Huyền Môn Quỷ Lục - Chương 38: Khép lại trận đồ hoang phế
Luồng gió rít lên từ đáy giếng trời bốc thẳng lên cao, cuốn theo mùi ẩm mốc của bùn rác và vị tanh nồng của máu tế. Không khí trong lồng thông tầng đặc…
Nội dung chương
Luồng gió rít lên từ đáy giếng trời bốc thẳng lên cao, cuốn theo mùi ẩm mốc của bùn rác và vị tanh nồng của máu tế. Không khí trong lồng thông tầng đặc quánh lại, xoáy cuồn cuộn thành một cột khí đen thẫm bốc ngược từ lòng đất lên thẳng nóc nhà. Chiếu nghỉ tầng sáu chịu trận nặng nề nhất khi cột phong sát va chạm vào trần bê tông loang lổ phía trên đầu tôi.
Răng rắc.
Tiếng nứt toác đầu tiên vang lên từ khung cửa sổ cũ kỹ cuối dãy hành lang. Tiếp theo đó là chuỗi âm thanh chói tai liên tiếp nổ ra dọc theo lối đi. Những ô kính mờ ố vàng, bám bụi suốt mấy chục năm qua, đồng loạt vỡ tung dưới sức ép tàn bạo của luồng tà khí. Mảnh thủy tinh nhọn hoắt bắn tung tóe, rơi lả tả xuống sàn xi măng, cào rách những mảng vôi tường đang bong tróc từng mảng lớn.
Gió giật từng cơn điên loạn, tạt rát rạt vào mặt tôi. Bụi vôi bay mù mịt quyện với mùi tanh tưởi khiến lồng ngực tôi nghẹn ứ, từng nhịp thở trở nên nặng nề như nuốt phải cát nóng.
Dưới lan can tầng năm, ông Tôn vẫn đang buông thõng hai tay, thân thể nghiêng hẳn ra ngoài khoảng trống rợn người. Sợi tơ xám cắm trên đỉnh đầu ông ta rung lên bần bật, căng cứng dưới áp lực của luồng sát khí đang rút dần thần trí người sống. Những người khác dọc theo hành lang các tầng dưới cũng bắt đầu chúi người qua thành gờ bê tông, tròng mắt trợn ngược trắng dã, chỉ chờ một lực đẩy cuối cùng để lao mình xuống đáy vực sâu hun hút.
Gã đàn ông mặc áo bà ba đứng ở chiếu nghỉ tầng năm ngửa cổ cười sằng sặc. Giọng gã như tiếng hai lưỡi dao rỉ sét cọ xát vào nhau, rạch ngang qua tiếng gió gầm rú:
Họ Tô các người nổi danh giữ đạo, giữ đến mức nhìn người ta rơi đầu trước mắt mà không dám động đậy ngón tay! Đạo hạnh ba đời của tổ phụ nhà mày hóa ra chỉ là cái mai rùa rách nát để trốn chui trốn nhủi!
Tôi không đáp lời gã. Tôi cắn chặt răng, nuốt ngược vị máu tanh ngắt nơi cuống họng, lùi một bước dài về phía cửa phòng 604.
Bàn tay phải của tôi rút chậm rãi khỏi túi áo khoác.
Ba lá bùa Hoàng Thần Phù vẫn nằm nguyên vẹn giữa các kẽ ngón tay, mép giấy vàng sậm và thô ráp áp vào lòng bàn tay lạnh ngắt. Tôi không phóng bùa ra ngoài không trung. Điều răn thứ hai của dòng họ Tô cấm tiệt việc dùng pháp lực phá sát. Phá sát là cưỡng lại thiên địa tuần hoàn, tự đặt bản thân vào vị trí can thiệp nghiệp báo cõi dương gian, đổi lại sẽ là sự trừng phạt tàn khốc từ khế ước trói chặt vào máu mủ ba đời.
Nhưng không phá sát, chẳng đồng nghĩa với việc khoanh tay chịu trói.
Tổ tiên truyền lại cuốn Quỷ Lục chưa từng dạy con cháu phải trở thành những kẻ ngu trung chịu trận trước đòn thù của kẻ ác. Kẻ hành pháp tầm thường chỉ biết dùng lực chống lực, dùng chú diệt chú, để rồi tự hủy hoại bản thân trong vòng xoáy nhân quả. Những người am hiểu phong thủy huyền môn xưa nay đều hiểu đạo lý thuận theo tự nhiên mà xoay chuyển càn khôn.
