Huyền Môn Quỷ Lục - Chương 40: Khe cửa hẹp đón gió đông

Cơn gió đông đầu mùa rít qua khe cửa sổ gỗ lỏng lẻo của phòng 604, mang theo cái rét buốt xương đặc trưng của những ngày cuối năm nơi đô thị. Bản lề han…

Nội dung chương

Cơn gió đông đầu mùa rít qua khe cửa sổ gỗ lỏng lẻo của phòng 604, mang theo cái rét buốt xương đặc trưng của những ngày cuối năm nơi đô thị. Bản lề han gỉ rung lên từng chập bần bật, kéo theo tiếng kim loại cọ vào khung sắt nghe rợn gai ốc. Hơi lạnh luồn qua những nẹp kính hở, quấn lấy mắt cá chân tôi, thấm sâu qua lớp vải quần bò sờn cũ rồi găm thẳng vào xương tủy.

Tôi buông chiếc chổi đót xuống góc tường, đứng thẳng người sau nhiều giờ thu dọn bãi chiến trường. Khớp lưng kêu răng rắc. Đốt ngón tay cứng đờ vì ngấm nước lạnh và bột vôi khô khốc.

Dưới chân tôi, mặt sàn gạch hoa xám xịt đã được quét dọn tương đối sạch sẽ. Đống mảnh vỡ thủy tinh của hai chiếc gương nứt toác cùng những vệt máu tanh tưởi rải rác từ đêm qua đã nằm gọn trong bao tải dứa màu xanh kê sát góc bếp. Nhưng mùi ẩm mốc trộn lẫn với mùi vữa nung và tàn nhang cháy dở vẫn bám riết lấy từng góc phòng, quẩn quanh không chịu tan đi.

Tôi bước lại gần chiếc bàn trà con bằng gỗ ép mục góc, cúi người nhặt mảnh gương vỡ lớn nhất còn sót lại đặt dựng vào mép tường.

Mặt gương hình tam giác sắc cạnh, mép kính nham nhở những vết mẻ răng cưa. Trong tấm kính tráng bạc đã ố vàng vì hơi ẩm, hình ảnh phản chiếu của tôi hiện ra rõ nét đến từng chi tiết trần trụi.

Tôi nhìn vào mảnh gương nứt còn sót lại, nhận ra đôi mắt âm dương của mình đã trở nên u trầm, lạnh lẽo hơn trước rất nhiều.

Gương mặt ấy hốc hác hẳn đi sau một đêm sinh tử. Da dẻ tái mét, hai bọng mắt thâm quầng trũng sâu xuống, làm nổi bật sống mũi gầy gò và gò má nhô cao. Đáng sợ nhất vẫn là tròng mắt bên trái. Nó không còn giữ vẻ kinh ngạc hoảng hốt của một thằng sinh viên năm cuối vô tình bước chân vào chốn bùn lầy huyền môn. Giờ đây, con ngươi đen sẫm sâu thẳm, tĩnh lặng đến mức tàn nhẫn. Lòng trắng chằng chịt những tia máu đỏ li ti đan xen nhau, trông giống hệt những rễ cây khô bám chặt lấy lớp đất cằn cỗi dưới đáy mộ phần.

Khi tôi chớp mắt, một luồng ánh sáng xanh nhờ nhợ lướt qua con ngươi, lạnh buốt và xa lạ. Đó là dấu vết của việc tiếp xúc quá lâu với tà sát và âm khí nơi giếng trời. Đôi mắt này từng là gánh nặng khiến tôi sợ hãi bóng tối suốt thời thơ ấu, khiến tôi luôn phải cúi đầu lảng tránh những góc khuất bên đường mỗi khi đi học về muộn. Giờ đây, chính nó lại trơ tráo nhìn ngược lại tôi từ trong gương, không một chút gợn sóng dao động.

Bàn tay tôi vô thức siết chặt. Cổ tay trái giật nảy lên một cơn đau nhói. Vết bầm tím hình vòng cùm sắt in hằn trên da thịt vẫn còn đỏ lựng, mép da nứt nẻ rỉ ra vài giọt huyết tương vàng nhạt. Tôi kéo ống tay áo len xám xuống, che kín vết tích của sợi chỉ ngũ sắc bị tà lực thiêu rụi đêm qua.

Tôi quay đầu, đưa mắt nhìn về phía bàn thờ tổ tiên đặt ở vách tường phía đông.

Bát hương bằng gốm thô vẫn nằm im trên kệ gỗ mun. Ba chân nhang đỏ quắt queo cắm sâu trong lớp tro mịn, tàn thuốc cuộn tròn lại thành những hình thù kỳ quái. Bức tường vôi phía sau bàn thờ nứt toác một vệt dài từ trần nhà chạy thẳng xuống chân tường, để lộ ra khoảng trống tối tăm bên trong lớp gạch đỏ mục nát.

Nằm sâu trong kẽ nứt ấy, chiếc hũ sành màu tro xám vẫn lặng lẽ ẩn mình.

