Huyền Môn Quỷ Lục - Chương 33: Bước chân dồn dập trên mái
Tiếng then sắt trượt vào ngàm phát ra một tiếng vang đanh gọn. Tôi đứng tựa lưng vào cánh cửa gỗ dày cộp, hai bàn tay áp chặt lên then cài, lắng nghe…
Nội dung chương
Tiếng then sắt trượt vào ngàm phát ra một tiếng vang đanh gọn. Tôi đứng tựa lưng vào cánh cửa gỗ dày cộp, hai bàn tay áp chặt lên then cài, lắng nghe từng dao động nhỏ nhất truyền qua thớ gỗ mục.
Bên ngoài hành lang, tiếng thở dốc đứt quãng của Trần Khang lịm dần đi. Mùi tử khí nồng nặc và tanh tưởi vẫn bám riết lấy khe cửa, nhưng luồng chướng khí đen đặc không thể xuyên qua lớp bùa trấn trạch dán trên thanh xà ngang. Tôi đứng im như pho tượng suốt mười phút đồng hồ, chờ đợi cho đến khi tiếng nện bước nặng nề ở tầng trên hoàn toàn biến mất vào khoảng không lạnh lẽo của khu nhà cũ.
Dưới chân tôi, chiếc la bàn đồng nằm im lìm trên mặt sàn xi măng phủ bụi. Cây kim chỉ nam bằng thép đen không quay cuồng tìm phương hướng, nó ghim cứng ngắc về một hướng duy nhất. Mũi kim không nhắm vào cánh cửa ra vào, cũng chẳng hướng về phía ban công đón gió lạnh, mà chĩa thẳng tắp vào góc tường phía tây của căn phòng, nơi chiếc tủ quần áo bằng gỗ ép công nghiệp cũ kỹ đang đứng sừng sững.
Tôi cúi người, lấy mảnh vải thô bọc kín chiếc la bàn lại rồi nhấc lên. Khối kim loại nặng trịch, bề mặt gỉ đồng xanh xao cọ vào lòng bàn tay tôi buốt rát.
Chiếc tủ gỗ này vốn là vật dụng có sẵn từ khi tôi dọn đến phòng 604. Suốt hơn nửa năm qua, tôi chỉ dùng nó để treo vài bộ quần áo đi học, chưa từng nghĩ đến việc dịch chuyển nó ra khỏi góc tường. Lớp gỗ ép ẩm mục tỏa ra mùi mốc meo khó chịu, hòa lẫn với mùi ẩm ướt của vôi vữa lâu năm tạo thành một thứ không khí ngột ngạt đến nghẹt thở.
Tôi đặt chiếc la bàn lên mặt bàn học, bên cạnh cuốn Huyền Môn Quỷ Lục đang nằm im. Sau đó, tôi bước tới cạnh chiếc tủ, hai tay bám chặt vào mép gỗ mục, dồn toàn bộ sức lực của bờ vai đẩy mạnh.
Két... rít...
Chân tủ bằng sắt gỉ cọ xát trên nền xi măng, phát ra những tiếng nghiến ken két buốt óc. Từng mảng bụi xám dày cộp từ nóc tủ bay mù mịt, rơi rụng lả tả xuống sàn. Chiếc tủ nặng nề xê dịch ra phía ngoài chừng ba tấc, để lộ ra khoảng tường phía sau vốn bị che giấu kín mít suốt nhiều năm tháng.
Đập vào mắt tôi là một mảng tường rộng bằng chiếc chiếu con, nơi lớp sơn ve màu vàng nhạt đã bong tróc nham nhở, rộp lên từng mảng lớn như vảy cá chết. Nhưng dưới lớp sơn bong ấy lộ ra những đường rãnh xám ngoét ăn sâu vào vữa gạch. Những đường rãnh đó không phải vết nứt tự nhiên do thời gian hay do sự sụt lún của tòa nhà. Chúng thẳng tắp, gãy góc dứt khoát, giao nhau theo những quy tắc hình học vô cùng chuẩn xác.
Tôi nheo mắt, con ngươi bên mắt âm dương co rút lại.
Ẩn dưới lớp vôi mục nát kia là một hệ thống ký tự chìm, được khắc trực tiếp vào lớp gạch đỏ cổ xưa trước khi người ta trát vữa xây dựng hoàn thiện căn phòng này.
Tôi quay lại bàn, lấy chiếc bát sứ vỡ góc để ở góc phòng. Tôi dùng que cời than cạo lấy phần muội than đen bám dưới đáy chiếc lư đồng nhỏ trên bàn thờ tổ tông, đổ vào bát, sau đó nhỏ thêm vài giọt cồn y tế chín mươi độ khuấy đều tạo thành một hỗn hợp bột than sền sệt, đen quánh. Cầm chiếc bay sắt nhỏ chuyên dùng cạo rỉ sét, tôi quay lại góc tường phía sau chiếc tủ gỗ.
