Hôi Tiên Tầm Thương - Chương 7: Xương Người Vùi Đá
Hơi lạnh từ lòng đất bốc thốc lên mặt tôi, mang theo thứ mùi kim khí ngai ngái làm sống mũi cay xè. Con đường dốc thoai thoải trổ ra từ bức tường nứt dẫn…
Nội dung chương
Hơi lạnh từ lòng đất bốc thốc lên mặt tôi, mang theo thứ mùi kim khí ngai ngái làm sống mũi cay xè.
Con đường dốc thoai thoải trổ ra từ bức tường nứt dẫn chúng tôi xuống một khoảng không gian rộng thênh thang dưới đáy sâu tiền điện. Càng đi xuống, bậc đá dưới chân càng trơn trượt bởi một lớp rêu xám nhờn nhợt bám chặt vào bề mặt đá vôi. Tiếng bước chân của ba người dẫm trên đá ướt phát ra những âm thanh nhớp nháp, lọt thỏm giữa bóng tối thăm thẳm.
Tôi giơ cao ngọn đèn bão, ngọn lửa vàng vọt lập lòe soi rọi ra một khoảng không gian khiến cả ba chúng tôi đồng loạt đứng sững lại.
Trước mặt chúng tôi là một con hào rộng chừng sáu trượng, cắt ngang toàn bộ lối đi vào gian táng điện phía trong. Trong lòng hào không chứa nước ngầm, cũng không chứa bùn lầy, mà ngập ngụa một thứ chất lỏng đặc quánh, sáng loáng như gương soi. Dưới ánh lửa đèn bão, mặt chất lỏng ấy ánh lên sắc bạc lạnh lẽo, gợn từng đợt sóng ngầm nặng trịch, phản chiếu bóng đen của trần vòm cao vút bên trên.
- Thủy ngân... - Tứ Hải nuốt nước bọt đánh ực một cái, giọng gã run lên bần bật. - Cả một con hào ngập ngụa thủy ngân nguyên chất! Trời đất ơi, người xưa đào đâu ra lắm bạc lỏng chôn cất thế này?
- Giữ chặt mồm miệng lại! - Tôi hạ giọng quát, kéo vội chiếc khăn vải thô tẩm giấm chua từ trong túi dết ra bịt chặt lấy mũi và miệng. - Đừng hít sâu. Hơi bạc lỏng gặp khí ấm bốc lên là kịch độc, hít phải ba hơi là rụng hết răng, thối rữa lục phủ ngũ tạng mà chết.
Lão Bát đứng phía sau tôi, bàn tay khẳng khiu lần trong túi lấy ra hai mảnh vải dày tẩm bột hùng hoàng chia cho Tứ Hải. Lão kéo sụp vành mũ dạ xuống, tròng kính đen bên trái vẫn còn nguyên vẹn phản chiếu ánh bạc lấp lóa từ dưới đáy hào:
- Cổ nhân dùng thủy ngân làm hào bao quanh mộ thất, vừa để chống trộm, vừa giữ cho thi hài vạn năm không rữa nát. Con hào này sâu không thấy đáy, lại tỏa ra hơi độc ngút trời. Người trần mắt thịt rơi xuống đó, cơ thể sẽ nổi lềnh bềnh nhưng da thịt sẽ bị nung chín, mục nát ngay trước khi kịp ngoi lên mặt nước.
Tôi siết chặt lại dây buộc súng lục bên hông, đưa mắt quét qua mặt hào tĩnh lặng. Khoảng cách sáu trượng qua bờ bên kia không có cầu đá, cũng chẳng có sợi xích sắt nào vắt ngang. Giữa dòng thủy ngân chết chóc trôi lững lờ ấy, rải rác những mỏm đá vôi ngầm nhô lên khỏi mặt chất lỏng chừng vài đốt ngón tay. Những mỏm đá ấy bị hơi độc ăn mòn nham nhở, rải rác theo hình vòng cung uốn lượn, mỏm nọ cách mỏm kia chừng ba thước, bề mặt trơn tuột và mục ruỗng. Chỉ cần bước hụt chân, người bước sẽ trượt thẳng xuống dòng kim loại lỏng rực sáng bên dưới.
Trên vai tôi, con chuột cống Hôi Tiên bỗng cựa mình. Nó chui đầu ra khỏi đẫy áo, chiếc mõm dài nhọn hoắt hếch lên cao, hít hà lấy hít hà để làn khói độc bốc lên từ mặt hào. Đôi mắt đỏ lòm của nó sáng quắc lên trong bóng tối ngột ngạt.
