Huyền Môn Quỷ Lục - Chương 39: Bụi mờ phủ cuốn sách xưa
Bình minh ló rạng trên nóc những dãy nhà cao tầng phía xa với một màu trời xám xịt hệt như đống tro tàn vừa lụi sau đêm đông. Ánh sáng le lói qua tầng…
Nội dung chương
Bình minh ló rạng trên nóc những dãy nhà cao tầng phía xa với một màu trời xám xịt hệt như đống tro tàn vừa lụi sau đêm đông. Ánh sáng le lói qua tầng mây đùng đục, rọi xuống lòng giếng trời của khu chung cư cũ một màu nhờ nhợ, lạnh lẽo. Không gian xung quanh rơi vào trạng thái tĩnh lặng tuyệt đối, thứ tĩnh lặng chết chóc thường thấy sau khi một cơn cuồng nộ tà khí vừa quét qua và rút cạn sinh khí của vạn vật.
Dưới tầng hầm, tiếng rên xiết mê muội của đám người bị dẫn dụ đêm qua đã ngừng hẳn. Mùi tanh nồng nặc của máu tế trộn lẫn mùi khét lẹt từ sân thượng bốc xuống vẫn còn vương vất trong từng ngóc ngách hành lang, nhưng luồng phong sát hung bạo đã tan đi theo tiếng thét xé ruột lúc tảng sáng.
Tôi khép hờ cánh cửa gỗ lim của phòng 604, ngăn bớt luồng gió buốt đang từ khe giếng trời thốc thẳng vào trong. Bản lề cửa rỉ sét phát ra tiếng kêu cọt kẹt khô khốc, vang vọng ghê rợn giữa bốn bức tường quánh đặc mùi ẩm mốc. Toàn thân tôi rã rời, các thớ cơ ở bả vai run lên từng hồi vì kiệt sức. Cơn đau từ vết bỏng hình còng sắt nơi cổ tay trái bắt đầu giật giật theo từng nhịp tim đập. Tôi dựa lưng vào cánh cửa, hít vào một hơi thở lạnh buốt lồng ngực rồi từ từ thở ra bọt máu ứ đọng nơi đầu lưỡi.
Âm thanh rạn nứt từ phía bàn thờ tổ tiên lại vang lên lần thứ hai.
Rắc.
Tiếng động rất đanh, khô khốc như tiếng xương khô bị bẻ gãy. Tôi nén cơn đau nơi cổ tay, nhấc từng bước chân nặng trĩu tiến về phía góc tối bên trong gian phòng. Nơi đó đặt chiếc bàn thờ bằng gỗ mun sẫm màu, phía trên chỉ bày một lư hương đồng ba chân và một đĩa đựng mấy nén hương đã cháy cụt ngủn từ đêm rằm tháng trước.
Ánh sáng nhờ nhợ của buổi sớm hắt qua khe cửa sổ rách nát, soi rõ một đường nứt dài chạy dọc trên bức tường vôi phía sau bàn thờ. Vết nứt bắt đầu từ sát trần nhà, xé toạc lớp sơn vàng ố loang lổ rêu xanh, chẻ đôi bức tường bê tông rồi dừng lại ngay sau chân bàn thờ. Từng mảng vữa khô bong tróc rơi lả tả xuống sàn nhà, phát ra những tiếng lách tách nhỏ vụn.
Chấn động kinh hoàng từ đòn phản phệ lúc tôi mượn hướng gió bấc đánh ngược tà sát lên sân thượng đã không chỉ phá hủy trận đồ tà môn của kẻ giấu mặt. Sức ép của luồng khí xoáy còn dội ngược vào căn phòng này, xé toạc cấu trúc vốn dĩ đã mục ruỗng qua nửa thế kỷ.
Tôi vươn tay gạt nhẹ một mảng vữa lớn đang chực rơi. Lớp vôi mục nát sụp xuống, kéo theo một mảng gạch đỏ đã mủn ra như bột.
