Hôi Tiên Tầm Thương - Chương 8: Đường Hầm Huyết Môn

Tiếng bản lề đá nghìn năm nghiến vào nhau phát ra những âm thanh rợn người, nặng nề trút xuống không gian tĩnh mịch. Hai cánh cửa đá chạm chín con rồng…

Nội dung chương

Tiếng bản lề đá nghìn năm nghiến vào nhau phát ra những âm thanh rợn người, nặng nề trút xuống không gian tĩnh mịch. Hai cánh cửa đá chạm chín con rồng từ từ mở toạc sang hai phía, rạch một đường sâu hoắm trên lớp nền đá cẩm thạch phủ đầy bụi bặm.

Một luồng sáng vàng rực ùa thẳng vào mặt chúng tôi, chói lòa đến mức làm mắt tôi bỏng rát. Cùng với ánh sáng ấy là mùi hương nồng đượm của gỗ đàn hương ngâm tẩm tinh dầu quế chi, quyện chặt với cái mùi hanh khô, ngọt ngấy đến lợm giọng của kim loại quý đã bị phong kín qua nhiều triều đại.

Trước mắt chúng tôi là một gian táng điện hình bát giác rộng thênh thang, bề thế ngang ngửa với một ngôi đại điện trên mặt đất.

Tám cây cột đá hoa cương chống đỡ vòm trần cao vút đều được dát vàng lá mỏng dính từ chân lên đến đỉnh. Trên vòm trần đá tạc nổi hình tinh tú bằng hàng ngàn viên trân châu to bằng ngón tay cái, phản chiếu ánh đèn bão thành muôn vàn đốm lấp lánh như bầu trời đêm giữa rừng thẳm.

Dưới sàn điện, vàng ròng nằm la liệt khắp nơi. Những đống tiền đồng mạ vàng, nén vàng hình móng ngựa, đỉnh bạc tây nguyên khối chất đống thành từng gò nhỏ quanh các góc điện. Hàng chục chiếc bình sứ tráng men thanh hoa đựng đầy chuỗi hạt san hô đỏ au, ngọc bích chạm khắc hoa sen cùng vô số trâm cài tóc bằng vàng ròng vương vãi khắp mặt đất, như thể vừa có một đoàn quân vứt lại chiến lợi phẩm trong cơn hoảng loạn tột cùng.

Ở chính giữa gian phòng, trên một đài sen chín tầng bằng đá trắng, đặt một chiếc ngai lớn chạm trổ hình rồng ngậm minh châu rực rỡ. Bên dưới chân đài sen là bốn chiếc rương lớn bằng gỗ thiết mộc nẹp đồng vàng, chiếc nào chiếc nấy cao ngang ngực người lớn, các góc rương cẩn ngọc lưu ly và mã não sáng quắc.

- Vàng... Toàn là vàng ròng! Tổ tông ơi, chúng ta phát tài rồi!

Tiếng thét thất thanh của Tứ Hải phá vỡ sự im lặng ngột ngạt. Gã vứt phăng bó đuốc phụ xuống sàn đá, hai mắt trợn trừng đỏ ngầu những tia máu. Cơn buồn nôn vì hơi độc thủy ngân lúc nãy bị gạt phắt đi đâu mất. Gã vấp ngã dúi dụi vào một đống đĩa bạc nhưng không hề thấy đau, lập tức bò toài trên mặt đất, vồ lấy một nén vàng móng ngựa to bản.

Gã đưa thỏi vàng lên miệng, dùng hàm răng vàng khè cắn mạnh một nhát. Vết răng lún sâu vào bề mặt kim loại mềm dẻo.

- Vàng thật! Vàng mười không pha chì! Tam ca, chúng ta giàu to rồi! Cả đời này không cần chui rúc dưới mồ mả nữa!

Tứ Hải rú lên từng hồi điên dại, hai tay gã liên tục bốc từng vốc tiền vàng tung lên không trung. Những đồng tiền vàng va vào nhau leng keng giòn giã rồi rơi lả tả xuống sàn đá hoa cương, tạo thành những âm thanh mê hoặc lòng người. Gã xé toạc miệng bao tải gai mang sau lưng, bắt đầu vơ vét một cách điên cuồng. Gã nhét từ đỉnh bạc cho đến trâm ngọc, nhét đầy bao tải rồi lại nhét vào túi áo, túi quần, thậm chí còn nhét cả những chuỗi vòng cẩm thạch vào trong ủng da.

