằm lọt thỏm ngay bên dưới hàm răng nứt của hình đầu chuột ấy.
Ba giọt máu, đỏ thẫm như màu mận chín, nổi bật trên nền xương cháy đen.
"Huyết Tế Vô Sinh là thế nào?" Tôi hạ giọng hỏi, từng chữ rít qua kẽ răng.
Lão Bát nuốt nước bọt cái ực, bàn tay xương xẩu nắm chặt lấy chuỗi tràng hạt gỗ mun trên ngực: "Đất sâu dưới Đèo Gió không phải lăng tẩm vương hầu bình thường. Đó là huyệt mả nghịch thiên, dùng tà thuật trấn yểm nghìn năm. Quẻ này hiện hình quỷ thử ngậm huyết. Bốn kẻ bước vào, cửa mộ sẽ đóng chặt bằng huyết chú. Phải có ba người bỏ mạng, róc thịt trả đất, cạn máu bôi tường, thì kẻ còn lại mới mong thấy được ánh mặt trời!"
Lời Lão Bát vừa dứt, cả căn chòi chìm vào một luồng không khí chết chóc. Ba giọt máu khô trên mai rùa như đang nhìn xoáy vào từng người chúng tôi. Ba mạng người để đổi lấy một mạng sống sót thoát ra ngoài. Nhóm chúng tôi vừa vặn có ba người sống và một con chuột quái dị.
Tứ Hải nghe xong thì mặt biến sắc, nhưng chỉ vài giây sau, vẻ tham lam tàn nhẫn lại lấn át nỗi kinh sợ trên nét mặt gã. Gã phá lên cười, một điệu cười gượng gạo và the thé giữa đêm mưa: "Mẹ kiếp lão già mù! Bói với chả toán! Lần nào chuẩn bị xuống huyệt lão cũng gieo ra quẻ chết quẻ hung để đòi tăng thêm phần chia chứ gì? Ba mạng người? Ở cái đất biên viễn loạn lạc này, mạng người rẻ rợn hơn cỏ rác! Lũ thổ phỉ ngoài kia ngày nào chả giết người vứt xác xuống vực. Đạo mộ mà sợ chết thì về nhà ôm váy đàn bà mà ngủ!"
Gã vỗ mạnh tay vào túi đồ nghề bên hông, tiếng kim loại lách cách va chạm: "Tôi đã chuẩn bị đủ kìm phá khóa, bột nổ Tây Dương, dây dù chịu lực. Cơ quan nghìn năm của người xưa cùng lắm cũng chỉ là bẫy tên, bẫy đá, hố chông. Cứ đúng quy củ của thợ khóa mà dò dẫm, thần phật nào giữ được chân tôi? Huống hồ..."
Gã chỉ tay vào đẫy vải đỏ trước ngực tôi, ánh mắt lóe lên tia sáng hung hãn: "Huống hồ chúng ta có Hôi Tiên! Con chuột này tìm được vàng, ngửi được đường thông gió. Có nó dẫn đường, sợ cái cứt gì quẻ bói của lão!"
Nghe Tứ Hải nhắc đến tên mình, Hôi Tiên trong đẫy vải khẽ rúc sâu hơn vào vạt áo chàm của tôi. Nhưng tôi cảm nhận được rất rõ, thân hình tròn ủng của nó đang rung lên bần bật. Đó không phải sự run rẩy vì sợ hãi. Lồng ngực nó rung từng chặp ngắn, cổ họng phát ra những tiếng lục cục khe khẽ, hệt như một kẻ đang cố nín nhịn một tràng cười khoái trá tột cùng.
Đôi mắt đỏ rực của con chuột lén nhìn qua khe vải, đảo qua mặt Tứ Hải, rồi lại lướt qua vẻ mặt tái nhợt của Lão Bát, cuối cùng dừng lại ở vết nứt hình đầu chuột ngậm ba giọt máu trên mặt bàn.
Nó đang cười. Con thú này hoàn toàn hiểu được ý nghĩa của quẻ bói.
"Câm mồm lại Tứ Hải," tôi lạnh lùng lên tiếng, cắt đứt tràng lảm nhảm của gã thợ khóa. Tôi quay sang nhìn Lão Bát: "Lão Bát, từ trước tới nay lão theo tôi qua bao nhiêu ngôi mộ rồi?"
