Hôi Tiên Tầm Thương - Chương 3: Rừng Ma Đèo Gió

Gió lùa qua khe núi Đèo Gió nghe rít lên từng hồi rin rít, nhọn hoắt hệt như tiếng dùi sắt cạo trên mai rùa. Tôi bước mũi chân trước xuống lớp lá mục…

Nội dung chương

Gió lùa qua khe núi Đèo Gió nghe rít lên từng hồi rin rít, nhọn hoắt hệt như tiếng dùi sắt cạo trên mai rùa.

Tôi bước mũi chân trước xuống lớp lá mục ngập quá nửa bắp chân, cảm nhận rõ rệt từng thớ bùn nhão nhoét lạnh ngắt luồn qua mép ủng da. Sương chướng miền biên viễn vào giờ Tý đặc quánh lại thành từng mảng xám đục, lơ lửng ngang tầm ngực người lớn, mang theo mùi nồng hắc của xác thực vật thối rữa cùng hơi ẩm buốt da buốt thịt. Rừng Ma nằm gọn trong một lòng chảo sụt lún tự nhiên, tách biệt hẳn với những nẻo đường mòn phu phen hay đám người buôn thuốc phiện thường qua lại. Nơi đây cây cối mọc đan cài chằng chịt, thân cây dẻ gai cao vút phủ đầy rêu phong mốc meo, chốc chốc lại buông thõng những chùm dây leo chằng chịt rủ xuống hệt như những sợi dây thòng lọng giăng sẵn giữa trời đêm.

Trên vai phải tôi, móng vuốt nhọn hoắt của Hôi Tiên cắm chặt qua lớp áo chàm dày cộm. Khối lượng nặng trịch cỡ con mèo rừng của nó đè nặng lên từng bước chân, nhưng lúc này tôi cần cái mũi thính của nó hơn bất cứ thứ la bàn chỉ hướng nào của bọn Tây dương. Bộ lông xám bạc của con vật xù tung lên chống lại luồng hơi lạnh buốt giá. Chiếc mũi hồng hào bóng nhẫy của nó liên tục giật giật, khịt khịt từng tiếng khô khốc vào thinh không, đón lấy những mùi vị ẩm mốc bốc lên từ lòng đất sâu hoắm.

"Đá gãy... tránh sang bên trái ba bước..." Giọng rít the thé của Hôi Tiên rót thẳng vào màng nhĩ tôi, the thé như tiếng móng tay miết trên mảnh sứ vụn. "Chỗ trũng có hầm cọc... găm thủng ruột gan..."

Tôi vung cánh tay trái ra hiệu dừng lại. Bàn tay tôi nắm chặt lấy nòng khẩu súng kíp dài ba thước năm, ngón trỏ đặt hờ nơi cò súng. Phía sau tôi, Tứ Hải thở hồng hộc, tấm lưng gã còng rạp xuống dưới sức nặng của chiếc ba lô cói đựng đầy đồ nghề đục đá, xà beng và thuốc nổ. Mặt gã thợ khóa nhễ nhại mồ hôi dù gió rừng buốt thấu xương, đôi mắt ti hí đảo liên hồi vào các bụi rậm tối om xung quanh.

"Sao thế Tam gia?" Tứ Hải hạ giọng hỏi, hơi thở phả ra khói trắng mù mịt. Gã đưa bàn tay dính đầy dầu máy quệt vội sống mũi. "Mới đi được nửa dặm đường rừng mà chân tôi ríu cả lại rồi. Cứ dẫm bừa qua đám rễ cây kia cho nhanh, khéo trời sáng mất."

"Muốn chết thì cứ bước lên trước," tôi lạnh giọng đáp, đưa mũi gậy gỗ gạt đám lá mục dày cộm trước mặt sang hai bên.

Dưới lớp lá cây ẩm ướt và rêu xanh ngụy trang khéo léo lộ ra một miệng hố sụt nhân tạo rộng chừng hai sải tay. Miệng hố được che đậy bằng những cành nứa đan mắt cáo mỏng dính. Bên dưới đáy sâu hoắm chừng trượng rưỡi cắm chi chít những cọc vầu vạt nhọn hoắt, đầu cọc thâm sì lại vì đã được ngâm kỹ trong nọc rắn hổ mang cùng mủ cây sui kịch độc. Đám thổ phỉ biên giới cắm chốt quanh Đèo Gió thường xuyên bẫy những hố ngầm kiểu này để tiêu diệt bất kỳ toán người lạ nào dám bén mảng vào hang ổ của chúng. Nếu bước hụt chân xuống đó, cả thân hình sẽ bị xâu thành xâu thịt, nọc độc ngấm vào máu chỉ kịp giãy giụa chừng nửa khắc là tắt thở.