Phía sau lớp tường gạch đôi ấy không có cốt thép. Đó là một khoảng rỗng nhân tạo được khoét sâu vào thân tường, có kích thước chừng hai gang tay, sâu hút vào bóng tối.
Con mắt âm dương bên trái của tôi hơi co giật. Một luồng khí xám đục, lạnh ngắt từ trong hốc tường phả ra, khiến da thịt quanh vùng thái dương tôi nổi gai ốc. Khí tức này không có sát ý ngùn ngụt như thứ bùa chú của gã đàn ông mặc áo bà ba đêm qua, nhưng lại mang theo một nỗi oán hận thâm sâu, tích tụ qua hàng chục năm trời không được siêu tán.
Tôi rút chiếc đèn pin nhỏ bằng kim loại từ trong túi áo khoác, bấm nút. Ánh sáng trắng gom thành một quầng tròn quét vào hốc tối.
Bên trong khoảng rỗng là một chiếc hũ sành tráng men màu tro xám. Miệng hũ được bịt kín bằng một mảnh vải gai thô nhuộm màu vỏ dà, bên ngoài quấn nhiều vòng dây thừng bện từ sợi gai dầu đã ngả màu xỉn đen. Ở chính giữa nút thắt của sợi dây gai có đè một miếng chì mỏng cỡ đồng xu, trên mặt miếng chì khắc chìm một chữ triện đã mòn vẹt.
Không hề có bài vị đi kèm. Trên thân hũ sành hoàn toàn không có bất kỳ dòng chữ nào ghi tên tuổi, ngày sinh hay ngày tử của người nằm bên trong.
Đó là một hũ tro cốt vô danh, bị giấu kín sau bức tường của phòng 604 từ thời điểm người ta xây dựng nên khu tập thể này.
Bàn tay tôi khẽ run rẩy khi ngón tay chạm vào bề mặt nhẵn bóng nhưng lạnh như băng của chiếc hũ sành. Lớp men gốm phủ một tầng bụi mỏng xám xịt. Tổ phụ khi để lại căn phòng này cho tôi, chưa từng nhắc đến việc sau bức vách đặt bàn thờ họ Tô lại có một hũ cốt bị phong ấn bằng chì và dây gai dầu. Trong thuật phong thủy âm trạch, việc dùng chì và gai dầu để niêm phong tro cốt của một người chết là phương pháp trấn áp tàn khốc bậc nhất. Người xưa quan niệm chì nặng ngăn hồn vía bay lên cõi trời, còn gai dầu bện chặt sẽ trói chặt oán khí dưới cửu tuyền, khiến kẻ chết đi vĩnh viễn không thể siêu sinh, cũng chẳng thể tìm đường quay lại quấy nhiễu trần thế.
Kẻ nào đã bị giam hãm ở đây suốt mấy chục năm qua?
Và tại sao bàn thờ tổ tiên dòng họ tôi lại được đặt ngay phía trước hốc tường này, hệt như một tấm bia đá dùng để đè nén phong ấn bên dưới?
Cơn gió lạnh lùa qua khe hở của bức tường nứt khiến tàn hương trên bàn thờ bay mù mịt. Tôi lùi lại một bước, ánh mắt chuyển từ hũ tro cốt sang mặt bàn gỗ mun.
Cuốn Huyền Môn Quỷ Lục nằm chỏng trơ bên cạnh lư đồng. Cuốn sách bìa da dê sẫm màu, góc sách bọc đồng đã xỉn xanh vì thời gian. Dưới tác động của luồng tà sát dội ngược khi nãy, cuốn sách đã bị chấn bật tung ra, những trang giấy dó ngả vàng xòe rộng như một cánh quạt rách.
Tôi bước lại gần, cúi người định gấp sách lại để cất vào đáy rương gỗ. Nhưng khi bàn tay tôi vừa lướt qua những trang sách viết bằng mực chu sa đỏ au, một chi tiết bất thường đập thẳng vào mắt khiến tim tôi thắt lại.
