Huyền Môn Quỷ Lục - Chương 31: Nguồn cơn vùi dưới nền gạch
Cơn mưa phùn dai dẳng cuối thu rốt cuộc dứt hẳn, để lại mùi ẩm mốc bốc lên từ cầu thang dẫn lên sân thượng tầng bảy của khu chung cư. Trời không hửng…
Nội dung chương
Cơn mưa phùn dai dẳng cuối thu rốt cuộc dứt hẳn, để lại mùi ẩm mốc bốc lên từ cầu thang dẫn lên sân thượng tầng bảy của khu chung cư.
Trời không hửng nắng. Mây xám đục ngầu sà thấp xuống những khối nhà bê tông cũ kỹ xung quanh, trùm lên toàn bộ khu tập thể một màn sương nhờ nhờ, nhớp nháp hơi nước. Tôi đứng ở chiếu nghỉ tầng sáu, trước cửa phòng 604 một lúc lâu để xốc lại vạt áo khoác. Bên trong túi ngực, cuốn Huyền Môn Quỷ Lục nằm im lìm, mép bìa da trâu lạnh buốt áp sát vào xương sườn tôi. Vết mực máu hiện thành chữ "Tử" đêm qua đã khô quắt lại, biến thành một vảy đen sẫm cộm lên mặt giấy ráp, nhưng luồng khí lạnh tỏa ra từ trang sách thì không hề tiêu giảm.
Hơi thở phả ra làn khói mỏng. Tôi bước từng bậc lên tầng bảy.
Cầu thang bộ này vốn đã bị ban quản lý bỏ hoang từ hơn mười năm trước, các chấn song sắt gỉ sét tróc từng mảng nâu vụn rụng lả tả dưới gót giày. Vôi vữa trên tường bong tróc từng mảng lớn, để lộ ra những viên gạch đỏ đã mục ruỗng bên trong, rịn ra chất nước nhờn màu vàng xỉn bốc mùi cống rãnh. Cứ đi được ba bước, mắt âm dương của tôi lại thấy một vệt khí đen mỏng dính bám chặt vào vách tường, ngoằn ngoèo như thể những sợi rễ cây bò ngầm dưới đất.
Cánh cửa sắt dẫn ra sân thượng không khóa, chỉ khép hờ bằng một sợi xích sắt hoen rỉ đã đứt đôi một mắt. Tôi đưa tay đẩy nhẹ. Tiếng kim loại ma sát vào nền xi măng rít lên chói gắt giữa không gian tĩnh mịch, vang vọng xuống tận giếng trời hun hút gió.
Gió trên sân thượng thổi thốc vào mặt tôi, mang theo hơi lạnh buốt giá của tiết trời sắp chuyển đông. Nền bê tông sũng nước mưa, loang lổ những vũng nước đen kịt tù đọng quanh các miệng cống thoát sàn bám đầy rác rưởi và lá mục. Khu chung cư này xây theo lối kiến trúc cũ, trên nóc chỉ có vài ụ kỹ thuật thang máy bỏ không và một bồn chứa nước bằng tôn tráng kẽm dung tích lớn được đặt trên bốn trụ bê tông kiên cố.
Tôi bước chầm chậm về phía bồn nước rỉ sét.
Bình thường, đây chỉ là nơi để chim bồ câu hoang trú ngụ hoặc chứa những mảng rêu mốc của khu nhà. Nhưng ngay khi bước chân tôi chạm tới mép bệ đỡ bồn nước, mắt âm dương khẽ giật giật.
Dưới chân bệ bê tông, lớp nước mưa đọng lại không hề có màu xám đục tự nhiên. Nước ở đây đỏ quánh một cách dị thường, nổi váng mỡ vàng ệch và bốc lên mùi ngai ngái nồng nặc của chu sa hòa lẫn với mỡ động vật ôi thiu.
Tôi cúi thấp người, ngồi xổm xuống quan sát kỹ mép sàn gạch vỡ.
Cắm sâu vào các khe nứt xi măng xung quanh bốn góc chân bệ là những tàn nhang màu đỏ sẫm. Chúng không phải loại chân nhang bằng tre nhuộm phẩm thông thường bán ngoài chợ. Tăm nhang này làm bằng cuống cây dâu tằm phơi khô, bọc bên ngoài lớp bột nhang pha lẫn chu sa vụn và tro tơ tằm. Mặc dù cơn mưa lớn đêm qua đã xối xả trút nước xuống cả thành phố suốt sáu tiếng đồng hồ, những tàn nhang này vẫn giữ nguyên kết cấu, đầu nhang cháy dở còn đóng lại từng cục tro xám cứng ngắc như đá vôi.
Có tổng cộng hai mươi bốn chân nhang chu sa, chia đều thành tám cụm cắm chuẩn xác theo tám phương vị Bát quái, phong tỏa hoàn toàn không gian bên dưới bồn nước.
Bàn tay tôi vô thức siết chặt lấy chuôi dao găm giắt bên hông. Đây là thủ pháp "Bát Môn Tỏa Hồn", một loại trận hình giam giữ âm khí thuộc hàng tàn độc trong tà phái huyền môn.
Kẻ bày trận không nhằm mục đích xua đuổi tà khí hay bảo vệ tòa nhà. Chúng cố tình dùng tàn nhang chu sa dẫn dụ toàn bộ chướng khí, tử khí và oán niệm tích tụ từ các cống ngầm, các ngóc ngách ẩm thấp bên dưới đáy chung cư bốc ngược lên nóc nhà. Sau đó chúng dùng bồn nước rỉ sét làm vật dẫn, ép toàn bộ luồng âm khí này dội ngược trở lại.