Tứ Hải nhìn thấy những mũi cọc đen ngòm nhô lên thì mặt mày tái mét. Cổ họng gã nuốt đánh ực một cái, vội vàng rụt chân lùi lại nửa bước, miệng lẩm bẩm chửi thề: "Mẹ kiếp lũ phỉ rộc... gài bẫy hiểm ác đến thế là cùng."

Phía sau cùng, Lão Bát vẫn bước đi lững thững như một cái bóng mờ. Cặp kính đen tròn xoe che kín đôi mắt lão, biến khuôn mặt nhăn nheo thành một chiếc mặt nạ gỗ vô cảm. Cây gậy tre bịt đồng trong tay lão gõ từng nhịp cộc cộc rất đều xuống mặt đất đá. Lão không nhìn xuống hố cọc, chỉ khẽ ngẩng đầu hít hà luồng chướng khí đang bảng lảng bay qua ngọn cây.

"Oan hồn chôn thây nơi này nhiều không đếm xuể," Lão Bát cất giọng khàn đục, ngón tay lần tràng hạt gỗ bồ đề phát ra những tiếng lách cách khô khốc. "Khí đất ở đây nặng nề u uất. Tam gia cẩn thận, bẫy sắt bẫy gỗ của phường thổ phỉ chẳng qua chỉ lấy mạng người xác thịt, còn bùa ngải trấn yểm của đất biên thùy mới thực sự rút cạn sinh hồn."

Tôi không đáp lời lão già, chỉ khẽ nghiêng đầu liếc nhìn con chuột xám trên vai. Hôi Tiên dường như chẳng hề bận tâm đến những hố cọc hay lời cảnh báo của Lão Bát. Cặp mắt đỏ lòm của nó lồi hẳn ra ngoài, lấp lánh thứ ánh sáng hưng phấn tột cùng. Ria mép nó rung bần bật khi hướng mõm về phía một gờ đá dốc đứng phía trước.

"Mùi vàng... nồng nặc lắm..." Hôi Tiên lại rít lên, hơi thở tanh nồng mùi rêu ẩm phả vào vành tai tôi. "Đi vòng qua gò mối đằng kia... Dưới chân dốc có bãi tha ma... Lũ người chết đói nằm đấy ba mươi năm trước... Đi xuyên qua họng bọn chúng là tới cửa đá..."

Tôi siết chặt báng súng, hạ thấp trọng tâm men theo bờ vách đá trơn tuột. Nước rỉ từ các kẽ nứt của vách đá vôi nhỏ tong tòng xuống vai áo, lạnh buốt thấu thịt. Đất dưới chân dốc bắt đầu biến đổi, không còn là lớp bùn đỏ pha cát của vùng cao nguyên nữa mà chuyển sang thứ đất đen xốp, bốc lên mùi hôi thối đặc trưng của mồ mả lâu năm bị úng ngập.

Vượt qua rặng si cổ thụ buông rễ tua tủa, cả ba chúng tôi đứng sững lại trước một khoảng đất trũng rộng lớn. Đây chính là bãi tha ma Rừng Ma khét tiếng, nơi chôn cất hàng ngàn xác chết đói trong trận dịch tễ và loạn lạc năm Giáp Ngọ mấy chục năm về trước.

Cảnh tượng bày ra trước mắt khiến sống lưng tôi lạnh toát. Hàng trăm ngôi mộ đất không bia bọc nằm san sát nhau, trải dài tít tắp vào màn sương xám xịt. Trải qua mưa rừng gió bấc quét qua năm này tháng nọ, đất trên nhiều nấm mồ đã sụt lún thành những cái hố sâu hoắm, để lộ ra những mép ván thôi mục nát xộc xệch. Rải rác khắp nơi là những thanh tre buộc bùa ngải của các thầy mo người Thổ cắm từ nhiều năm trước, nay đã mục nát, rách bươm, phất phơ trong gió lạnh như những dải vải liệm rách. Những mảnh xương trắng mục lộ cả ra ngoài mặt đất, nằm lẫn lộn giữa rễ cây rừng gồ ghề và rêu ẩm.