Con chuột xám Hôi Tiên khẽ rít lên một tiếng the thé lanh lảnh. Nó phóng vút qua đầu tôi, đáp thẳng xuống đỉnh của chiếc rương gỗ bọc vàng gần nhất. Chiếc mõm nhọn hoắt của nó hếch lên trần cao, hai cánh mũi phập phồng hít hà từng hơi thở nồng nặc mùi kim tiền.

Nó dùng hai cái chân trước có hình thù quái dị cào cấu vào lớp dát vàng trên thành rương, tạo ra những vệt xước sáng loáng. Đôi mắt đỏ như máu của nó xoay tít, nhìn đám của cải với sự thèm thuồng tột độ nhưng lại ẩn chứa vẻ quỷ quyệt khôn lường. Nó không nhặt lấy một thỏi vàng nào, chỉ ngồi xổm ở đó, chiếc đuôi trụi lông quất từng nhịp đều đặn vào nắp rương.

- Tứ Hải, dừng tay lại!

Tôi gằn giọng quát lớn, bước lên phía trước một bước, mũi giày da đạp mạnh lên chiếc đĩa bạc gã vừa làm rơi. Bàn tay tôi siết chặt khẩu súng lục ổ quay, mắt quét nhanh một lượt qua tám góc điện.

Nơi đây quá yên tĩnh, thứ yên tĩnh rợn người của một cái bẫy chết chóc đã giương sẵn. Trong nghề trộm mộ biên viễn, của cải càng nhiều, mạng sống người ta bỏ lại càng rẻ rúng. Những tiền nhân từng xây dựng nên tòa kim điện dưới đáy vực sâu này không đời nào hào phóng để lại cả gia tài khổng lồ cho những kẻ đào trộm mà không kèm theo một cái giá cắt cổ.

Tứ Hải nghe tiếng tôi quát, động tác vơ vét khựng lại nhưng bàn tay gã vẫn ôm chặt lấy một xấp lá vàng mỏng. Gã ngẩng đầu lên, tròng mắt đỏ lòm vì tham vọng dán chặt vào mặt tôi, khóe môi giật giật để lộ hàm răng nham nhở:

- Tam ca, huynh lại muốn giở cái thói đạo đức giả của phường đạo mộ cổ hủ ra nữa đấy à? Ra đến ngoài đèo heo hút gió, một nén vàng này có thể mua được một khẩu súng trường, một vốc trân châu này đủ để mua cả một dinh cơ ở Hà Nội! Huynh bảo đệ dừng tay là có ý gì? Huynh muốn nuốt trọn một mình sao?

- Mày mù mắt rồi à? - Tôi hạ thấp nòng súng, chỉ thẳng vào những đường rãnh chìm chạy ngoằn ngoèo dưới các phiến đá hoa cương. - Quy tắc của dân tầm thương ba đời nay chưa từng thay đổi: Lấy ba phần bảy, chừa lại một đường sống cho người sau, cũng là để lại phúc đức cho chính mình. Đồ trên cao không được đụng, đồ dưới đáy rương phải đề phòng cơ quan. Mày cứ hốt sạch như kẻ chết đói thế kia, dẫm phải một mấu chốt ngầm thì cả lũ chôn thây trong này cùng đống vàng của mày!

- Phúc đức? - Tứ Hải cười khẩy, tiếng cười the thé của gã vang vọng khắp vòm điện nghe chói tai vô cùng. - Làm cái nghề đào mả móc xác này mà huynh còn mở miệng nói hai chữ phúc đức? Mười năm nay theo huynh, đệ chỉ toàn húp cháo cặn. Mỗi lần vào hầm mộ, huynh chỉ cho đệ lấy vài món đồ đồng vặt vãnh mang về đổi mấy đồng bạc Đông Dương rách. Bây giờ vàng bạc đầy rẫy trước mắt, huynh lại cấm cản? Huynh sợ đệ có nhiều tiền hơn huynh sao?

