Huyền Môn Quỷ Lục - Chương 32: Bức họa hoen ố vì sương
Nhiệt độ trong phòng 604 tụt dốc không phanh khi kim đồng hồ nhích dần qua mười hai giờ đêm. Hơi lạnh không trôi bồng bềnh ngoài không khí mà chìm rạp…
Nội dung chương
Nhiệt độ trong phòng 604 tụt dốc không phanh khi kim đồng hồ nhích dần qua mười hai giờ đêm. Hơi lạnh không trôi bồng bềnh ngoài không khí mà chìm rạp xuống sàn xi măng, bò qua mu bàn chân tôi bằng sự buốt giá của kim loại ngâm dưới đáy giếng hoang. Đêm nay là đêm trước tiết Hàn Lộ, cữ chuyển mùa sắc nhọn nhất trong năm của vùng đất này, khi khí trời đổi chiều và luồng u ám dưới các cống ngầm bắt đầu lộn ngược lên mặt đất.
Áp lực nặng nề từ sàn tầng bảy bên trên trần nhà đột ngột chững lại. Cái bóng tròn gồ ghề trườn trên góc tường vữa biến mất tăm, nhưng cảm giác ngột ngạt không hề tan biến. Khí ẩm mang theo mùi tanh của rêu mốc rút tuột về phía lối ra vào, tụ lại thành một khối đặc quánh ngay sau cánh cửa gỗ ép đã phồng rộp.
Mảng vôi tường sát ổ khóa cửa bắt đầu đổi màu. Lớp sơn xanh nhạt bong tróc từng mảng lớn, để lộ cốt gạch xám xịt bên trong. Từ các kẽ nứt li ti, một lớp nước màu vàng sẫm rỉ ra, đặc quánh và nhờn dính, bốc lên mùi mỡ người ôi thiu trộn lẫn bùn lầy. Dòng nước rỉ không chảy tràn xuống đất mà đọng lại thành từng vệt dài ngoằng ngoèo, uốn lượn rồi cô đọng thành hình dạng năm ngón tay khô quắt, cào sâu vào bề mặt vôi mục tạo thành những rãnh đen sì.
Năm ngón tay vữa ấy bấu chặt lấy mép khuôn cửa, run bần bật theo từng nhịp co thắt của bức tường.
Tôi nắm chặt cán con dao găm, giữ nguyên tư thế đứng giữa phòng, mắt âm dương găm thẳng vào tay nắm cửa bằng sắt hoen rỉ. Lớp sắt nguội ngắt ấy đang bị nung nóng bởi một luồng tà khí vô hình, rỉ ra những giọt mồ hôi kim loại đỏ au như huyết thanh.
Cộc. Cộc. Cộc.
Tiếng gõ cửa vang lên, khô khốc và gấp gáp, làm rung chuyển cả cánh gỗ mỏng manh. Âm thanh không mang sự đĩnh đạc của người ghé thăm lúc nửa đêm, mà chứa đầy sự hoảng loạn tột cùng của một kẻ đang bị dồn đến bước đường cùng.
Cậu Tô... mở cửa... cứu mạng...
Giọng nói nghẹn đặc, khản đặc quẹt qua khe cửa gỗ, đứt quãng giữa những cơn thở dốc như người sắp tắt thở. Kèm theo tiếng người là âm thanh sột soạt ghê rợn của móng tay cào cấu điên cuồng lên mặt gỗ bên ngoài.
Tôi nhận ra giọng nói ấy. Đó là Trần Khang, gã chuyên gom nhặt đồ thờ cúng cũ và pháp khí phế liệu ở khu chợ trời lề đường Nam Phố. Cách đây nửa tháng, chính Trần Khang đã bán cho tôi nửa lạng bột chu sa tự nhiên chưa pha tạp và ba xâu chỉ đỏ dệt bằng tơ tằm cổ. Gã là một kẻ lăn lộn ở rìa ngoài giới huyền môn nội thành, biết một chút thuật bói toán vụn vặt và xem hướng đất tầm thường, nhưng tính tình nhút nhát, luôn giữ khoảng cách an toàn với những việc động chạm đến phần âm.