Tôi không động vào nó. Kể từ lúc vách tường nứt ra sau đòn phản phệ của luồng phong sát, tôi chỉ đứng từ xa quan sát. Oán khí bốc ra từ miệng hũ đã bị luồng gió bấc rít qua khe cửa sổ ép chặt lại, nhưng sự tồn tại của nó trong chính căn phòng này giống như một cái dằm cắm sâu vào da thịt. Kẻ nào đã chôn giấu một hũ tro cốt vô danh ngay sau lưng nơi thờ phụng tổ tiên họ Tô? Người ấy đặt nó vào đây từ lúc khu chung cư này vừa xây móng, hay mới lén lút đục tường nhét vào trong những ngày tôi vừa dọn đến ở?

Cuốn sách da bò cũ kỹ nằm trên mặt bàn, mở toang ở phần bìa sau. Gốc giấy lởm chởm sợi xơ xác xơ cho thấy trang cuối cùng đã bị xé đi một cách dứt khoát. Vết rách còn rất mới, bờ giấy chưa kịp ngả màu vì bụi bặm.

Bí mật về mạch đất dưới nền chung cư, cùng nguồn gốc của lời nguyền gắn chặt với ba đời họ Tô, đã theo trang sách ấy biến mất vào màn sương mù của thành phố.

Tôi kéo chiếc ghế gỗ duy nhất trong phòng lại gần bàn trà, ngồi phịch xuống. Lưng ghế ọp ẹp phát ra tiếng cọt kẹt quen thuộc.

Ba điều răn của tổ tiên vẫn vẹn nguyên không bị phá vỡ, nhưng tôi đã học được cách lách qua ranh giới mong manh giữa sự bất can thiệp và việc tự cứu lấy bản thân.

Không độ quỷ. Đêm qua, khi bóng áo đỏ dưới đáy giếng trời gào khóc cầu xin được giải thoát, tôi đã không mở miệng tụng một câu kinh siêu độ. Tôi quay lưng bước đi, mặc cho oán khí của cô ta gào thét cào cấu vào khoảng không vô định. Cứu rỗi một vong hồn vất vưởng nơi đô thị chưa bao giờ là việc dành cho kẻ mang huyết mạch họ Tô. Càng muốn độ hóa chúng, sợi xích nghiệp chướng sẽ càng siết chặt lấy người thi pháp, kéo kẻ đó chìm sâu xuống đầm lầy nhân quả không đáy.

Không phá sát. Đám người trên sân thượng đã dùng mạng sống của cư dân tầng dưới để dựng nên thế trận nghịch âm dương tàn bạo, hòng ép tôi phải vung bùa phá giải trận nhãn. Nếu tôi làm vậy, kinh mạch tôi sẽ đứt đoạn dưới sức ép của khế ước cổ xưa. Tôi đã không phá. Tôi chỉ đứng ở góc hành lang, chờ đợi ngọn gió đông thổi tới, xoay nhẹ góc gương đồng để mượn đà chuyển hướng luồng tà khí ngược về đỉnh đầu kẻ phát động. Trận pháp không bị tôi phá hủy; nó tự sụp đổ bởi chính lòng tham và sự hung hiểm của những kẻ điều khiển nó. Tôi đứng ngoài cuộc sát phạt, nhưng kẻ thù thì đã tự diệt vong dưới lưỡi dao của chính mình.

Không kết duyên âm. Gã đàn ông mặc áo bà ba đêm qua muốn dùng quỷ trận để ép buộc tôi thề ước với oán linh, biến tôi thành con rối bị giật dây trong giới huyền môn ngầm. Nhưng thứ gã nhận lại chỉ là ngọn lửa tà sát phản phệ thiêu rụi một cánh tay.

Tổ phụ để lại ba điều răn hà khắc không nhằm mục đích biến con cháu thành những bức tượng gỗ vô tri chờ chết. Những quy tắc thép ấy thực chất là một bộ giáp kiên cố. Chúng vạch ra một đường ranh giới sắc lẹm giữa sự sống và cái chết. Kẻ ngu muội sẽ thấy ba điều răn ấy là xiềng xích trói buộc tay chân, còn kẻ hiểu thấu sẽ biết cách lách mình qua khe cửa hẹp nằm giữa sự can thiệp trực tiếp và việc buông xuôi số phận.

Tôi nhìn xuống đôi bàn tay trần của mình. Lớp da ngón tay nhăn nheo vì ngâm nước lạnh, lòng bàn tay hằn sâu những vết sẹo nhỏ từ những lần bấm móng tay vẽ bùa định tâm.