Ánh mắt của Tứ Hải dời từ mặt tôi xuống ngang thắt lưng. Nơi ấy, con đoản đao cán sừng của gã đang giắt hờ bên hông, chuôi đao hơi nhếch lên theo thế rút nhanh. Bàn tay phải của gã, vốn đang cầm một nắm ngọc bích, bỗng từ từ buông lỏng từng ngón tay để mặc cho ngọc rơi xuống sàn.

Sát khí trong mắt gã bốc lên ngùn ngụt, lạnh lẽo và độc địa hơn cả hơi độc chu sa lúc trước. Trong không gian chật hẹp này, lòng tham đã đốt cháy chút lý trí cuối cùng của một kẻ chuyên phá cơ quan. Gã không còn nhớ ai đã kéo gã qua con hào thủy ngân, gã chỉ thấy trước mắt một người thủ lĩnh đang cản trở gã bước lên đỉnh cao phú quý.

Tôi không hề nao núng, ngón tay trỏ trên cò súng lục siết nhẹ lại một nấc. Tiếng cơ búa đập cạch một tiếng khô khốc vang lên giữa căn phòng táng điện.

- Mày dám rút con dao đó ra, viên đạn của tao sẽ xuyên qua trán mày trước khi mũi dao chạm được vào vạt áo tao. Tứ Hải, tao nuôi mày mười năm, tao biết thừa mày nghĩ cái gì trong đầu. Nhưng muốn giết tao để độc chiếm chỗ này thì mày tính sai rồi.

Không khí trong kim điện bỗng chốc đông cứng lại. Hai bên gườm gườm nhìn nhau, chỉ có tiếng thở phì phò của Tứ Hải và tiếng lách cách của những đồng tiền vàng lăn tròn trên đá.

Phía sau lưng tôi, tiếng gậy tre gõ cọc cạch xuống nền đá vang lên đều đặn.

Lão Bát chầm chậm bước tới. Chiếc kính đen tròn sì che khuất hoàn toàn ánh mắt của lão, chỉ có chòm râu dê hoa râm khẽ run rẩy theo từng cử động của cơ mặt. Lão không nhìn vào đống vàng dưới đất, cũng không nhìn vào khẩu súng trên tay tôi hay con dao của Tứ Hải. Lão dừng lại cách chiếc đài sen chín tầng năm bước chân, ngửa mặt lên nhìn vào khoảng tối mịt mùng trên đỉnh trần điện, nơi có những vì sao bằng ngọc trai đang tỏa ra ánh sáng nhàn nhạt.

- Nghiệp chướng... Thật đúng là nghiệp chướng sâu dày... - Lão Bát thở dài một hơi thật sâu, giọng nói khàn đặc như tiếng đá cọ vào sắt gỉ. - Vàng bạc châu báu nơi đây không phải đồ tùy táng của đế vương, mà là mồi nhử cho lòng tham muôn đời. Người chết vì tiền, chim chết vì mồi. Cổ nhân đúc chín con rồng canh cửa, ngậm ngọc phun châu, thực chất là để giam giữ linh hồn của những kẻ có dã tâm lớn nhất. Hai người các ngươi còn đứng đây tranh giành sinh tử, có biết dưới chân mình đang đạp lên cái gì không?

Tứ Hải khạc một bãi nước bọt xuống sàn đá dát vàng, trừng mắt nhìn Lão Bát:

- Lão mù kia, câm miệng lại cho tôi! Suốt dọc đường lão cứ lẩm bẩm xui xẻo. Tôi không tin vào trời đất báo ứng gì hết, tôi chỉ tin vào số vàng này thôi! Có tiền thì quỷ cũng phải đẩy cối xay cho tôi!

Gã quay ngoắt người đi, không thèm để ý đến tôi nữa. Gã lao thẳng về phía chiếc rương gỗ thiết mộc lớn nhất đặt ngay trước bệ thờ đài sen. Chiếc rương này dài tới sáu thước, bốn góc bọc bằng những tấm đồng vàng dày cộp chạm hình đầu hổ hung tợn, trên nắp rương cẩn một viên hồng ngọc to bằng quả trứng gà, tỏa ra ánh sáng đỏ tía ma quái.