Kẻ giấu mặt trên sân thượng dùng trận đồ giếng trời để tụ sát thành đao, mượn trục đứng thông tầng làm ống dẫn khí độc. Chúng biến toàn bộ khu chung cư cũ này thành một miệng phễu khổng lồ hút cạn dương khí xung quanh. Điểm yếu chí mạng của một trận đồ tụ khí theo phương thẳng đứng chính là hướng gió tự nhiên của đất trời.
Đêm nay, gió mùa đông bắc đang tràn về khắp các ngõ ngách thành phố.
Gió bấc rít qua những khe hở của các tòa cao ốc xung quanh, đập thẳng vào mặt ngoài phía bắc của khu tập thể, luồn qua khung cửa sổ đang mở hé của gian phòng 604.
Tôi giật mạnh cánh cửa gỗ phòng 604, mở toang ra hết cỡ về phía hành lang.
Cơn gió lạnh buốt từ ngoài phố lập tức ùa vào phòng qua khung cửa sổ sổ, mang theo hơi lạnh tê cóng đặc trưng của mùa đông miền bắc. Hai luồng khí đối nghịch nhau chạm trán ngay trước ngưỡng cửa: luồng uế khí ẩm tanh từ giếng trời bốc lên và luồng hàn phong khô khốc từ phương bắc tràn tới. Chúng xoắn lấy nhau, tạo thành những tiếng rít the thé nghe như tiếng da thịt bị xé toạc bên tai.
Tôi sải bước nhanh đến góc tường bên trái, nơi đặt chậu cây cảnh đã chết khô từ nhiều tháng trước. Thân cây khẳng khiu, cành lá trơ trọi xám ngắt cắm sâu trong chậu gốm nung màu nâu thẫm dày cộp. Tôi dùng gót giày đá mạnh vào đáy chậu, dịch chuyển khối đất nung chếch sang hướng tây nam đúng ba tấc.
Két!
Đáy chậu gốm ma sát gắt gao trên nền gạch hoa cũ kỹ, để lại một vệt xước xám dài trên sàn nhà.
Vị trí này chính là tử môn của gian phòng, nơi tiếp giáp trực tiếp với bức tường chịu lực bằng bê tông dày nhất của tòa nhà. Khi chậu cây chết khô dời vào đây, nó lập tức chặn đứng đường thoát của luồng âm hàn tích tụ bên trong, biến góc chết u tối thành một bức bình phong tự nhiên bằng thổ khí. Gió lạnh tràn từ cửa sổ vào phòng không thể tản mác ra các ngóc ngách, buộc phải nén lại rồi dội ngược về phía cửa chính.
Việc tiếp theo nằm ở tấm gương.
Trên mí cửa ra vào phòng 604 có treo một chiếc gương bát quái bằng đồng cổ kính, viền bọc gỗ đào đã nứt nẻ nhiều đường vì sương gió thời gian. Mặt gương tráng thủy mờ đục, khắc hình bát quái tiên thiên cùng đồ hình âm dương xoay tròn ở tâm điểm.
Tôi bước lên mép bậu cửa, vươn cánh tay đang nhức nhối tóm lấy vành gỗ đào.
Khớp xương bả vai tôi buốt nhói như có hàng trăm mũi kim đâm thấu. Cơn đau từ vệt còng sắt trên cổ tay trái lại râm ran co giật từng chập, nhắc nhở về ranh giới mong manh của lời thề ba đời. Máu từ vết nứt trên da thịt rỉ ra, chảy dọc theo cẳng tay áo len cũ mòn. Tôi cắn chặt quai hàm, dồn hết sức lực bình sinh vào năm đầu ngón tay phải.
Tôi không tháo chiếc gương xuống. Tôi dùng ngón tay cái bấu chặt cạnh dưới bằng gỗ, vặn nghiêng khung gương một góc bốn mươi lăm độ sang mé bên phải, hướng thẳng mặt kính lồi về phía tâm lõi của giếng trời sâu thẳm.
Bát quái xoay vần, khảm vị đổi sang cấn vị.
Càn tam liên, khôn lục đoạn. Mượn phong chuyển sát, trả lại nguyên hình.
Tôi gằn từng chữ qua kẽ răng, giọng nói trầm thấp chìm nghỉm giữa tiếng gió gầm rú nhưng dứt khoát như đinh đóng cột.
Ngay khi mặt gương đồng cố định ở góc nghiêng mới, luồng gió bấc từ cửa sổ phòng 604 ùa ra bị chặn lại bởi chậu cây góc phòng, dồn toàn bộ áp lực khí động học phóng thẳng ra cửa chính. Gió lạnh đập vào mặt gương bát quái lồi, bẻ cong quỹ đạo của chính nó thành một dải xoáy hẹp, sắc bén và lạnh lẽo tột cùng.