Lão Bát thở dài, chậm rãi đeo lại cặp kính đen lên mắt, che đi đôi tròng trắng ghê rợn: "Bảy năm, mười hai ngôi mộ lớn nhỏ dọc dải biên thùy này. Nhờ Tam gia cẩn trọng, lão già này mới giữ được cái mạng tàn đến hôm nay. Nhưng lần này khác. Khí đất nghịch chuyển, điềm hung sát lộ liễu thế này, lão chưa từng thấy bao giờ. Tam gia, ngọc có thể không lấy, vàng có thể không đào, nhưng bước chân vào hầm mộ đó đêm nay, cái giá phải trả là mạng người."
"Mạng người..." Tôi lặp lại hai chữ đó, một nụ cười nhạt nở trên môi, kéo căng vết sẹo dài trên má. Vết sẹo co giật mang lại một cảm giác đau râm ran quen thuộc. "Lão Bát à, anh em chúng ta trôi dạt lên chốn rừng thiêng nước độc này, sống chui lủi dưới bóng tối của súng đạn và quan binh, có ngày nào không cược bằng mạng sống? Đám phỉ Đèo Gió đang lùng sục khắp nơi. Quan quân đồn trú bên kia sông cũng đang rục rịch càn quét. Nếu không kiếm được một vố lớn để đổi đời, sớm muộn gì ba cái mạng này cũng bị vứt cho kền kền rỉa thịt bên bờ suối."
Tôi đưa tay cầm lấy mẩu ngọc bội dính máu trên bàn, bóp chặt trong lòng bàn tay. Cạnh ngọc sắc nhọn cứa vào da thịt tôi buốt nhói, nhưng luồng hơi ấm kỳ lạ từ viên ngọc nghìn năm truyền qua da thịt lại khiến máu trong người tôi sôi sục.
"Huống chi," tôi nhìn thẳng vào tròng kính đen của Lão Bát, giọng đanh lại, "kẻ đến trước đã chết dưới đó. Máu của hắn còn mới. Nghĩa là cơ quan tầng ngoài đã bị kích hoạt. Đó là cơ hội duy nhất của chúng ta. Chờ đến ngày mai, tin tức lộ ra, cả vùng biên giới này sẽ đổ xô về Đèo Gió. Lúc đó muốn vào cũng không còn phần."
Tứ Hải nghe tôi nói thế thì vỗ đùi đánh đét: "Tam gia nói chí phải! Có chết cũng phải chết trên đống vàng! Lão Bát, lão già rồi nên nhát gan. Cứ đi theo sau tôi với Tam gia, chia phần lão vẫn có đủ một góc, việc gì phải sợ!"
Lão Bát cúi đầu, hai bàn tay run rẩy mân mê chuỗi tràng hạt. Lão biết một khi tôi đã quyết định thì không gì lay chuyển nổi. Trong giới đạo mộ vùng biên viễn, Lão Tam này chưa bao giờ quay đầu trước một cửa hầm đã mở. Sự cố chấp và liều mạng ấy đã giúp chúng tôi sống sót qua nhiều tử địa, nhưng cũng chính nó là thứ xiềng xích kéo chúng tôi ngày càng lún sâu xuống bùn lầy của tội lỗi.
"Nếu Tam gia đã quyết..." Lão Bát thì thầm, giọng chìm nghỉm giữa tiếng gió gầm rú bên ngoài. "Lão chỉ xin một điều. Xuống dưới đó, bất kể nhìn thấy thứ gì, nghe thấy thứ gì, tuyệt đối không được tin lời kẻ thứ tư."
Tôi khẽ giật mình. Kẻ thứ tư?
Ở đây chỉ có ba con người. Kẻ thứ tư mà Lão Bát ám chỉ, chỉ có thể là con chuột lông xám đang nằm gọn trong đẫy vải trước ngực tôi.