- Khí kim loại... Tinh hoa lòng đất... - Hôi Tiên rít lên the thé, cuống họng nó gầm gừ những âm thanh sung sướng đến rợn người. - Đi theo bước chân Tiên gia. Mỏm đá nào có vệt lân tinh màu xám tro thì đạp lên, mỏm nào có rêu xanh thì tránh ra. Đạp sai một bước, xương thịt các ngươi sẽ tan thành bọt nước làm mồi cho thủy thần dưới đáy hào!
Dứt lời, thân hình xám bạc của con chuột phóng vút ra ngoài không trung. Nó đáp nhẹ như một chiếc lá khô lên đỉnh của mỏm đá đầu tiên nằm cách bờ chừng nửa trượng. Bộ móng vuốt cong vút của nó bấu chặt vào bề mặt đá vôi gồ ghề, phát ra tiếng lạo xạo khô khốc. Nó không dừng lại lấy nửa nhịp thở, thân hình to bằng con mèo nhỏ thoăn thoắt nhún nhảy từ mỏm đá này sang mỏm đá khác, vạch ra một đường đi ngoằn ngoèo tựa như rắn bò trên mặt gương bạc lấp lánh.
- Mau lên! Khói độc đang bốc cao, đèn bão sắp cạn dầu rồi! - Hôi Tiên quay đầu lại, đứng thăng bằng trên một mỏm đá nhô cao giữa lòng hào, cái đuôi trụi lông ngoe nguẩy trong không khí, cất giọng giục giã.
Tôi siết chặt quai đẫy vải sau lưng, quay sang nhìn hai người đồng hành:
- Tứ Hải đi giữa, Lão Bát bọc hậu. Nhìn kỹ từng dấu chân của ta mà đạp lên. Tuyệt đối không được nhìn xuống dòng thủy ngân, đầu óc sẽ bị hoa mắt mà ngã nhào.
Tứ Hải run rẩy gật đầu, hai hàm răng gã va vào nhau lập cập dưới lớp khăn tẩm giấm. Gã túm chặt lấy đoạn dây thừng buộc ngang bụng tôi, trong khi Lão Bát tay cầm gậy tre, tay kia nắm chặt đầu dây còn lại để giữ cự ly an toàn.
Tôi hít một hơi thật sâu qua lớp vải đẫm vị giấm chua nồng, rồi dồn lực vào chân sau, bật người nhảy tới mỏm đá đầu tiên.
Bàn chân tôi vừa chạm vào phiến đá vôi, một cảm giác trơn tuột như dẫm lên mỡ lợn truyền thẳng qua đế giày da. Tôi gập gối, hạ thấp trọng tâm, hai tay dang rộng để giữ thăng bằng. Dưới chân tôi, mặt thủy ngân phẳng lặng gợn sóng nhẹ, phản chiếu khuôn mặt đầy vết sẹo của tôi méo mó, biến dạng như một bóng ma dưới đáy mồ. Làn hơi nồng nặc kim loại xộc thẳng qua lớp vải, len vào cuống họng tôi một vị ngọt nhờn nhợt, tanh lợm đến mức ruột gan cồn cào từng cơn. Cơn buồn nôn dữ dội cuộn lên từ dạ dày, tôi phải nghiến chặt răng, nuốt ngược thứ dịch vị chua chát trở lại cuống họng.
Phía sau lưng, Tứ Hải nhảy sang mỏm đá kế tiếp. Thân hình gã lảo đảo, chiếc ba lô đựng đồ nghề trộm mộ kêu lách cách làm gã suýt ngã nghiêng sang bên phải:
- Tam ca... cứu tôi! Trơn quá!
Tôi vung tay túm chặt lấy cổ áo gã giật mạnh về phía trước, ghì chặt gã đứng vững trên phiến đá. Đôi mắt Tứ Hải trợn trừng qua lớp bụi mờ, mồ hôi túa ra đầm đìa trên trán, chảy tràn xuống khóe mắt đỏ hoe vì bị hơi độc hun nóng.
- Đứng yên đó, đừng cựa quậy! - Tôi gằn từng tiếng qua kẽ răng. - Nhìn thẳng vào lưng ta!