Không khí ngột ngạt đến mức buồng phổi như bị bóp nghẹt. Tứ Hải run rẩy thọc tay vào túi áo lục tìm gói bùa trừ tà nhét chặt vào ngực, răng gã va vào nhau lập cập: "Tam gia... chúng ta đi đường khác được không? Nhìn bãi đất này ma quái quá... nhỡ động phải trùng tang thì..."

"Không có đường khác," tôi gằn giọng, bàn tay miết mạnh lên vết sẹo dài trên má. "Đèo Gió chỉ có duy nhất con đường trũng này dẫn vào mạch ngầm của lăng mộ. Đám phỉ cắm chốt kín các đỉnh đèo, mò lên đỉnh chỉ làm bia cho súng kíp của chúng nó bắn nát đầu."

"Đi đi... lũ thịt vụn sợ cái gì..." Hôi Tiên nhảy chồm chồm trên vai tôi, cái đuôi dài thượt nhẵn thín quất mạnh vào lưng áo tôi từng chập. "Bước thẳng qua giữa bãi... đứa nào dám cản đường Tiên gia..."

Nghe giọng điệu trịch thượng quái gở của con súc sinh, Lão Bát đứng phía sau bỗng thở dài một tiếng thật sâu. Cây gậy bịt đồng của lão đâm mạnh xuống lớp đất xốp phát ra tiếng "bụp" nghẹn ngào. Lão không nói thêm lời nào, nhưng cặp kính đen vẫn hướng thẳng về phía lưng Hôi Tiên với vẻ dò xét lạnh lùng.

Tôi hít một hơi thật sâu, nén chặt nỗi ghê tởm đang cuộn lên trong dạ dày, bước thẳng vào ranh giới của bãi tha ma. Mùi tử khí nồng nặc xộc thẳng vào mũi. Mỗi bước chân đạp lên lớp đất đen đều phát ra những tiếng xì xèo kỳ dị của khí đầm lầy thoát ra khỏi lòng đất xốp.

Đi được chừng mươi trượng vào giữa bãi tha ma, một chuỗi âm thanh lạo xạo bất ngờ vang lên từ bốn phương tám hướng.

Tiếng sột soạt rợn người ấy phát ra từ dưới những nấm mồ sụt lở, từ trong những hốc ván thôi mục nát, và từ cả những bụi cây rậm rạp vây quanh thung lũng. Âm thanh mỗi lúc một dày đặc, dồn dập như tiếng hàng ngàn hạt mưa rào quất mạnh xuống thảm lá khô.

Tứ Hải hét toáng lên một tiếng thất thanh, rút phắt con dao găm dài bản bên hông ra thủ thế: "Có động! Tam gia, có thứ gì đó đang bò lên từ dưới mộ!"

Tôi lập tức kéo then súng kíp sang nấc an toàn, chĩa thẳng nòng súng về phía gò đất cao nhất trước mặt. Ánh mắt tôi quét nhanh qua các hốc tối. Dưới ánh sáng lờ mờ của màn sương chướng, lớp đất mùn của hàng trăm nấm mồ bắt đầu cựa quậy dữ dội.

Vô số những cái đầu nhọn hoắt thò ra khỏi lòng đất. Lông lá xám xịt, ướt nhẹp bùn sình, những cặp mắt đỏ lòm li ti nhấp nháy dày đặc như hàng ngàn đốm than hồng lập lòe giữa bãi tha ma. Đó là một đàn chuột hoang khổng lồ. Con nào con nấy to lớn bất thường nhờ nhiều năm ăn xác thối rỉa xương người dưới các tầng mộ ngập nước. Răng cửa của chúng dài ngoằng, vàng khè và sắc nhọn, chìa cả ra ngoài mép thịt thâm sì.

Chúng trườn ra từ các kẽ nứt mồ mả, chui qua những hốc mắt của những đầu lâu khô nằm vương vãi trên mặt đất. Chỉ trong chớp mắt, hàng ngàn, hàng vạn con chuột cống hoang dã đã lấp kín lối đi, bao vây kín mít ba người chúng tôi vào giữa một vòng tròn lông lá lúc nhúc ghê tởm. Mùi hôi tanh của loài gặm nhấm bốc lên nồng nặc, át cả mùi ẩm mốc của rừng già.