Dải gió đông bắc không còn tản mạn ngoài phố nữa. Nó bị mặt kính bát quái khúc xạ, lao thẳng vào lòng giếng trời như thể một lưỡi rìu băng giá bổ ngang không trung.
Oành!
Một tiếng nổ trầm đục vang lên giữa khoảng không gian tầng lầu, như thể hai tảng đá ngầm khổng lồ va chạm dữ dội dưới đáy dòng nước xiết.
Cột hắc khí đang cuộn xoáy bốc lên từ hầm chung cư bỗng khựng lại giữa chừng. Khi chạm phải lưỡi gió đông bắc bị bẻ cong phương vị, cấu trúc xoắn ốc của tà trận lập tức mất đi trọng tâm nâng đỡ. Thế sát hình phễu không thể tiếp tục bốc thẳng lên trần tầng sáu, mà bị lực gió mới ép xoay ngược chiều kim đồng hồ với tốc độ xé gió.
Phương vị của trận pháp đảo lộn hoàn toàn.
Sát khí tích tụ từ máu huyết và oán niệm dưới đáy hầm bị bẻ quặt một góc chín mươi độ, đổi hướng cuốn ngược lên nóc tòa nhà, nơi gió bấc đang gầm rít dữ dội nhất trên nền trời đêm.
Dưới lan can tầng năm, những sợi tơ xám mảnh như sợi tóc đang cắm trên đầu người dân bỗng rung lên bần bật rồi căng đứt từng sợi một.
Phựt! Phựt!
Âm thanh đứt đoạn vang lên khô khốc trong không gian hỗn loạn.
Mất đi lực kéo của trận pháp tà môn, thân hình ông Tôn thợ khóa chao đảo rồi ngã ngửa về phía sau, rơi phịch xuống sàn hành lang tầng năm. Bên cạnh ông, người phụ nữ trẻ và những người khác cũng đồng loạt khuỵu chân ngã sóng soài trên mặt bê tông lạnh ngắt. Họ nằm bất động, hơi thở yếu ớt nhưng lồng ngực đã bắt đầu phập phồng đều đặn trở lại. Vệt bọt mép quanh khóe môi họ từ từ khô đi dưới cơn gió buốt đang tản mạn khắp nơi.
Họ đã thoát khỏi miệng vực thẳm mà không cần một lá bùa giải cứu nào.
Tôi đứng tựa vào ngưỡng cửa phòng 604, hai tay buông thõng, ngực phập phồng dữ dội sau từng nhịp thở gấp gáp. Tôi không dùng một tấc pháp lực nào để phá trận. Tôi không hề ra tay đối đầu trực diện với tà pháp của kẻ địch. Tôi chỉ đơn giản mở cửa đón gió đông, xoay lại một tấm gương cũ và dời một chậu đất nung.
Lực sát vẫn là lực sát của kẻ bày trận. Gió đông vẫn là gió tự nhiên của đất trời. Tôi chỉ làm một người đứng bên lề, mượn gió bẻ gãy phương vị của lưỡi đao tà môn.
Thế nhưng, kẻ gieo gió thì ắt phải gặt bão.
Luồng tà lực khổng lồ sau khi bị bẻ cong không hề tiêu tán vào hư không. Nó bị dồn nén thành một cơn lốc đen đặc quánh, nương theo sức hút cực đại của gió bấc trên cao, phóng thẳng lên đỉnh sân thượng chung cư với sức tàn phá kinh hồn bạt vía.
Toàn bộ tà lực tích tụ từ đầu đêm đến giờ, cộng hưởng với sát niệm của chính những kẻ hạ chú, lập tức dội ngược trở lại đỉnh đầu của kẻ phát động trận đồ.
Á a a a!
Một tiếng rú rợn người, xé toạc màn đêm u tối vọng xuống từ trên mái nhà.
Đó không phải tiếng thét của người bình thường, mà là tiếng gầm rú của kẻ đang bị chính tà thuật của bản thân phản phệ, nghiền nát lục phủ ngũ tạng từ bên trong. Tiếng rú the thé, đứt quãng, nghẹn ứ lại bởi máu tươi trào ra đầy họng, nghe ghê rợn gấp mười lần tiếng gió hú ngoài hành lang.
Ngay sau tiếng hét thảm thiết ấy là chuỗi âm thanh đổ vỡ liên hồi vọng xuống từ sàn bê tông sân thượng.
Choảng! Rầm!
Tiếng hũ sành gốm sứ vỡ nát tan tành dưới sức ép của cơn lốc tà sát. Tiếng những thanh gỗ đào phạt ngang gãy vụn thành nhiều mảnh nhỏ. Tiếng chuông đồng rung lên những hồi ai oán, chói gắt rồi tắt phụt khi kim loại nứt toác dưới áp lực của luồng phản phệ hung bạo.
