Huyền Môn Quỷ Lục - Chương 35: Lời thề khắc sâu trong tủy

Đúng canh ba, tiếng gõ cửa buồng phòng 604 vang lên theo nhịp ba hồi ngắn một hồi dài, đúng quy cách điểm chỉ gọi hồn người chết. Cốc, cốc, cốc... Cộc.…

Nội dung chương

Đúng canh ba, tiếng gõ cửa buồng phòng 604 vang lên theo nhịp ba hồi ngắn một hồi dài, đúng quy cách điểm chỉ gọi hồn người chết.

Cốc, cốc, cốc... Cộc.

Âm thanh khô khốc đập thẳng vào thớ gỗ mục rữa của cánh cửa ra vào, dội vào lồng ngực tôi từng nhịp nghẹn ứ. Đó là thứ âm hưởng nặng nề, trầm đục, không phát ra từ đốt ngón tay người sống. Khớp xương gõ lên mặt gỗ phát ra tiếng va đập sắc cạnh như dùng đá mài cọ vào then cài rỉ sét. Tôi đứng chôn chân giữa căn phòng, hai tai lùng bùng trong luồng áp suất hạ đột ngột.

Cây kim trên chiếc la bàn đồng đặt ở góc bàn học không còn xoay tròn nữa. Nó chúi đầu thẳng xuống mặt kính, rung bần bật từng cơn liên hồi. Mùi dầu hỏa cạn đáy cùng mùi ẩm mốc bốc lên từ các kẽ nứt sàn nhà khiến lồng ngực tôi bỏng rát. Vệt bỏng hình còng sắt nơi cổ tay trái giật giật từng cơn theo đúng nhịp gõ cửa bên ngoài.

Cốc, cốc, cốc... Cộc.

Nhịp điệu không hề suy suyển. Ba tiếng dồn dập cách nhau nửa giây, rồi một khoảng ngắt kéo dài đúng bằng một hơi thở tàn, trước khi cú gõ cuối cùng dộng mạnh khiến cánh cửa gỗ chấn động nhẹ. Cát bụi li ti từ khe hở trên khung bao rụng lả tả xuống sàn xi măng.

Trong sách cổ của dòng họ truyền lại, đây là lối "Tam âm nhất sát quy hồn khấu". Kẻ gõ cửa không tìm người sống để đàm đạo. Tiếng gõ này dùng để điểm danh những cái tên đã nằm dưới đáy mồ, hoặc gọi một món nợ phong ấn đã tích tụ qua nhiều đời.

Tôi nuốt ngụm nước bọt đặc quánh, bước chầm chậm về phía cửa chính. Mỗi bước chân của tôi đặt xuống nền nhà đều vô cùng cẩn trọng, cố gắng không tạo ra bất kỳ tiếng động nào. Chiếc bóng của tôi dưới ánh đèn bốn mươi oát leo lét thu ngắn lại dưới gót chân, mép bóng run rẩy như bị một lực hút vô hình dưới sàn kéo giật về phía Trấn Âm Cốt.

Tôi tiến sát tới mép gỗ, đưa mắt nhìn qua lỗ mắt mèo gắn trên thân cửa. Lớp kính mắt mèo đã ố vàng theo năm tháng, phủ một lớp bụi mỏng và những vết xước dăm li ti.

Bên ngoài hành lang tầng sáu chìm trong bóng đêm hun hút.

Không có bóng người nào đứng đó.

Ánh đèn hành lang phía xa đã tắt ngúm từ lâu. Cửa sổ thông gió ở đầu hồi cầu thang bộ mở toang, gió đêm lùa vào thổi tung những mảnh rác khô bay là là trên nền bê tông. Dưới mắt trần, hành lang hoàn toàn vắng lặng, chỉ có dải tối đen ngòm trải dài từ đầu này sang đầu kia khu nhà. Thậm chí cả thân xác của Trần Khang vốn nằm thoi thóp trước đó cũng biến mất tăm, không để lại bất kỳ vệt máu kéo lê nào trên mặt sàn. Chỉ còn một khoảng không hoang phế, lạnh ngắt và tĩnh mịch đến rợn người.

Thế nhưng, luồng khí lạnh buốt phả qua khe cửa lại mang theo mùi tanh nồng của bùn lầy đáy sông và mùi đất ẩm của huyệt mộ vừa đào xới.

Tôi nhắm mắt phải lại, mở to con mắt âm dương bên trái.

Cảnh tượng lập tức đảo lộn hoàn toàn.

Ngay sát bên ngoài tấm ván cửa, cách chóp mũi tôi chưa đầy hai tấc qua lớp gỗ dày, một khối bóng đen đặc quánh đang ép chặt toàn bộ cơ thể vào cánh cửa. Khối bóng đen ấy không có hình thù rõ ràng, xù xì và nhớp nháp như một bọc nhựa đường sôi trào. Nó dính chặt từ mép trên khung cửa xuống tận bậu cửa bên dưới, ép phẳng lì vào mặt gỗ như một tấm da người bị lột sống rồi căng ra phơi khô.