Tứ Hải hoảng loạn tột độ, cánh tay cầm dao găm run rẩy chực chém loạn xạ: "Chuột ăn thịt người! Đám chuột này thành tinh rồi! Tam gia, đốt đuốc lên! Đốt lửa đuổi chúng nó đi!"

"Đứng im! Cấm manh động!" Tôi quát khẽ, vươn tay giữ chặt lấy bả vai Tứ Hải.

Trên vai tôi, Hôi Tiên bỗng nhiên dựng đứng toàn bộ lớp lông xám bạc trên lưng. Thân hình nó phồng to lên gấp rưỡi bình thường, chiếc đuôi dài ngoẵng quất vun vút vào không khí tạo ra những tiếng gió rít nho nhỏ. Nó ngửa cổ lên trời, há to cái miệng đỏ lòm để lộ hàm răng nhọn hoắt sáng bóng, phát ra một tràng tiếng kêu the thé chói tai, rền vang khắp thung lũng hoang tàn:

"Chít... chít... khẹc...!"

Tiếng rít ấy không giống tiếng chuột thông thường. Nó mang theo một luồng uy áp nặng nề, âm u và ma quái, dội thẳng vào vách đá Đèo Gió rồi dội ngược trở lại bãi tha ma. Cùng lúc đó, một mùi hương kỳ dị tỏa ra từ tuyến xạ dưới bụng Hôi Tiên. Thứ mùi này không tanh tưởi như chuột đồng chuột cống, mà thơm nồng, ngai ngái giống mùi trầm hương trộn lẫn với bột xạ hương ngâm rượu lâu năm.

Ngay khi làn hương xạ ấy lan ra mặt đất, một biến cố quái đản lập tức diễn ra trước mắt chúng tôi.

Đàn chuột hoang đông nghẹt đang nhe răng chực lao vào cắn xé bỗng nhiên khựng lại toàn bộ. Đôi mắt đỏ ngầu của hàng ngàn con chuột hoang dại đồng loạt co rút lại. Tiếng gầm gừ lạo xạo tắt ngấm trong tích tắc.

Hàng vạn con chuột không hề bỏ chạy tán loạn, cũng không con nào dám nhúc nhích tiến thêm nửa bước. Thay vào đó, chúng từ từ hạ thấp thân mình xuống sát mặt bùn nhão. Toàn bộ đàn chuột hoang dã quay mặt về phía tôi, chuẩn xác hơn là hướng thẳng về phía con chuột xám đang ngự trị trên vai tôi.

Từng con một, từ những con chuột cống to bằng bắp chân người lớn cho đến những con chuột nhắt mới lớn, đồng loạt gập hai chân trước lại, rạp hẳn mõm dài xuống lớp đất đen nhơ nhớp. Cả đàn chuột dập đầu sát đất, run rẩy bần bật, giữ nguyên tư thế phủ phục tuyệt đối dọc theo hai bên lối đi mòn giữa bãi tha ma, tạo thành một con đường thông suốt không hề có một bóng cản trở.

Chúng đang quỳ lạy. Một đàn thú gặm nhấm hoang dại dưới mồ mả đang đồng loạt dập đầu hành lễ, nghênh đón vị chúa tể tà môn của giống loài chúng từ cõi âm trở về.

Tứ Hải há hốc mồm, chiếc dao găm cầm hờ trên tay suýt chút nữa rơi tõm xuống vũng bùn. Mắt gã trợn trừng nhìn hàng ngàn cái lưng xám xịt đang dập dềnh thở nhẹ dưới đất: "Trời đất ơi... chúng nó... chúng nó đang bái lạy..."

Lão Bát đứng sau lưng tôi khẽ siết chặt các đốt ngón tay vào chuỗi tràng hạt. Đôi môi mỏng dính của lão mím chặt lại, cơ mặt giật nhẹ từng cơn. Lão không nhìn thấy cảnh tượng bằng mắt thường, nhưng thông qua thính giác nhạy bén và luồng khí âm hàn đang ngưng đọng xung quanh, lão hoàn toàn hiểu rõ điều gì đang diễn ra.

"Yêu khí chấn nhiếp âm binh..." Lão Bát lẩm bẩm trong cổ họng, thanh âm nhỏ đến mức chỉ có tôi đứng gần mới nghe lọt. "Nó đang phô trương quyền uy trước mặt chúng ta đấy, Tam gia. Đừng để đôi mắt đỏ ấy mê hoặc."