Lão Bát lướt theo sau với sự điềm tĩnh đáng sợ của một kẻ đã quá quen với ranh giới sinh tử. Cây gậy tre bịt đồng của lão gõ nhẹ xuống từng mỏm đá trước khi lão đặt chân tới. Tiếng "cộc, cộc" vang lên đều đặn giữa không gian nồng nặc tử khí, tựa như tiếng gõ mõ của một đạo sĩ hành lễ giữa bãi tha ma.
Chúng tôi cứ thế nhích từng bước một qua lòng hào thủy ngân. Không khí ngày càng trở nên đặc quánh và ngột ngạt. Lớp vải tẩm giấm trên mặt tôi bắt đầu khô quắt lại dưới sức nóng âm ỉ từ lòng đất bốc lên. Mắt tôi cay xè, từng mạch máu nơi thái dương giật thon thót từng hồi.
Đến giữa con hào, khoảng cách giữa các mỏm đá đột ngột giãn rộng ra. Mỏm đá tiếp theo nằm cách tôi gần bốn thước, bề mặt của nó nhô lên khỏi dòng bạc lỏng, phủ đầy một lớp bột màu vàng chanh nhạt.
Con Hôi Tiên đang ngồi thu lu trên mỏm đá vàng chanh đó. Chiếc đuôi dài trụi lông của nó uốn lượn từng vòng quanh thân hình béo múp.
Tôi dừng chân trên một phiến đá hẹp, lấy lại nhịp thở, chuẩn bị dồn sức bật qua khoảng cách nguy hiểm. Nhưng ngay khi tôi ngẩng đầu lên định quan sát chỗ đặt chân, một cơn ớn lạnh dọc sống lưng đột ngột chạy dọc khắp toàn thân.
Con chuột xám không hề nhìn vào con đường phía trước, cũng không nhìn vào các cơ quan cạm bẫy chung quanh.
Đôi mắt đỏ lòm như hai cục máu đông của nó trừng trừng dán chặt vào cổ tôi.
Nơi đó, vết rách do mũi tên đồng sượt qua lúc nãy ở tiền điện vẫn đang rỉ ra từng giọt máu tươi đỏ thẫm. Dòng máu nóng chảy chậm chạp xuống hõm cổ, làm ướt đẫm một mảng cổ áo trấn thủ của tôi. Chiếc mũi nhọn của con Hôi Tiên giật giật liên hồi theo từng nhịp tim đập nơi cổ tôi. Cái mồm đỏ lòm của nó hé mở, để lộ hai chiếc răng cửa dài ngoằng màu vàng ố đang cọ vào nhau ken két.
Nó đang thèm khát.
Đó là ánh nhìn của một con thú săn mồi đang kiên nhẫn quan sát miếng thịt tươi ngon treo lơ lửng trước miệng mình. Thứ ánh sáng đỏ rực quỷ quyệt trong đáy mắt nó hoàn toàn khác xa với sự quy phục của một linh vật dẫn đường. Nó nhìn tôi giống như nhìn một cái xác chết biết đi, chỉ chờ đợi một cú trượt chân để lao vào róc từng thớ thịt.
- Tam gia... - Giọng con chuột cất lên, the thé, thì thầm trôi qua làn hơi độc mờ ảo. - Cẩn thận cái chân... Máu của người sống rơi xuống hào bạc, thủy ngân sẽ sôi lên thành vạc dầu đấy... Rơi xuống đi... rồi Tiên gia sẽ vớt xương người lên...
Bàn tay tôi vô thức siết chặt lấy báng súng lục cài bên hông. Ngón tay tôi áp chặt vào then cài kim hỏa lạnh ngắt, sát khí bùng lên trong đáy mắt:
- Câm cái mõm mi lại trước khi ta bắn nát hai cái răng cửa của mi! Dẫn đường tiếp đi!
Hôi Tiên khẽ rít lên một tiếng ma quái, quay ngoắt đầu lại rồi phóng vút sang mỏm đá lớn hơn ở bờ bên kia. Ánh mắt đỏ ngầu của nó biến mất vào bóng tối mờ mịt của bức tường đá đối diện.
Tôi nén chặt cơn thịnh nộ và sự ghê tởm đang sôi sục trong lồng ngực, lấy đà nhảy vọt qua khoảng trống bốn thước, đáp gọn gàng xuống mỏm đá vàng chanh. Tứ Hải và Lão Bát lần lượt nối đuôi nhảy sang theo sợi dây thừng bảo hộ.
Mỏm đá này rộng hơn hẳn những tảng đá trước, nhô cao như một gò đất nhỏ giữa lòng hào, bề mặt phẳng lì và được phủ một lớp bột lưu huỳnh vàng rực dày gần nửa đốt ngón tay. Lớp lưu huỳnh này được người xưa rải ra để ngăn chặn thủy ngân tràn lên bề mặt nghỉ chân.