Một kẻ cẩn trọng đến mức hèn nhát như Trần Khang sẽ không bao giờ mò đến tận tầng sáu khu chung cư hoang phế này vào canh ba, trừ khi gã đã giẫm phải thứ gì đó đủ sức xé xác gã ra từng mảnh.
Cậu Tô... tôi biết cậu ở trong đó... tà sát... tà sát quấn chết tôi rồi...
Tiếng đập cửa càng lúc càng nặng nề hơn, xen lẫn tiếng da thịt đập bôm bốp vào tấm ván mục. Qua lỗ mắt mèo mờ đục bám đầy bụi than, tôi ghé mắt nhìn ra ngoài hành lang.
Ánh đèn vàng vọt leo lét ở đầu cầu thang không soi tới được trước cửa phòng 604. Trần Khang đang đứng tựa lưng vào lan can đối diện, toàn thân run rẩy như người lên cơn sốt rét. Bộ quần áo kaki xám xịt của gã rách bươm, từng mảng vải bị xé toạc để lộ lồng ngực gầy guộc chằng chịt những vết cào cấu sâu hoắm, tím tái, không hề chảy máu đỏ mà rỉ ra một chất dịch nhầy màu đen kịt.
Xung quanh thân hình co quắp của gã, một màn sương đen đậm đặc như mực tàu cuộn xoáy dữ dội. Những sợi tà sát đen ngòm bám chặt vào cổ, luồn lách qua hốc tai, chui tọt vào cánh mũi của gã, siết chặt từng thớ cơ trên gương mặt biến dạng. Hai mắt gã lồi ra, lòng trắng vằn lên những tia máu đen sì, đôi môi thâm sì run lẩy bẩy khi gã cố rướn người về phía trước, đưa bàn tay run rẩy gõ tiếp vào then cửa.
Gã đã trúng phải hắc sát chí âm, thứ tà khí chỉ sinh ra từ những huyệt mộ bị yểm trấn hàng trăm năm hoặc nơi tụ tập của những trận pháp huyết tế tàn độc. Luồng sát khí này đã ăn sâu vào kinh mạch, chỉ cần nửa canh giờ nữa sẽ gặm nát lục phủ ngũ tạng, biến gã thành một cái xác rỗng không còn hồn phách.
Bàn tay tôi đặt trên chốt khóa sắt khẽ run lên.
Ba điều răn của tổ phụ họ Tô tức thì dội về trong đầu tôi như tiếng chuông đồng rền rĩ: không độ quỷ, không phá sát, không kết duyên âm.
Lời răn thứ hai - không phá sát - là giới hạn đỏ mà ông nội đã dùng máu của chính mình để khắc ghi trên trang bìa cuốn Quỷ Lục. Phá một sát trận, gỡ một luồng tà sát cho người khác đồng nghĩa với việc tự mình gánh lấy toàn bộ nghiệp báo và sự phản phệ của luồng tà khí đó. Kẻ ra tay hạ sát là ai? Âm mưu phía sau là gì? Nếu tôi giật then sắt mở cửa, kéo Trần Khang vào trong căn phòng này, luồng tà sát đen kịt kia sẽ lập tức coi tôi là mục tiêu chuyển dời. Phòng 604 vốn đang là mắt trận nhạy cảm, chỉ cần một tia sát khí ngoại lai kích động, phong ấn tạm thời trên trần nhà sẽ nổ tung ngay tức khắc.
Tôi đứng chôn chân sau cánh cửa, hơi thở kìm lại nơi lồng ngực.
Cậu Tô... tôi không xin cậu phá sát... Giọng Trần Khang bên ngoài bỗng chùng xuống, nghẹn ngào và thê lương, hình như gã đã cảm nhận được sự ngần ngại sắt đá của người bên trong. Tôi biết quy củ... tôi biết ba điều răn của nhà cậu... Nhưng món đồ này... món đồ này là của tổ tiên cậu để lại... Tôi tìm thấy nó dưới hầm cống... trước khi lũ người kia đuổi tới...
Một tiếng va đập khô khốc vang lên ngoài bậu cửa.
Trần Khang trượt ngã, cả cơ thể gầy gò đổ sụp xuống nền xi măng ẩm ướt ngay trước thềm phòng 604. Tiếng thở của gã đứt quãng, biến thành những tiếng rít the thé qua kẽ răng, như thể có một bàn tay vô hình đang bóp nghẹt khí quản.