Hôi Tiên khẽ hạ đầu xuống, thu lại lớp lông xù, đôi mắt đỏ rực liếc xéo về phía Lão Bát với vẻ đắc ý khôn tả. Nó dùng hai chân trước vuốt lại bộ ria mép dài ngoằng, sau đó vỗ nhẹ móng vuốt vào gò má tôi:

"Đi qua... Lũ sâu bọ không dám cắn người của Tiên gia đâu... Đi nhanh kẻo máu trên ngọc nguội mất..."

Tôi hít một hơi thật sâu để trấn tĩnh lại nhịp tim đang đập thình thịch trong lồng ngực. Cảm giác bước đi giữa hai hàng rào sống tạo bằng hàng vạn con chuột cống đang phủ phục dưới chân đem lại một sự rùng mình tột độ. Tôi sải từng bước dài dứt khoát trên con đường mòn phủ đầy xương khô và lá rụng, không dám nhìn xuống những cái đầu chuột đang run rẩy dán chặt vào bùn đất hai bên mép ủng.

Tứ Hải co rúm người lại, bước giậm chân thật khẽ theo sát gót tôi, hai mắt nhắm tịt lại vì ghê tởm nhưng tay vẫn ghì chặt lấy quai ba lô đựng đồ nghề. Lão Bát đi sau cùng, tiếng gậy tre gõ nhịp xuống đất lúc này nghe rời rạc và nặng nề lạ thường, tựa hồ mỗi bước chân của lão đều phải gánh thêm sức nặng vô hình của nghiệp chướng chốn rừng thiêng nước độc.

Nhờ có luồng hương xạ quái dị của Hôi Tiên che chở, chúng tôi băng qua bãi tha ma nghìn xác mà không gặp phải bất kỳ sự tấn công nào. Đoàn chuột cứ giữ nguyên tư thế quỳ lạy bất động như những bức tượng tạc bằng bùn xám cho đến khi bóng dáng ba người chúng tôi hoàn toàn chìm khuất vào hẻm núi đá phía cuối thung lũng.

Vượt qua bãi tha ma, triền dốc thoải cắm thẳng xuống một khe nứt tự nhiên ăn sâu vào lòng núi đá vôi. Tiếng nước ngầm chảy róc rách vọng ra từ kẽ đá sâu thẳm, mang theo hơi lạnh buốt giá đặc trưng của các hang động ngầm nghìn năm không thấy ánh mặt trời.

Màn sương chướng dày đặc của Rừng Ma dần dần tan bớt, nhường chỗ cho bóng tối đen đặc như mực của hẻm đá dựng đứng. Không khí ở đây khô ráo hơn bên ngoài, nhưng nồng nặc mùi lưu huỳnh và thạch tín bốc lên từ lòng đất.

Tôi dừng bước trước một vòm hang nửa chìm nửa nổi dưới chân vách núi. Rễ của một cây đa cổ thụ khổng lồ bám chặt lấy cửa hang, đan kết lại chằng chịt hệt như một tấm lưới sắt khổng lồ phong tỏa hoàn toàn lối vào.

Hôi Tiên thò hẳn nửa thân mình ra phía trước, hai mắt sáng quắc như hai ngọn đèn lồng đỏ, cái mũi nhọn hoắt chĩa thẳng vào khoảng tối tăm phía sau lớp rễ cây rậm rạp. Nó rít lên từng hồi gấp gáp, giọng điệu run rẩy vì tham lam tột độ:

"Chính là chỗ này... Đằng sau rễ cây... Cửa đá... Vàng ròng nằm sau cánh cửa đá..."

Tôi nâng ngọn đèn bão mang theo bên hông lên, vặn bấc đèn cho ánh lửa vàng vọt bùng sáng. Khi quầng sáng yếu ớt quét qua lớp rễ cây đa cổ thụ, những mảng rêu phong bám trên vách đá bị xua bớt, để lộ ra bề mặt nhẵn bóng của một tấm phiến thạch khổng lồ chôn sâu trong lòng núi.

Đó là một cánh cổng bằng đá xanh nguyên khối cao tới hai trượng, trên mặt khắc chìm những hoa văn cổ quái hình rồng cuộn và mây lượn thời Tiền Lê. Cánh cổng đá nằm sừng sững, lạnh lẽo chặn đứng toàn bộ lối đi vào lòng đất sâu thẳm.

Thạch Môn Trấn Mộ nghìn năm đã sừng sững hiện ra ngay trước mắt chúng tôi.

Chương khác

Xem thêm