Tôi nhúng chiếc cọ lông cứng vào bát bột than, quét đều một lớp dày lên toàn bộ mảng tường nứt nẻ. Lớp bột than đen ngòm lập tức lấp đầy mọi kẽ hở li ti. Chờ vài phút cho cồn bốc hơi khô ráo, tôi cầm chiếc bay sắt nghiêng một góc bốn mươi lăm độ, miết mạnh lưỡi kim loại cạo sạch lớp sơn ve và vôi bột bên ngoài.
Xoẹt... xoẹt... xoẹt...
Lưỡi bay thép cạo đến đâu, những lớp sơn rộp rơi xuống rào rào đến đấy, vỡ vụn thành từng mảnh trắng đục dưới chân tôi.
Bột than đen đọng lại trong các đường rãnh sâu, làm nổi bật lên toàn bộ đồ án ẩn giấu dưới nền vôi.
Hai tay tôi khựng lại giữa không trung. Hơi thở tôi tắc nghẽn nơi cuống họng.
Bức tường trước mặt không chỉ có vài ký tự đơn lẻ. Nó là một bức bản đồ phong thủy toàn cảnh cực kỳ chi tiết, phác họa toàn bộ cấu trúc của khu chung cư cũ này từ tầng hầm cho đến sân thượng.
Bản đồ được vẽ theo hình thái Ô Long Phục Địa, một thế trận cổ xưa trong phong thủy dùng để khóa mạch âm. Tòa nhà hình chữ U nơi tôi đang ở gồm ba dãy nhà A, B, C không được ba trí ngẫu nhiên theo công năng kiến trúc đô thị thông thường. Ba dãy nhà tương ứng với ba cạnh của một thế kiềm tỏa, hướng thẳng toàn bộ luồng khí vào khoảng sân giếng trời ở giữa. Giếng trời kia chính là miệng phễu, nơi toàn bộ uế khí và âm khí của khu vực bị hút trọn vào lòng đất.
Nhưng điều khiến sống lưng tôi lạnh toát chính là những đường kẻ đỏ sẫm ẩn dưới lớp than củi, nối liền các tầng lầu với nhau.
Tòa nhà này không phải được xây dựng trên một mảnh đất lành. Nó nằm đè lên tử huyệt lớn nhất của mạch nước ngầm chảy qua lòng thành phố. Nơi đây là điểm giao thoa của ba con lạch cổ đã bị san lấp từ thời thuộc địa, biến thành một túi tích tụ âm sát khổng lồ sâu hàng chục mét dưới lòng đất. Bất kỳ công trình nào dựng lên trên mảnh đất này đều sẽ phải hứng chịu sự ăn mòn khủng khiếp của tử khí.
Cách đây nửa thế kỷ, khi khu tập thể này bắt đầu đặt những viên móng đầu tiên, những người xây dựng không hề tìm cách hóa giải hay phân tán luồng tà sát đó. Trái lại, họ cố tình dựng lên một cấu trúc lồng nhốt phong thủy khổng lồ.
Bản đồ trận pháp dưới nền vôi chỉ rõ từng cây cột chịu lực chính của khu nhà đều bị khoét rỗng ở phần móng để chôn cọc yểm. Cả tòa chung cư sáu tầng này thực chất là một chiếc nắp cống tâm linh khổng lồ, được chế tác tinh vi nhằm giam giữ một thứ cấm kỵ cực kỳ nguy hiểm đang ngủ say dưới tầng đất ngầm.
Toàn bộ cư dân sinh sống trong khu nhà suốt mấy chục năm qua, những gia đình công nhân, những người già và trẻ nhỏ, vô tình trở thành những bình ắc quy sống. Dương khí mỏng manh từ đời sống sinh hoạt của họ hàng ngày tỏa ra, bị kết cấu của các hành lang và giếng trời gom góp lại, truyền ngược xuống lòng đất để đè nén thứ cấm kỵ kia.
Tôi lần ngón tay theo đường vẽ mạch ngầm trên bản đồ.
Đường nét chạm trổ sâu hoắm chạy ngoằn ngoèo từ tầng trệt, luồn lách qua các hốc cầu thang tối tăm, leo thẳng lên tầng sáu. Điểm kết thúc của đường dẫn khí trên bản đồ không nằm ở giữa tim nhà, cũng không nằm ngoài khoảng không giếng trời.
Nó hội tụ chính xác tại một điểm duy nhất.
Căn phòng 604. Nơi tôi đang đứng.
Mắt trận của toàn bộ sát cục giam giữ nửa thế kỷ này nằm ngay dưới chân tôi.