Xoảng.
Một vật bằng kim loại nặng nề rơi từ trong bọc vải rách của gã xuống sàn gạch, lăn tròn mấy vòng rồi dừng lại ngay sát khe hở hẹp dưới chân cánh cửa gỗ của tôi.
Đó là một chiếc la bàn phong thủy bằng đồng cổ, kích thước to bằng miệng bát ăn cơm. Vỏ ngoài của la bàn bám đầy lớp gỉ đồng màu xanh lục sẫm, chen lẫn những vệt bùn đen khô cứng của cống rãnh. Nắp đồng bị lực va đập làm bật tung ra một nửa, để lộ mặt kim chỉ nam bên trong.
Dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn nến trắng hắt qua khe cửa hẹp, cây kim nam châm hình con nòng nọc bằng thép đen không hề quay tít theo từ trường hỗn loạn xung quanh, mà cắm thẳng tắp về hướng căn phòng của tôi. Cây kim rung lên bần bật, đầu mũi nhọn rung chuyển phát ra tiếng ve kêu ong óng.
Nhưng thứ khiến đồng tử mắt trái của tôi co rút kịch liệt không phải là sự bất thường của cây kim chỉ nam.
Mặt dưới của chiếc nắp đồng vừa lật ra, nơi đáng lẽ phải khắc hình bát quái hoặc phương vị thiên can địa chi, lại hiện rõ một ấn ký chạm nổi sắc nét. Ký hiệu đó khắc hình một chiếc hồ lô thuôn dài, bên trong lồng ba chiếc lá bùa uốn lượn tạo thành chữ triện cổ có ba cánh nhọn hướng lên trên. Từng đường nét chạm trổ sâu hoắm, dứt khoát, mang phong cách khắc kim độc môn của những thợ thủ công vùng Lĩnh Nam từ đầu thế kỷ trước.
Ấn ký gia huy họ Tô.
Nó giống hệt, từng góc cạnh cho đến vết khía nhỏ nơi cuống hồ lô, với con dấu son đỏ thẫm được đóng chìm nơi trang đầu tiên của cuốn Huyền Môn Quỷ Lục đang nằm trên bàn tôi.
Máu trong huyết quản tôi như đông cứng lại.
Gia huy của tổ tiên tôi tại sao lại xuất hiện trên một chiếc la bàn phong thủy bị vứt bỏ dưới hầm cống nội thành? Trần Khang chỉ là một kẻ buôn bán đồ cũ tầm thường, làm cách nào gã có được vật này? Và đám người mà gã vừa nhắc tới - "lũ người kia" - có phải chính là thế lực đứng sau những cái chết liên tiếp ở khu tập thể này, kẻ đã giương chiếc ô đen đứng nhìn tôi dưới cơn mưa đêm trước?
Nắm... lấy... Tiếng thì thào của Trần Khang yếu ớt đến mức gần như tan biến vào tiếng gió hú qua khe thông gió của hành lang. "Bọn chúng... đang đào... đào rỗng toàn bộ móng nhà..."
Bàn tay đầy máu đen của Trần Khang duỗi thẳng ra, năm ngón tay co quắp cố gắng đẩy chiếc la bàn đồng tiến sát hơn về phía khe cửa phòng tôi. Từng sợi tà sát màu đen quấn chặt lấy cẳng tay gã, da thịt gã phồng rộp lên, những mụn nước màu đen vỡ toạc rỉ ra thứ nước hôi thối nồng nặc. Gã co giật một hồi rồi bất động, đầu gục xuống nền xi măng lạnh buốt, chỉ còn lồng ngực thoi thóp nâng lên hạ xuống từng nhịp yếu ớt.
Màn sương đen quanh người gã bắt đầu tản ra, nhưng không bay lên trời mà ngưng tụ lại thành những xúc tu mờ ảo, lượn lờ quanh chiếc la bàn bằng đồng rồi hướng thẳng về phía chân cánh cửa gỗ.
Nếu tôi thò tay ra nhặt la bàn, luồng tà sát đó sẽ lập tức tá hỏa bám vào da thịt tôi. Đó là một cái bẫy sát cục đã được kích hoạt, biến nạn nhân thành vật dẫn để lây lan nguồn tử khí.