Hôi Tiên dường như nghe thấy lời Lão Bát. Chiếc mũi nhọn của nó khẽ hếch lên, ria mép giật giật, phát ra một tiếng "khẹc" khô khốc trong cổ họng, nghe như một tiếng hắt hơi khinh miệt của một bậc bề trên đối với lời xàm ngôn của kẻ phàm phu.
"Được rồi," tôi gạt tàn than trên bàn xuống đất, lấy tấm vải dầu bọc kín mẩu ngọc vỡ rồi nhét vào túi áo trong. "Thu dọn đồ đạc. Kiểm tra súng đạn, dây thừng, đèn bão. Đúng giờ Tý chúng ta xuất phát."
Tứ Hải nhanh nhảu vớ lấy chiếc ba lô cói nặng trĩu những xà beng, giũa thép, kìm cắt và những ống thuốc nổ tự chế bọc sáp ong chống ẩm. Gã thắt chặt lại thắt lưng da, nhét thêm hai con dao găm sắc lẹm vào ống ủng, miệng huýt sáo một điệu nhạc dân ca đồi núi một cách kệch cỡm để xua đi bầu không khí ngột ngạt. Lòng tham đã làm mờ mắt gã thợ khóa, biến nỗi sợ hãi về cái chết thành thứ hưng phấn điên cuồng của một con bạc khát nước.
Lão Bát lẳng lặng nhặt chiếc mai rùa đã vỡ đôi bỏ lại vào túi da thú. Lão không nhìn ba giọt máu khô nữa, nhưng trước khi cài then túi, tôi thấy ngón tay lão khẽ run lên khi chạm vào mép xương nứt hình đầu chuột. Lão với tay lấy chiếc nón mê rách đội lên đầu, khoác lên mình chiếc áo tơi bằng lá cọ đã sờn rách, cây gậy tre bịt đồng trong tay gõ nhẹ từng nhịp xuống nền đất ẩm.
Tôi bước lại góc chòi, nhấc cây súng kíp dài ba thước năm tựa vào vách nứa lên, kiểm tra lại báng súng và hạt nổ. Thuốc súng khô ráo, đạn chì đã nạp sẵn. Bên hông là khẩu súng lục ổ quay sáu viên của lính Pháp mà tôi cướp được từ năm năm trước trong một trận đụng độ ở biên giới. Những thứ vũ khí bằng sắt thép này là chỗ dựa duy nhất của tôi giữa chốn rừng sâu nước độc, nơi mà lòng dạ con người còn hiểm độc hơn cả thú dữ.
Hôi Tiên thò hẳn hai chân trước ra khỏi mép đẫy vải, bám chặt vào lớp áo chàm dày cộm của tôi. Bộ lông xám bạc của nó dựng đứng lên đón lấy luồng gió lạnh luồn qua kẽ cửa. Đôi mắt đỏ rực như hai hòn than cháy âm ỉ trong bóng tối, hướng thẳng về phía rặng núi mù sương mịt mùng ở phương Bắc.
"Vàng... sâu ba trượng... dưới chân rùa đá..." Tiếng rít the thé lại vang lên bên tai tôi, nhỏ giọt như chất độc ngấm dần vào não tủy. "Đi thôi... kẻ gác cửa... đang ngủ..."
Tôi không đáp lời nó, chỉ đưa tay ấn chặt chiếc đầu chuột lún sâu vào trong lớp vải đỏ.
Gió bấc rít lên từng hồi man dại. Mưa rừng biên ải càng lúc càng nặng hạt, quất xối xả vào những ngọn cây sau chòi, tạo thành những âm thanh rầm rì như tiếng bước chân của hàng ngàn bóng ma đang dẫm đạp trên lá mục.
Tôi vươn tay đẩy mạnh cánh cửa liếp nứa. Gió lạnh và sương mù ùa vào buồng, thổi tắt phụt ngọn đèn dầu hỏa trên bàn. Gian chòi lập tức chìm vào bóng đen thăm thẳm.
Ba bóng người lầm lũi nối đuôi nhau bước ra khỏi ngưỡng cửa, dấn thân vào màn sương chướng dày đặc của đêm tối, hướng thẳng về phía Rừng Ma Đèo Gió, nơi huyệt mộ nghìn năm đang há miệng chờ đợi những kẻ nộp mạng bằng xương thịt người sống.