Trang cuối cùng của cuốn sách đã biến mất.
Mép giấy nơi trang cuối bị xé rách nham nhở, để lại những sợi xơ mục màu vàng sẫm lởm chởm dọc theo đường chỉ khâu gáy sách. Vết rách hãy còn mới, mép xơ giấy chưa hề bị bám bụi, chứng tỏ việc này xảy ra ngay trong đêm, hoặc chậm nhất là vào lúc luồng sát khí bùng nổ rồi tan biến ngoài hành lang giếng trời.
Tôi vội vã lật giở từng trang từ đầu đến cuối. Những ghi chép về ngũ hành sát cục, cách nhận biết tà huyệt, những đồ hình chỉ dẫn lối đi giữa cõi âm và cõi dương vẫn còn nguyên vẹn bằng thứ mực son đỏ sẫm của tổ tiên. Ba điều răn cứng của dòng họ nằm trang trọng ở trang thứ ba, từng nét chữ chân phương như tạc vào giấy: không độ quỷ, không phá sát, không kết duyên âm.
Duy chỉ có trang cuối cùng bị tước đi mất.
Tôi nhớ rất rõ, tổ phụ từng dặn dò trước khi lâm chung rằng trang cuối của Quỷ Lục ghi chép về địa mạch của thành phố này, cùng bản đồ phân ba các âm huyệt từng bị phong bế dưới nền móng các khu tập thể cũ xây dựng từ thời kỳ trước. Quan trọng hơn cả, nửa trang dưới cùng chứa đựng ghi chép về nguồn cơn món nợ huyết hải giữa dòng họ Tô và những kẻ nắm giữ thuật pháp tà môn đang ẩn nấp trong lòng đô thị.
Vậy mà bây giờ, nửa phần ghi chép ấy đã không cánh mà bay.
Gió từ cửa sổ thốc vào làm lật phành phạch những trang giấy dó còn sót lại. Tôi lật tìm khắp mặt bàn thờ, rọi đèn pin xuống từng khe kẽ dưới chân tủ, chân tường, tìm kiếm quanh những mảng vữa rụng lả tả dưới sàn gạch.
Trống rỗng.
Mảnh giấy dó ấy chẳng hề rơi rớt trong phạm vi phòng 604. Nó đã biến mất hoàn toàn, tựa hồ bị luồng phong sát cuốn phăng ra ngoài giếng trời, hoặc đã bị bàn tay của kẻ nào đó nhân lúc hỗn loạn xé toạc mang đi.
Sự biến mất của trang sách để lại một khoảng trống hoác đầy đe dọa. Tôi đứng chết lặng giữa phòng, hai tai lùng bùng tiếng gió rít. Mùi máu tanh trong miệng lại trào lên, chua chát và đắng ngắt. Kẻ đứng sau giật dây gã đàn ông mặc áo bà ba đêm qua không hề hành động một cách mù quáng. Mục đích của chúng khi dồn dập tấn công, dùng tính mạng của hàng chục người trong khu chung cư để ép tôi phá giới, ngoài việc muốn hủy hoại đạo hạnh ba đời họ Tô, rất có thể chính là để nhắm vào trang sách định mệnh này.
Tôi đưa tay day day hai bên thái dương đang căng lên đau nhức. Đôi mắt mỏi mệt quét một vòng quanh căn phòng quen thuộc.
Khắp mặt sàn xi măng lát gạch hoa cũ kỹ la liệt những mảnh vỡ sáng choang. Chiếc gương bát quái bằng đồng treo trước cửa phòng đã rụng xuống từ lúc nào, mặt gương vỡ nát thành từng mảnh vụn li ti. Tấm gương soi toàn thân gắn bên hông tủ quần áo cũng nứt toác thành hình mạng nhện, nhiều mảnh thủy tinh sắc nhọn văng tung tóe khắp lối đi, cắm ngập vào mép chiếu cói trải dưới nền.