Tứ Hải vừa đặt chân xuống đã ngã quỵ hai đầu gối, hai tay chống xuống lớp bột vàng, ho sặc sụa từng cơn. Khói độc đã bắt đầu ngấm vào phổi gã, khóe mắt và hai bên cánh mũi của gã rỉ ra những giọt nước nhờn nhợt màu xám nhạt:
- Mẹ kiếp... Tôi không thở nổi nữa rồi... Cổ họng rát như bị cào...
- Đứng dậy! Không được ngồi xuống đó! - Lão Bát đột ngột quát lớn, âm thanh đanh thép khác hẳn vẻ trầm mặc thường ngày.
Lão vung mạnh cây gậy tre bịt đồng, giáng thẳng một đòn mạnh xuống phiến đá ngay trước mũi chân Tứ Hải.
"Cốp!"
Lớp bột lưu huỳnh vàng vọt bị chấn động văng tung tóe sang hai bên, để lộ ra bề mặt đá xám đen bên dưới. Nhưng thứ khiến Lão Bát nổi giận không nằm ở lớp đá, mà nằm ở những dấu vết in sâu trên lớp bột vàng chanh mịn màng kia.
- Tam gia, lại đây nhìn cho kỹ! - Giọng Lão Bát run rẩy, ngón tay khẳng khiu chỉ thẳng xuống mặt đất.
Tôi bước lại gần, nâng ngọn đèn bão soi sát xuống bề mặt lưu huỳnh.
Dưới ánh lửa vàng vọt, những dấu chân của Hôi Tiên in hằn rõ mồn một trên lớp bột mịn, dẫn dài từ mép mỏm đá này sang bờ đối diện.
Những dấu chân ấy không có dấu vết của đệm thịt loài gặm nhấm, cũng không có hình dáng của bốn ngón chân chuột thông thường cào xước trên mặt đất.
In sâu xuống lớp bột vàng là những dấu bàn tay tí hon.
Mỗi dấu in hằn năm ngón tay dài ngoằng, gầy guộc, các đốt ngón tay lộ rõ từng khớp xương dị dạng. Ngón cái tách rời ra một góc quái đản, đối xứng hoàn hảo với bốn ngón còn lại. Đầu mỗi ngón tay là một vết bấm sâu hoắm của móng vuốt sắc nhọn, tựa như móng vuốt của loài chim săn mồi được gắn vào bàn tay của một đứa trẻ sơ sinh bị dị tật.
Dấu vết ấy hằn sâu xuống lớp bột lưu huỳnh, từng vệt, từng vệt một, tựa như một đứa trẻ quái thai vừa bò lê bằng bốn chi qua phiến đá này.
- Đây... đây là chân chuột sao? - Tứ Hải lắp bắp, gương mặt gã trắng bệch như xác chết trôi sông. Gã lùi giật lùi về phía sau, suýt nữa trượt chân xuống dòng thủy ngân đang cuộn sóng bên mép đá. - Chuột... chuột làm sao có bàn tay người thế này?
Lão Bát nâng chiếc kính đen lên một chút, để lộ khóe mắt đầy những nếp nhăn sâu hoắm và vệt máu khô từ vết thương lúc trước. Giọng lão trầm đục, vang lên như lời phán truyền từ cõi âm:
- Chuột sống trăm năm thành tinh, nghìn năm hóa yêu. Khi loài gặm nhấm ăn vàng bạc dưới mồ mả, hút tinh khí của người chết, cốt cách của chúng sẽ biến đổi dần theo hình người. Dấu tay này... là cốt người đã mọc ra dưới lớp da lông của nó. Nó không còn là một con thú dẫn đường nữa rồi. Nó đang mượn đường chúng ta để hoàn thành hình hài ma quỷ của nó!
Những lời của Lão Bát như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào đầu tôi. Mọi nghi vấn suốt mười năm qua bỗng chốc hiện rõ mồn một. Từ những lần nó đòi ăn vàng ròng, từ những âm thanh thì thầm lanh lảnh trong đêm khuya, cho đến ánh mắt hau háu nhìn vào vết máu tươi trên cổ tôi ban nãy.
Nó chưa từng xem chúng tôi là chủ nhân. Nó chỉ xem chúng tôi là những kẻ phu khiêng kiệu, mang máu thịt và sinh mạng đến nơi chôn cất này để làm vật tế sống cho nghi thức hóa kiếp của chính nó.