Căn phòng 604 lại chao đảo.
Từ trên bàn, cuốn Huyền Môn Quỷ Lục lại phát ra tiếng rung bần bật. Chữ "TỬ" màu đỏ tươi trên trang giấy mở toang hình như đang sôi sùng sục, phả ra hơi nóng hầm hập đối chọi gay gắt với luồng hàn khí từ ngoài hành lang thổi vào. Món nợ nhân quả và bí mật về cái chết của tổ tiên ba mươi năm trước đang nằm cách tôi chỉ một lớp ván gỗ mỏng.
Tôi từ từ hạ thấp trọng tâm, ngồi xổm xuống sau cánh cửa.
Bàn tay trái của tôi v với lấy chiếc que sắt dài dùng để cời than củi đặt ở góc tường. Tôi luồn đầu que sắt qua khe hở dưới chân cửa, chuẩn xác móc vào vòng khoen của chiếc la bàn đồng. Bằng một lực giật dứt khoát, tôi kéo lê chiếc la bàn qua khe hẹp, đưa nó trượt êm ru vào bên trong sàn phòng.
Ngay khi khối kim loại lạnh ngắt vượt qua lằn ranh cửa gỗ, những xúc tu sương đen bên ngoài hành lang lập tức gầm rít lên như một đàn ong vỡ tổ. Chúng lao sầm vào lớp ván mục, đập vào bề mặt gỗ tạo nên những tiếng nổ lép bép chói tai.
Mảng vôi hình năm ngón tay trên vách tường run rẩy dữ dội rồi nứt toác ra, rơi lả tả xuống sàn nhà thành những mảnh vụn đen sì như than củi.
Tôi buông que sắt, đứng phắt dậy. Hai tay tôi nắm lấy then cài bằng sắt dày cộp, ấn mạnh xuống chốt khóa bên dưới.
Cạch.
Tiếng kim loại khớp vào ngàm phát ra vang dội giữa không gian im ắng của tầng sáu. Then sắt đã cài chặt, phong tỏa hoàn toàn lối vào duy nhất của căn phòng 604.
Bên ngoài, Trần Khang vẫn nằm bất động giữa hành lang tối tăm, hơi thở mỏng manh như sợi chỉ trước gió rét. Luồng sương đen sau khi mất đi mục tiêu la bàn bắt đầu co cụm lại trên lưng gã, ép chặt gã xuống mặt sàn lạnh ngắt như một tảng đá đè nặng lên một tử tội.
Tôi đứng yên sau cánh cửa, ghé mắt nhìn qua khe hở mắt mèo nhỏ hẹp.
Ngoài kia, hành lang của khu chung cư cũ chìm trong bóng tối dày đặc. Không có tiếng chân bước, không có tiếng người cứu hộ, chỉ có tiếng gió mùa thổi thốc qua các ô cửa sổ vỡ ở đầu dãy nhà, rít lên từng hồi ghê rợn như tiếng khóc than của người chết đuối dưới lòng sông.
Món đồ gia truyền của họ Tô đã quay về, mang theo dấu vết của một âm mưu đen tối bị chôn vùi nửa thế kỷ. Người nằm ngoài cửa kia có thể sống hoặc chết trước khi trời rạng, nhưng sự xuất hiện của gã cùng chiếc la bàn này đã đập tan bức bình phong an toàn cuối cùng mà tôi cố dựng lên quanh mình.
Tôi không mở cửa cứu người để giữ trọn vẹn lời răn của tổ tông, nhưng bàn tay tôi đã chạm vào vật chứng của huyết trận.
Cúi nhìn chiếc la bàn đồng đang nằm im lìm dưới chân, nơi cây kim thép vẫn ghim chặt về phía lòng mình, tôi siết chặt nắm tay đến mức móng tay găm sâu vào da thịt buốt nhói.
Tôi nhận ra một sự thật trần trụi và tàn nhẫn: tôi không còn là kẻ đứng ngoài cuộc quan sát bóng tối từ trên tầng cao nữa.
Vòng xoáy này đã mở ra, và nó nuốt trọn tôi vào tâm điểm của cái chết từ chính đêm nay.