Khuôn mặt của nó in hằn lên bề mặt thớ gỗ. Hai hốc mắt trũng sâu không có tròng, chỉ là hai cái lỗ đen ngòm đang rỉ ra từng giọt dịch lỏng sền sệt, nhỏ tí tách xuống ngạch cửa. Cái miệng của nó rộng toác kéo dài đến tận mang tai, bên trong ken dày những chiếc răng nhọn hoắt dính đầy bùn cặn.

Khi tôi nín thở nhìn trừng trừng vào nó, khối bóng đen khẽ ngọ nguậy. Những ngón tay dài ngoằng, khẳng khiu như cành củi khô bọc một lớp da mốc thếch từ từ nâng lên. Từng chiếc móng tay thâm đen, dài hơn nửa đốt ngón tay cào nhẹ lên thớ gỗ, tạo ra tiếng ken két chói tai.

Nó biết tôi đang đứng sau cánh cửa.

Nó biết tôi đang nhìn nó qua lớp gỗ mục.

Tô... Trường... Phong...

Một giọng nói thì thầm luồn lách qua khe hở của khung bao cửa, rớt vào tai tôi.

Âm thanh đó không giống tiếng nói của người sống. Nó khàn đặc, ồm ồm như tiếng hai hòn đá sỏi cọ xát dưới đáy giếng sâu, lại có lúc the thé như tiếng rít của luồng gió độc lùa qua khe nứt vách đá. Từng âm tiết kéo dài lê thê, mang theo một sức nặng u ám dội thẳng vào màng nhĩ:

Tô Trường Phong... Nợ máu... Trả bằng máu...

Tô Trường Phong. Đó chính là tên húy của ông nội tôi.

Cái tên này từ lâu đã bị xóa khỏi gia phả trần thế, không còn ai trong khu phố cũ này nhớ đến ngoài những trang giấy úa vàng trong cuốn sổ ghi chép dòng họ mà tôi cất kỹ dưới đáy hòm. Vậy mà giờ đây, thứ tà vật bên ngoài cánh cửa lại gọi đích danh ông nội tôi bằng thứ giọng điệu oán hận đến tận xương tủy.

Vệt bỏng trên cổ tay trái tôi bỗng bốc cháy như bị áp than hồng. Cơn đau nhức dữ dội lan nhanh dọc theo cánh tay lên tới bả vai, khiến tôi phải cắn chặt môi đến bật máu để không bật ra tiếng rên rỉ. Mùi máu tanh trong khoang miệng kích thích các dây thần kinh đang căng như dây đàn.

Năm mươi năm trước... Mạch Khảm bị khóa... Máu người ngưng đọng...

Tiếng thì thào bên ngoài tiếp tục vang lên, đều đặn và lạnh lẽo:

Đá trấn đã nứt. Lời thề đã mòn. Họ Tô trốn được nửa đời, không trốn được kiếp này. Kẻ giấu mặt đòi lại mạng. Đến hạn phải hoàn trả ngay.

Từng lời nói của nó như những nhát búa nện thẳng vào màng nhĩ tôi. Tôi hiểu rõ ngọn ngành của món nợ này. Năm xưa khi ông nội tôi dựng nên Trấn Âm Cốt tại căn phòng 604 để ngăn chặn tử huyệt ngầm bộc phát, ông đã dùng một phần phong thủy của khu đất này để giam hãm luồng tà khí dưới lòng mạch nước. Món nợ phong ấn ấy không tự nhiên biến mất. Nó bị nén chặt dưới lòng đất suốt nửa thế kỷ qua, tích tụ cùng với oán hận của những kẻ chết trôi chết dạt, chờ đợi ngày Trấn Âm Cốt suy yếu để trồi lên đòi lại từng giọt sinh khí của hậu duệ họ Tô.

Răng rắc!

Tiếng vôi vữa nứt toác đột ngột vang lên từ góc trên của khung cửa sắt.

Móng tay của bóng đen bên ngoài bắt đầu cắm phập vào khe hở giữa khung sắt và bức tường gạch. Những chiếc móng đen ngòm ngoáy sâu vào lớp vữa mục, cào cấu điên cuồng. Vữa vụn rơi rào rào xuống mặt sàn. Từng vệt tà khí màu đen sì như khói độc bắt đầu luồn qua khe nứt vừa mở rộng, tràn vào bên trong phòng 604.

Khí lạnh trong phòng lập tức hạ xuống mức đóng băng. Hơi thở của tôi phả ra biến thành từng làn khói trắng xóa. Ngọn đèn tròn bốn mươi oát trên trần nhà chớp giật liên hồi, ánh sáng đỏ quạch như máu rồi tắt ngấm.

Căn phòng chìm vào bóng tối đặc quánh. Ánh trăng mờ đục ngoài ban công hắt vào chỉ đủ soi rõ những mảng nứt nẻ trên tường xi măng.

Mở cửa... Trả nợ...