Một ổ khóa bằng đồng thau to như quả dưa gang khóa chặt then rương. Tứ Hải rút phăng chiếc xà beng thép nhỏ giắt sau lưng ra, nhét mũi thép nhọn vào khe hở giữa móc khóa và then rương.

- Tứ Hải, cẩn thận có chốt ngầm phóng độc! - Tôi quát lên, nhưng gã hoàn toàn điếc đặc.

- Cơ quan quái quỷ gì cũng không cản được ta! - Tứ Hải gầm lên, dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể lên cán xà beng, dùng sức bẩy mạnh một cái.

"Rắc! Choảng!"

Ổ khóa đồng nghìn năm bị rỉ sét ăn mòn bên trong không chịu nổi lực đòn bẩy cực lớn, chốt sắt gãy lìa ra làm đôi, rơi xuống nền đá cẩm thạch vang lên một tiếng khô khốc.

Không có tên bắn, cũng không có khói độc phun ra.

Tứ Hải cười sằng sặc một tràng đắc thắng, vội vàng vứt chiếc xà beng sang một bên, hai tay nắm lấy mép nắp rương bằng gỗ thiết mộc nặng trịch, dồn sức đẩy bật nắp rương về phía sau.

"Ầm!"

Nắp rương rơi ngửa ra sau va mạnh vào bệ đá sen, làm bụi tro bay mù mịt.

Một mùi hương nồng đượm xộc thẳng vào mũi chúng tôi. Lớp trên cùng của chiếc rương chứa đầy những thỏi vàng hình mai rùa xếp ngay ngắn tăm tắp, thỏi nào thỏi nấy bóng loáng, sạch sẽ không tì vết, bên dưới lớp vàng là những chuỗi hạt ngọc trai nước ngọt sáng lấp lánh như sương mai.

Tứ Hải gần như phát điên. Gã thọc cả hai cánh tay trần vào trong đống vàng, vốc từng nắm lớn nhét vào vạt áo trước ngực. Gã vốc mạnh đến mức móng tay gãy bật máu, nhưng gã dường như không hề cảm thấy đau đớn, miệng vẫn lẩm bẩm những câu vô nghĩa đầy điên dại:

- Của ta... Tất cả là của ta... Không ai được cướp...

Nhưng chiếc rương sâu hơn gã tưởng rất nhiều. Khi Tứ Hải cào sạch lớp vàng lá và ngọc trai mỏng manh phủ bên trên, tay gã thọc sâu xuống đáy rương để tìm kiếm những viên ngọc quý lớn hơn thì gã bỗng khựng lại.

Khuôn mặt hớn hở đầy cuồng loạn của gã bỗng chốc cứng đờ như tượng đá. Những nếp nhăn nơi khóe miệng gã co giật liên hồi, đôi mắt trợn ngược lên, miệng há hốc ra nhưng không thốt nên lời.

- Cái gì... cái gì thế này? - Tứ Hải run rẩy thốt lên, giọng nói nghẹn ứ lại trong cổ họng.

Gã từ từ rút cánh tay ra khỏi đáy rương. Bám trên mu bàn tay gã không phải là bột vàng hay bụi ngọc, mà là một lớp chất nhờn đen đặc, quánh lại như mỡ người chết thối rữa, bốc lên một mùi tanh nồng nặc và hôi thối đến rợn gáy. Mùi thối này khủng khiếp gấp trăm lần mùi xác chết ngoài bìa rừng, nó chui tọt vào khoang mũi, làm cổ họng tôi thắt nghẹn lại từng cơn buồn nôn dữ dội.

Tôi vội vàng cầm đèn bão bước nhanh tới bên cạnh chiếc rương, tay kia vẫn giữ chặt báng súng lục để đề phòng biến cố.

Tôi nâng cao ngọn đèn bão, rọi thẳng ánh sáng vàng vọt xuống đáy chiếc rương gỗ thiết mộc.