Mồ hôi lạnh túa ra ướt đẫm trán, lăn dài xuống khóe mắt làm cay xè. Căn phòng giá rẻ mà tôi tình cờ thuê được thông qua một mẩu giấy dán tường quảng cáo rách nát cách đây nửa năm, nơi tôi từng nghĩ là một chốn ẩn thân lý tưởng để trốn tránh các mối quan hệ xã hội phức tạp. Hóa ra nơi đây lại là vị trí then chốt của một bàn cờ chết chóc đã được bày ra từ trước khi tôi chào đời.
Lũ người kia... đang đào rỗng toàn bộ móng nhà...
Lời trăn trối run rẩy của Trần Khang ngoài hành lang lúc nãy đột nhiên dội về trong đầu tôi như một tiếng sét.
Bọn chúng không phải muốn phá hủy khu chung cư cũ này để giải tỏa đất đai xây dựng công trình mới. Bọn chúng đang muốn phá vỡ các cọc yểm ở tầng móng, vô hiệu hóa chiếc nắp cống tâm linh này để giải phóng thứ cấm kỵ bị chôn vùi dưới tử huyệt suốt năm mươi năm qua.
Xoạt... xoạt...
Một âm thanh khô khốc vang lên từ phía chiếc bàn học.
Tôi giật mình quay phắt lại, tay nắm chặt chiếc bay sắt thủ thế.
Ngọn đèn bàn dây tóc bốn mươi oát phát ra ánh sáng vàng vọt, chao đảo nhẹ theo nhịp gió lùa qua khe cửa sổ. Trên mặt bàn, cuốn Huyền Môn Quỷ Lục bằng giấy bổi ố vàng đang tự động lật giở. Từng trang sách phủ đầy bụi thời gian tự lật qua lật lại phát ra tiếng xào xạc giòn tan giữa đêm thanh vắng.
Các trang sách lật nhanh dần, cho đến khi dừng lại ở một trang giấy dày dặn nằm gần cuối tập sách.
Trang giấy này từ trước đến nay luôn bị dính chặt vào trang kế tiếp bằng một lớp sáp ong nâu sẫm pha keo da trâu. Suốt những năm tháng nghiên cứu cuốn sách của dòng họ, tôi chưa bao giờ dám dùng lực tách rời nó ra vì sợ làm rách nát thư tịch cổ. Nhưng lúc này, hơi ấm từ chiếc la bàn đồng đặt bên cạnh tỏa ra làm lớp sáp ong cổ xưa chảy mềm nhũn, bốc lên mùi thơm ngai ngái của nhựa thông và mỡ trăn.
Tách.
Lớp sáp bong ra hoàn toàn. Trang giấy dán kín bung mở sang một bên.
Trên mặt giấy màu vàng sậm, những hàng chữ Hán viết bằng mực tàu đen nhánh hiện rõ dưới ánh đèn vàng. Bên cạnh những dòng chữ cổ là một thủ bút bằng chữ quốc ngữ, nét mực son đỏ au vẫn còn tươi mới một cách kỳ lạ, như thể người viết chỉ vừa mới hạ bút ngày hôm qua.
Đó là nét chữ của tổ phụ tôi - Tô Thành Vân, người từng đứng đầu chi phái họ Tô ba mươi năm về trước.
Năm Giáp Dần, mùa thu. Ta phụng mệnh huyền môn phương Nam, cùng ba vị đồng đạo đến thành phố này đắp đập ngăn sát. Thứ dưới đáy huyệt hung hãn vô cùng, nuốt mười hai mạng thợ lặn, phá vỡ ba lần móng cọc. Bất đắc dĩ, ta phải mượn thế Ô Long Phục Địa, dùng sáu mươi bốn cọc gỗ đào phong tỏa mạch nước, dựng lên lầu cao để trấn áp.
Mắt tôi dán chặt vào từng nét chữ run rẩy nhưng sắc sảo như mũi kiếm:
Trận pháp cần một mắt xích trung tâm để dẫn khí điều hòa. Mắt xích đó phải nằm ở vị trí cao nhất của quẻ Khảm, đối diện trực tiếp với tử huyệt ngầm. Ngày mười bốn tháng tám, ta tự tay chôn viên đá Trấn Âm Cốt tại góc tây căn phòng 604 tầng sáu. Viên đá còn, trận pháp còn. Huyết mạch họ Tô đời đời không được can dự vào việc phá sát, không được độ hóa vong hồn nơi đây, càng không được kết duyên cùng cõi âm. Kẻ nào làm trái lời thề, Trấn Âm Cốt vỡ vụn, toàn bộ ác nghiệp của tử huyệt sẽ giáng thẳng vào đỉnh đầu kẻ đó.
Một cơn ớn lạnh chạy dọc từ sống lưng lên tận óc tôi.
Trấn Âm Cốt.