Những thứ pháp cụ tà môn dùng để dẫn dắt quỷ trận đã bị luồng tà sát quay đầu đập nát vụn hoàn toàn. Mùi tanh của máu tế hòa lẫn với mùi cháy khét lẹt của lông tóc và dầu thắp bốc xuống nồng nặc dọc theo lòng giếng trời, xộc thẳng vào mũi tôi khiến dạ dày cồn cào từng cơn buồn nôn khó tả.
Dưới chiếu nghỉ tầng năm, gã đàn ông mặc áo bà ba khựng lại giữa chừng. Gã ôm chặt lấy lồng ngực gầy guộc, hai mắt trợn trừng nhìn lên khoảng không tối tăm trên đầu mình.
Một ngụm máu đen ngòm phun ra từ miệng gã, bắn tung tóe lên bức tường vôi loang lổ rêu mốc bên cạnh. Sợi chỉ ngũ sắc trên tay gã bốc cháy ngùn ngụt, ngọn lửa xanh lè liếm láp vào da thịt khiến gã gào lên đau đớn, quằn quại giữa hành lang.
Mượn gió... di cung hoán vị... Gã đàn ông run rẩy lùi lại từng bước, hai đầu gối run lên bần bật va vào nhau lách cách. "Mày... mày không hề phá trận... mày dám mượn đao giết người..."
Tôi lạnh lùng nhìn xuống gã từ góc hành lang tầng sáu, hai mắt phẳng lặng như mặt hồ đóng băng, không buồn mở miệng đáp lại nửa lời.
Gã đàn ông biết đại thế đã hoàn toàn sụp đổ. Kẻ đầu sỏ thi pháp trên sân thượng đã gục ngã dưới đòn phản phệ chí mạng, trận đồ bằng máu dưới đáy hầm chung cư cũng hoàn toàn tắt ngấm ánh sáng xanh ma quái, chỉ còn trơ lại những vệt máu thâm xì đang khô quắt trên nền gạch ẩm ướt. Gã ôm cánh tay cháy đen thui rụi, lảo đảo quay người, cắm đầu cắm cổ tháo chạy thục mạng xuống cầu thang thoát hiểm phía sau dãy nhà. Tiếng bước chân hoảng loạn của gã dồn dập nện trên bậc bê tông rồi nhỏ dần, chìm hẳn vào bóng tối sâu hun hút của khu tập thể.
Gió bấc vẫn tiếp tục rít qua hành lang tầng sáu, nhưng luồng uế khí ẩm mốc ngột ngạt đã bị thổi bạt đi quá nửa, nhường chỗ cho không khí lạnh buốt của trời đêm.
Khắp sàn hành lang tầng sáu la liệt những mảnh thủy tinh vỡ vụn, sáng lấp lánh dưới ánh đèn đường vàng vọt hắt qua khung cửa thông gió rách nát. Khu nhà rơi vào một khoảng lặng chết chóc, chỉ còn lại tiếng rên khẽ của những người sống sót đang dần hồi tỉnh ở các tầng dưới và tiếng gió đông va đập vào những thanh sắt hoen gỉ trơ trọi trên sân thượng.
Tôi thở hắt ra một hơi dài buốt giá, buông lỏng bàn tay đang bám chặt lấy bậu cửa gỗ.
Cơn mệt mỏi cùng cực ập tới như một đợt sóng ngầm, kéo giật cả thân người tôi chùng xuống. Vết bỏng hình còng sắt nơi cổ tay trái vẫn bỏng rát âm ỉ, máu tươi thấm ướt đẫm nửa ống tay áo len. Thế nhưng, tôi biết rất rõ, phong ấn ba đời vẫn đứng vững vàng. Khế ước tổ tiên không hề bị kích hoạt để bẻ gãy kinh mạch của tôi, bởi vì tôi chưa từng phá sát, cũng chưa từng phạm vào nửa câu thề hẹn.
Tôi quay lưng bước vào bên trong phòng 604, toan khép cánh cửa gỗ cũ kỹ lại để ngăn cơn gió lạnh đang tạt vào buốt nhức xương tủy.
Thế nhưng, bàn chân tôi vừa chạm vào ngạch cửa, một âm thanh trầm đục bỗng vang lên từ góc tối sâu nhất bên trong căn phòng.
Rắc.
Đó là tiếng nứt toác của một mảng vôi vữa khô cứng bị lực vô hình xé toạc.
Âm thanh khô khốc ấy phát ra từ chính bức tường phía sau bàn thờ tổ tiên họ Tô.