Cảnh tượng bên dưới khiến máu trong người tôi như đông cứng lại thành băng.

Chiếc rương này hoàn toàn không có đáy bằng gỗ hay gạch đá. Phía dưới lớp vàng thỏi mỏng tang lót ở phía trên chỉ là một lớp vỉ tre mục nát. Bên dưới lớp vỉ tre ấy là một cái hộc sâu hoắm thông thẳng xuống lòng đất tối tăm, và ngập ngụa trong cái hộc đó là hàng chục chiếc xương sọ người.

Những chiếc sọ người được xếp thành từng tầng, từng lớp vô cùng ngay ngắn và trật tự. Đáng sợ hơn cả, đỉnh đầu của mỗi chiếc sọ đều bị đục một lỗ tròn nhẵn nhụi to bằng đồng xu bạc. Từ những lỗ tròn trên hộp sọ, người ta đã cắm vào đó những sợi chỉ đỏ thẫm đan xen chằng chịt vào nhau, nối liền từng chiếc sọ lại thành một đồ hình bát quái quái dị.

Dưới đáy những hốc mắt đen ngòm của những chiếc sọ người ấy, từng giọt chất nhờn màu đen đặc quánh đang chậm rãi rỉ ra ngoài, hòa lẫn với thứ dầu trơn bóng bẫy trên xương trắng. Ở chính giữa trận đồ xương sọ, một chiếc sọ trẻ con nhỏ xíu được đặt trên một đĩa đồng ba chân, hai hàm răng của nó cắn chặt lấy một lá bùa bằng đồng thau khắc đầy những ký tự ngoằn ngoèo tựa như dấu chân của loài bò sát.

Đây không phải là một chiếc rương đựng của cải chôn theo người chết.

Đây là một bệ tế thần. Một trận đồ hiến tế dùng xương sọ của đồng nam đồng nữ, dùng chỉ máu dẫn hồn để nuôi dưỡng một thứ tà vật ghê tởm bị giam giữ dưới đáy mộ.

Con chuột xám Hôi Tiên bỗng phóng vọt từ trên cao xuống, bám chặt vào mép chiếc rương gỗ. Đôi mắt đỏ ngầu của nó nhìn chằm chằm vào trận đồ sọ người bên dưới đáy, hai cánh mũi phập phồng hít lấy hít để thứ mùi tanh tưởi thối rữa kia một cách khoan khoái.

Nó cất lên một chuỗi tiếng cười the thé, nhọn hoắt như kim chích vào màng nhĩ, rồi nó dùng một bàn chân trước kỳ dị vỗ nhẹ lên mép gỗ, cất giọng thì thầm lạnh toát:

- Mở rồi... Đã mở được cửa tế... Trăm năm gom góp vàng bạc... rốt cuộc cũng chờ được ngày máu người sống tưới lên xương trắng...

Tứ Hải sợ hãi hét lên một tiếng thất thanh, gã ngã ngửa ra sau, hai chân đạp loạn xạ trên đống tiền vàng vương vãi để lùi xa khỏi chiếc rương. Những thỏi vàng gã nhét trong túi áo rơi ra lả tả, lăn lông lốc trên sàn đá, nhưng gã không còn tâm trí nào để nhặt lại. Gã đưa hai bàn tay dính đầy mỡ đen thối rữa lên trước mặt, toàn thân run rẩy như cầy sấy.

Tôi đứng chết trân bên mép rương, ngọn đèn bão trên tay khẽ chao đảo.

Từ phía sau, tiếng Lão Bát thở dài não nuột lại vang lên giữa không gian ngột ngạt. Lão chống cây gậy tre bước lên từng bước chậm rãi, chiếc kính đen tròn sì hướng thẳng vào đống xương sọ dưới đáy rương. Bàn tay khẳng khiu như cành cây khô của lão chầm chậm đưa lên mép gọng kính.

Sự nghi kỵ, nỗi kinh hoàng và bóng tối đen ngòm dưới đáy hộc ngầm như một tấm lưới khổng lồ ập xuống, siết chặt lấy cổ họng của từng người chúng tôi.

Chương khác

Xem thêm