- Mặc kệ nó là chuột hay là quỷ! - Tôi nghiến chặt răng, bàn tay siết chặt báng súng đến mức các khớp xương kêu răng rắc. - Đã bước chân vào tới đây thì không có đường quay đầu. Băng qua con hào này trước đã!
Tôi không cho Tứ Hải và Lão Bát có thời gian hoảng loạn. Tôi kéo giật sợi dây thừng, dồn hết sức lực còn lại lao vút qua ba mỏm đá cuối cùng. Mỗi bước nhảy của tôi giờ đây chứa đầy sự cảnh giác tột độ. Dưới chân tôi, mặt thủy ngân sáng lòa như muốn hút lấy linh hồn kẻ trộm mộ, nhưng bờ đá hoa cương bên kia đã hiện ra sừng sững ngay trước mắt.
"Bịch!"
Tôi đáp mạnh hai chân lên bờ đá bên kia con hào. Nền đá ở đây khô ráo và vững chãi, được ghép bằng những phiến đá xanh nguyên khối dày cả tấc. Tôi lập tức xoay người, ghì chặt dây thừng kéo mạnh Tứ Hải và Lão Bát vượt qua khoảng cách nguy hiểm cuối cùng.
Cả hai người ngã lăn ra sàn đá, thở dốc từng cơn hồng hộc. Tứ Hải giật phăng mảnh khăn tẩm giấm ra khỏi mặt, gục đầu nôn mửa thốc tháo ra một bãi nước nhờn màu vàng chanh, toàn thân run rẩy như bị trúng phong.
Lão Bát tựa lưng vào vách đá, một tay ôm ngực, tay kia vẫn nắm chặt cây gậy tre, tròng mắt sau lớp kính đen vẫn không ngừng quan sát khoảng tối hun hút phía trước.
Làn hơi thủy ngân chết chóc bị dòng khí lạnh từ phía sau đẩy lùi dần xuống đáy hào, để lại một luồng không khí khô ráo, tĩnh mịch nhưng mang theo một mùi hương lạ lùng. Đó là mùi thơm nồng nàn của gỗ đàn hương nghìn năm quyện lẫn với vị ngọt lịm đặc trưng của kim loại quý, đậm đặc đến mức làm tê dại đầu lưỡi.
Tôi cầm đèn bão bước lên ba bậc tam cấp bằng đá cẩm thạch.
Con Hôi Tiên đang ngồi chễm chệ trên bệ cửa đá phía trước. Nó đã liếm sạch những vết bẩn trên bộ lông xám bạc, hai cái chân trước kỳ dị như bàn tay trẻ con giấu kín vào trong lớp lông ngực. Đôi mắt đỏ rực của nó nhấp nháy liên hồi, nhìn chằm chằm vào cánh cửa đá đồ sộ chắn ngang lối vào gian táng điện chính.
Cánh cửa đá hoa cương nguyên khối cao hơn một trượng, bề mặt chạm khắc nổi hình chín con rồng ngậm ngọc cuộn tròn quanh một vầng thái dương rực lửa. Ở khe hở giữa hai cánh cửa, một thứ ánh sáng vàng rực rỡ, lấp lánh và chói lòa đang rò rỉ ra ngoài, chiếu rọi lên những vệt rỉ đồng xanh biếc bám trên then khóa bằng sắt nguội.
- Mở ra... - Hôi Tiên cất tiếng thì thầm, giọng nói của nó run rẩy trong cơn kích động điên cuồng tột bực. - Kim điện ở ngay sau cánh cửa này... Vàng ròng chất cao như núi... Châu báu nghìn năm đang chờ các ngươi...
Tứ Hải nghe thấy hai chữ "vàng ròng", đôi mắt đỏ ngầu vì hơi độc của gã bỗng sáng rực lên một thứ ánh sáng tham lam man dại. Gã quên bẵng đi cơn buồn nôn, vùng dậy lảo đảo lao tới bên cánh cửa đá.
Tôi bước tới, đặt bàn tay chai sạn lên bề mặt lạnh ngắt của cánh cửa rồng.
Cùng với tiếng thở hổn hển của ba con người và tiếng cào móng ken két của con quái thú gặm nhấm, chúng tôi dồn hết sức bình sinh, tỳ vai đẩy mạnh cánh cửa đá nghìn cân vào bóng tối rực ánh vàng bên trong.