Tôi buông một tiếng thở dài khô khốc, với tay lấy chiếc chổi đót cũ mòn dựng ở góc cửa, cùng chiếc hót rác bằng nhựa màu đỏ đã bạc phếch.
Tôi ngồi thụp xuống sàn, bắt đầu thu dọn đống đổ nát.
Từng mảnh gương vỡ lách cách rơi vào lòng máng hót rác. Tiếng thủy tinh cọ xát vào nền gạch phát ra âm thanh ken két, buốt nhức đến tận chân răng. Tôi nhặt từng mảnh lớn bằng bàn tay, cẩn thận để cạnh sắc không cứa vào lớp da thịt đang rách rưới vì tà khí hành hạ.
Trong một mảnh gương vỡ to bằng bàn tay nằm nghiêng dưới chân bàn, khuôn mặt của chính tôi hiện lên rõ mồn một dưới ánh sáng rạng đông nhờ nhợ.
Khuôn mặt hốc hác, tái nhợt như xác chết trôi sông. Quầng thâm đen sì bao quanh hai hốc mắt sâu hoắm. Nhưng đáng sợ nhất là con mắt bên trái - con mắt âm dương thừa hưởng từ huyết mạch họ Tô. Lòng trắng của nó chằng chịt những tia máu đỏ lòm, con ngươi đen kịt hình như co rút lại thành một chấm nhỏ xíu, toát ra một vẻ u uất, lạnh lẽo đến rợn người.
Tôi nhìn chằm chằm vào hình bóng phản chiếu của mình trong mảnh vỡ.
Đêm qua, tôi đã sống sót. Bằng cách mượn hướng gió chuyển toàn bộ tà sát dội ngược lên sân thượng, tôi đã đẩy lùi được đòn tấn công hủy diệt của đối phương mà không hề tự tay phá bỏ trận pháp, cũng không hé nửa lời ước hẹn với ma nữ dưới đáy hầm. Ba điều răn của tổ phụ vẫn còn nguyên vẹn, kinh mạch của tôi chưa bị khế ước tổ tiên nghiền nát.
Nhưng cái giá phải trả thì hiện rõ ngay trước mắt.
Bức tường sau bàn thờ bị nứt, hé lộ một hũ tro cốt không tên đầy oán khí mà tôi chưa hề biết rõ lai lịch. Trang cuối cùng của cuốn bảo vật trấn môn bị xé rách, mang theo bí mật về mảnh đất này và kẻ thù thực sự lẩn khuất vào màn sương mù dày đặc của đô thị.
Đây hoàn toàn chẳng phải là một chiến thắng vẻ vang. Đó chỉ là một sự trì hoãn tạm bợ. Tôi vừa lách qua được một khe cửa hẹp giữa lằn ranh sinh tử, nhưng căn nguyên của mọi tai ương vẫn nằm nguyên vẹn dưới lớp nền móng ẩm ướt của khu chung cư này. Những kẻ đứng sau tấm màn nhung huyền môn ngầm vẫn đang ẩn nấp đâu đó ngoài kia, quan sát từng cử động của tôi qua bóng tối của các dãy hành lang.
Tôi gom mảnh vỡ cuối cùng vào xô rác, rồi đứng dậy. Khớp xương đầu gối kêu rắc một tiếng khô khốc.
Ngoài trời, bầu trời xám xịt bắt đầu chuyển dần sang màu trắng đục của một ngày mùa đông ảm đạm. Tiếng xe máy đầu tiên nổ giòn ngoài đường lớn vọng vào, báo hiệu nhịp sống xô bồ của cõi dương gian đang dần thức giấc, vô tình đè bẹp những dấu vết rùng rợn của một đêm gió tanh mưa máu vừa trôi qua.
Tôi quay đầu nhìn lại hũ tro cốt nằm sâu trong kẽ nứt của bức tường vôi. Chiếc hũ sành màu tro vẫn nằm im lìm trong bóng tối, lạnh ngắt và câm lặng, như thể một con mắt đang trừng trừng nhìn thẳng vào gáy tôi từ phía sau lưng.