Bóng đen bên ngoài rít lên. Lực cào cấu mạnh hơn gấp bội. Cánh cửa gỗ rung chuyển dữ dội dưới sức ép vô hình từ hành lang. Bốn chiếc móng tay sắc nhọn đã xuyên thủng qua lớp vữa mủn, thò hẳn những đầu ngón tay khẳng khiu, xám ngoét vào bên trong không gian phòng khách. Đầu ngón tay nó ngọ nguậy, rỉ ra những giọt nước đen ngòm bốc mùi hôi thối nồng nặc.

Cứ theo đà này, chỉ chưa đầy vài nhịp thở nữa, toàn bộ lớp vữa giữ khung bao cửa sẽ bị bẻ gãy hoàn toàn. Một khi cánh cửa sụp đổ, luồng tà sát tích tụ nửa thế kỷ dưới tử huyệt sẽ tràn vào phòng, quét sạch mọi thứ và kích nổ viên đá Trấn Âm Cốt dưới góc sàn.

Tôi lùi lại nửa bước, thò tay vào túi áo khoác lấy ra một chiếc lọ sành nhỏ buộc dây đỏ.

Bên trong là bột chu sa thượng hạng được tôi tinh luyện cùng bột hùng hoàng và tàn hương nơi bàn thờ tổ tông, thứ chuyên dùng để định giới trừ tà. Ngón tay cái của tôi bật tung nút bấc, mùi nồng hắc đặc trưng lập tức lan tỏa trong không khí lạnh giá.

Tôi không được phép phá sát. Lời răn tổ phụ cấm tiệt con cháu họ Tô dùng pháp thuật để tiêu diệt hay hóa giải tà khí của khu vực này, bởi hành động đó sẽ kích hoạt phản phệ của khế ước ba đời. Nhưng tự vệ, lập lằn ranh ngăn cách giữa hai cõi âm dương lại là quyền căn bản của kẻ trấn giữ đất.

Tôi quỳ một gối xuống nền xi măng ẩm ướt, dốc ngược lọ sành, rải một vệt bột chu sa đỏ thẫm kéo dài từ mép tường bên trái sang mép tường bên phải, chạy thẳng ngang qua bậu cửa.

Đường chu sa vừa vạch xong, đầu ngón tay của bóng đen bên ngoài vừa vặn chạm tới mép trong của ngạch cửa.

Xèo!

Một tiếng nổ lẹt đẹt vang lên như mỡ sôi đổ vào chảo lửa.

Khói trắng bốc lên nghi ngút từ điểm tiếp xúc giữa lớp bột chu sa và móng vuốt của bóng đen. Mùi khét lẹt của thịt thối bị nung cháy tỏa ra nồng nặc khiến tôi phải đưa ống tay áo lên che mũi. Khối bóng đen bên ngoài rống lên một tiếng gầm gừ đau đớn, âm thanh the thé chói tai như kim loại cào vào kính.

Nó giật mạnh bàn tay lùi lại. Những chiếc móng sắc nhọn quệt mạnh vào khung sắt, để lại những rãnh sâu hoắm trên lớp kim loại rỉ sét.

Đường chu sa màu đỏ tươi dưới chân tôi bỗng rực lên một vệt sáng mờ nhạt rồi nhanh chóng xỉn màu lại, chuyển dần sang màu nâu đen như máu khô. Khí độc bên ngoài bị chặn đứng lại bên kia bậu cửa, quẩn quanh cuồn cuộn thành một bức màn đen kịt, không thể tiến thêm nửa tấc vào bên trong phòng 604.

Cánh cửa gỗ ngừng rung chuyển.

Tiếng gõ cửa điểm chỉ gọi hồn cũng đột ngột im bặt.

Không gian trong phòng rơi vào sự tĩnh lặng nghẹt thở. Tôi vẫn giữ nguyên tư thế quỳ một gối, bàn tay phải nắm chặt chiếc lọ sành rỗng, con mắt âm dương không rời khỏi khe hở trên khung cửa dù chỉ nửa khắc.

Qua khe nứt nham nhở vôi vữa, khối bóng đen bên ngoài không hề tan biến. Nó vẫn đứng đó, ép sát khuôn mặt vặn vẹo vào khe hở nhỏ hẹp. Đôi hốc mắt rỉ dịch đen ngòm trừng trừng nhìn thẳng vào tôi qua bóng tối.

Cái miệng toác rộng của nó co giật từng chập, hé lộ hàm răng lởm chởm. Dù không còn phát ra tiếng gầm gừ, nhưng những thớ thịt xám xịt trên mặt nó đang run rẩy theo một nhịp điệu quái đản.

Nó không thể vượt qua lằn ranh chu sa để bước vào phòng.

Nhưng nó cũng không rời đi.

Một luồng gió rét buốt từ khoảng giếng trời phía sau lưng tôi bất ngờ thổi thốc qua cửa sổ ban công, mang theo tiếng nước rỏ giọt tí tách từ trên mái nhà cao tầng vọng xuống, từng giọt từng giọt nặng nề rơi vào đêm sâu.

Chương khác

Xem thêm