Thành phố ngoài kia vẫn đang vận hành theo quy luật tàn nhẫn của nó. Tiếng còi xe inh ỏi từ đại lộ lớn dội vào từng chặp. Tiếng rao bánh mì, tiếng chổi quét rác loẹt xoẹt dưới lòng đường, tiếng cãi vã của đôi vợ chồng bán quán ăn sáng ở đầu ngõ - tất cả hòa trộn thành một thứ âm thanh đặc quánh của đời sống dương gian. Những con người sống trong các căn hộ chật chội ở tầng ba, tầng bốn tối qua vừa trải qua một cơn ác mộng kinh hoàng, sáng nay vẫn phải vội vã dắt xe máy ra khỏi cổng khu tập thể để kịp giờ làm việc. Họ sẽ chỉ nghĩ rằng đêm qua mình bị trúng gió, hoặc bóng đè do làm việc quá sức. Không một ai hay biết rằng, ranh giới giữa sự sống của họ và cõi chết chỉ cách nhau đúng một bước chân nơi giếng trời.

Giới huyền môn ẩn mình dưới lớp vỏ bọc bình lặng của phố xá đông đúc tinh vi hơn tôi tưởng rất nhiều. Chúng không xuất hiện với cờ dong trống mở, không gầm rú như quỷ dữ trong truyện cổ tích. Chúng ẩn nấp trong hình hài của một gã đàn ông trung niên mặc áo bà ba tầm thường, một người hàng xóm ít nói ở tầng dưới, hay một kẽ nứt vô danh sau bức tường bàn thờ. Chúng lợi dụng từng khe hở trong lòng tham và nỗi sợ hãi của con người để giăng tơ, dệt nên những trận đồ hút cạn sinh khí của cả một góc phố.

Cơn gió đông bên ngoài lại giật mạnh thêm một đợt.

Khung cửa sổ gỗ va đập vào tường tạo nên âm thanh chát chúa. Tấm rèm vải hoa cũ kỹ bay phần phật, cuốn theo những hạt bụi vôi trắng xóa bay lơ lửng giữa luồng sáng nhạt nhòa của buổi sáng muộn. Căn phòng 604 lại chìm vào sự u tịch thường nhật.

Tôi đứng dậy, đi về phía góc bếp ga du lịch, bật lửa đun một ấm nước nhỏ. Ngọn lửa màu xanh le lói bốc lên, liếm vào đáy ấm nhôm đen nhẻm. Tiếng nước reo tí tách xua bớt đi phần nào sự lạnh lẽo đang bám chặt trên từng bức tường ẩm mốc.

Khi nước sôi, tôi nhấc ấm xuống, rót vào chiếc ấm trà bằng sành màu nâu sẫm đã ngả màu xỉn. Búp trà khô nở ra, tỏa ra một làn khói mỏng mang theo vị chát ngắt quen thuộc của lá chè mạn rẻ tiền mua ở quầy tạp hóa dưới chân cầu thang.

Tôi bưng chén trà nóng quay lại bàn, nhưng chưa kịp nhấp môi thì khói trà trên mặt chén bỗng nhiên tạt ngang sang một bên.

Không khí xung quanh đột ngột chùng xuống.

Nhiệt độ trong phòng hình như tụt thêm vài độ trong chớp mắt. Ngọn gió đông đang gào thét ngoài cửa sổ bỗng bặt tiếng, nhường chỗ cho một sự im ắng dị thường, nặng nề đến nghẹt thở.

Cộp. Cộp. Cộp.

Tiếng bước chân quen thuộc lại lờ mờ vang lên ngoài hành lang ẩm thấp.

Âm thanh chậm rãi, khô khốc, phát ra từ những bậc cầu thang bê tông dẫn từ tầng năm lên tầng sáu. Từng bước nện xuống nền gạch gãy vụn, không nhanh không chậm, đều đặn như nhịp gõ của một chiếc đồng hồ quả lắc cũ kỹ.

Cộp. Cộp.

Tiếng bước chân dừng lại ở chiếu nghỉ, ngay trước cửa thoát hiểm đã bị khóa chặt từ nhiều năm trước. Sau đó, nó tiếp tục tiến về phía hành lang dài hun hút của tầng sáu, hướng thẳng tới căn phòng 604.

Lần này, không có tiếng dây xích kéo lê trên mặt sàn, cũng không có mùi tanh nồng của máu tế hay tiếng gầm rú của tà sát bị phản phệ. Đó chỉ là một bước chân bình thản, trĩu nặng của một kẻ mang theo hơi thở lạnh lẽo từ dưới lòng đất bước lên.

Tôi không đứng dậy, cũng không đưa tay với lấy lá bùa hộ thân nào nữa.

Gió đông ngoài khe cửa hẹp lại thổi thốc vào, cuốn theo tàn tro mịn màng từ kẽ nứt sau bức tường rơi lả tả xuống sàn gỗ. Ánh sáng ban ngày bên ngoài cửa sổ dần ngả sang màu xám xịt của một buổi chiều tà đến sớm, từng mảng tối từ trần nhà và các góc khuất bắt đầu trườn ra, nuốt chửng lấy những vạt nắng yếu ớt cuối cùng.

Tôi rót một chén trà nguội, ngồi xuống bàn và thản nhiên đón nhận bóng tối đang tràn vào.

Cánh cửa gỗ mỏng manh khẽ rung lên một nhịp dưới sức ép của bàn tay vô hình vừa chạm vào chốt khóa bên ngoài.

Chương khác

Xem thêm