Tôi quay đầu nhìn lại góc tường sau chiếc tủ gỗ vừa bị tôi đẩy lệch ra. Ở điểm giao nhau của các đường rãnh khắc hình bát quái trên nền gạch, có một khối xi măng màu xám tro hơi lồi ra so với bề mặt xung quanh chừng nửa đốt ngón tay. Đó chính là nơi viên đá trấn yểm đầu tiên của cả khu nhà này được chôn sâu vào lòng bê tông cốt thép.
Lời răn tổ tông truyền lại ba đời nay: không độ quỷ, không phá sát, không kết duyên âm.
Bao năm qua, tôi luôn nghĩ ba điều răn đó chỉ là những quy tắc nghiêm ngặt của một môn phái ẩn dật nhằm bảo toàn tính mạng cho con cháu trước những cạm bẫy tâm linh khôn lường. Tôi chưa từng biết rằng, ba điều cấm kỵ ấy thực chất là một sợi dây trói buộc vô hình, gắn chặt vận mệnh của kẻ mang dòng máu họ Tô với chiếc lồng giam cấm kỵ này.
Ông nội tôi, rồi đến cha tôi, tất cả đều rời bỏ trần thế trong những hoàn cảnh kỳ dị và bí ẩn khi tuổi đời còn rất trẻ. Có người chết đuối giữa vùng nước cạn, có người chết cháy ngay trong đêm đông rét mướt. Phải chăng họ đều đã vô tình chạm phải lằn ranh của khế ước này?
Cạch...
Tiếng kim loại nhỏ xíu vang lên từ mặt bàn. Cây kim của chiếc la bàn đồng đột ngột bật nảy lên, chạm vào mặt kính bảo vệ.
Cùng lúc đó, nguồn điện trong phòng 604 sụt áp nghiêm trọng. Bóng đèn tròn bốn mươi oát treo trên trần nhà chớp tắt liên hồi, phát ra tiếng vo ve yếu ớt. Ánh sáng vàng ấm áp thu hẹp lại, chỉ còn le lói chiếu sáng một góc bàn học nhỏ hẹp chưa đầy nửa thước.
Không gian xung quanh chìm dần vào một màu đen nhờ nhờ, đặc quánh như nhựa đường.
Tôi đứng bất động giữa phòng, bàn tay nắm chặt lấy chuôi con dao găm giấu trong tay áo. Bằng con mắt âm dương, tôi nhìn thấy một cảnh tượng kỳ dị đang diễn ra ngay dưới chân mình.
Bóng của các đồ vật trong phòng bắt đầu ngọ nguậy.
Chiếc bóng đen thẫm của chiếc tủ gỗ, bóng của chiếc ghế tựa, và cả bóng của chiếc bàn học không còn nằm yên trên mặt sàn theo hướng chiếu của ngọn đèn leo lét nữa. Chúng trở nên sống động một cách ma quái. Bề mặt bóng tối dưới sàn xi măng rung rinh như mặt nước hồ bị ném đá, gợn lên từng đợt sóng đen ngòm.
Bóng của bốn chân ghế dài ngoằng ra, vặn vẹo uốn éo như những cái vòi bạch tuộc, bò trườn chầm chậm trên sàn nhà về phía góc tường nơi có mảng phù điêu phong thủy.
Bóng của chiếc tủ gỗ ép vươn cao lên vách tường, bao trùm lấy toàn bộ bản đồ trận pháp vừa hiện lộ dưới lớp vôi cạo. Thứ bóng tối ấy không đơn thuần là sự thiếu vắng ánh sáng, nó mang theo một khối lượng vật chất vô hình, đè nặng lên mặt sàn khiến các thanh dầm bê tông bên dưới phát ra những tiếng cót két khô khốc.
Và rồi, bóng của chính tôi in trên sàn nhà cũng bắt đầu tách rời khỏi gót chân tôi.
Nó không cử động theo động tác của tôi. Khi tôi đứng yên, cái bóng ấy từ từ ngẩng phần đầu lên khỏi mặt sàn. Hai cánh tay bóng tối vươn dài ra, ngoằn ngoèo trườn dọc theo nền xi măng ẩm mốc, hướng thẳng về phía gót chân tôi như muốn bám chặt lấy mắt cá chân, kéo tôi chìm sâu xuống đất đá bên dưới.
Một luồng khí lạnh buốt từ dưới các kẽ nứt của sàn nhà phụt lên, mang theo mùi tanh nồng của bùn lầy đáy sông và mùi hôi thối của xương cốt mục rữa lâu năm.
Trấn Âm Cốt dưới nền vôi đang rung lên bần bật. Cả căn phòng 604 khẽ chao đảo như một chiếc thuyền nan mắc kẹt giữa xoáy nước ngầm khổng lồ đang chuẩn bị nuốt trọn mọi thứ vào lòng đất.