Nước là vật dẫn âm tốt nhất trong ngũ hành. Bồn nước lớn chứa hàng ngàn lít nước tù đọng này bị biến thành một cái hồ chứa sát khí khổng lồ. Cả tòa chung cư bảy tầng giờ đây đã bị biến thành một chiếc lồng nhốt âm khí kiên cố. Bất kỳ sinh hồn nào qua đời trong phạm vi tòa nhà đều không thể thoát ra ngoài luân hồi, mà sẽ bị giam hãm vĩnh viễn trong các bức tường mục nát, dần dần hóa thành oán quỷ để nuôi dưỡng trận nhãn.
Giới huyền môn ngầm trong thành phố rốt cuộc đã bắt đầu thu lưới. Chúng không còn che giấu ý đồ nữa. Kẻ mặc áo mưa đen cầm chiếc ô đen đứng dưới chân tòa nhà đêm qua chính là kẻ canh chừng chiếc lồng này.
Tôi đưa ngón tay chạm nhẹ vào một mẩu tàn nhang cắm ở phương Càn. Một luồng châm chích buốt giá lập tức chạy dọc từ đầu ngón tay xộc thẳng lên bả vai, khiến các khớp xương kêu răng rắc. Tôi phải vận chuyển một luồng khí tức nhu hòa theo khẩu quyết ghi trong cuốn Quỷ Lục mới ép được luồng âm độc đó rút lui ra khỏi kinh mạch.
Dùng cuống dâu phong tỏa trời đất, dùng chu sa khóa chặt âm ty... Tôi lẩm bẩm trong cổ họng, ánh mắt đảo quanh khu vực bệ đỡ.
Đột nhiên, tầm mắt tôi dừng lại ở một khe hở hẹp nằm ngay chính giữa bệ bê tông, nơi đặt phần đáy phình to của bồn nước.
Tại vị trí trung cung đó, sàn bê tông bị đục thủng một lỗ tròn nhỏ bằng ngón tay cái. Xung quanh lỗ thủng là những vệt khắc hình xoắn ốc sâu hoắm, bên trong rãnh khắc nhồi đầy thứ bột đen nhánh có mùi tanh nồng của máu chó mực khô.
Một sợi chỉ đỏ to bằng sợi dây gai thô ráp được thắt nút theo hình "Liên Hoa Tỏa", cắm thẳng vào lỗ thủng trên nền bê tông.
Sợi chỉ không hề đứt đoạn. Nó được kéo căng ra từ đáy bồn nước, đâm xuyên qua lớp trần bê tông dày hơn hai mươi phân của tầng bảy, rủ thẳng đứng xuống bên dưới.
Tôi nheo mắt lại, dùng bộ pháp tính toán phương vị và khoảng cách thực tế giữa các trục cột nhà. Nhịp tim tôi đập dồn lên từng hồi khô khốc.
Vị trí của lỗ thủng này không lệch một phân so với kết cấu kiến trúc bên dưới. Sợi chỉ đỏ đâm xuyên qua sàn tầng thượng, đi thẳng qua căn phòng bỏ trống ở tầng bảy, rồi rủ thẳng xuống trần nhà phòng 604 của tôi.
Nó rủ xuống ngay phía trên chiếc giường ngủ bằng gỗ mà tôi vẫn nằm mỗi đêm.
Sợi dây này trong sách cổ gọi là "Dẫn Hồn Ti". Nó dùng để định vị con mồi trong các trận pháp phục kích tầm xa. Kẻ ba trí trận pháp đã dùng chính bồn nước làm bình chứa âm sát, dùng sợi chỉ đỏ làm ống dẫn, biến phòng 604 thành nơi tiếp nhận toàn bộ uế khí và sự phản phệ từ cái lồng nhốt âm này. Chúng muốn dùng sinh mạng của người mang dòng máu họ Tô để làm chất xúc tác cuối cùng, biến đại sát trận thành hình.
Lời răn của tổ tiên lại một lần nữa vang lên trong đầu tôi: "Không độ quỷ, không phá sát, không kết duyên âm."
Nếu tôi rút sợi chỉ đỏ này lên, đạp đổ hai mươi bốn chân nhang chu sa, tôi sẽ trực tiếp phá hoại sát cục ngũ hành của đối phương. Nghiệp báo phản phệ của trời đất sẽ giáng xuống đầu tôi ngay lập tức. Nhưng nếu tôi quay lưng bỏ đi, khoanh tay đứng nhìn theo đúng tôn chỉ an phận giữ mình, đêm nay khi âm khí tích tụ đến cực điểm, sợi chỉ đỏ sẽ dẫn toàn bộ oán sát trên sân thượng dội thẳng xuống đỉnh đầu tôi khi tôi đang ngủ.
Tôi đứng thẳng người dậy. Gió lạnh trên cao quất rát mặt. Dưới chân tôi, thành phố vẫn ồn ào tiếng còi xe giờ tan tầm, người đi đường vẫn hối hả qua lại dưới những ngọn đèn đường vừa bật sáng, hoàn toàn không hề hay biết rằng trên đỉnh đầu họ, một chiếc lồng quỷ quái đang từ từ siết chặt lại.
Tôi rút con dao găm bên hông ra, lưỡi thép xám phản chiếu ánh sáng nhờ nhờ của bầu trời u ám. Tôi không chặt đứt sợi chỉ đỏ, cũng không chạm vào chân nhang. Tôi chỉ dùng mũi dao cạo một chút bột tro chu sa dính trên mép bệ đá, gói cẩn thận vào một mẩu giấy báo cũ rồi nhét vào túi quần.
Tôi xoay người, bước nhanh xuống cầu thang bộ.
Căn phòng 604 đón tôi bằng sự lạnh lẽo quen thuộc. Tôi bật công tắc đèn, bóng đèn dây tóc vàng vọt chớp nháy hai cái rồi tỏa ra thứ ánh sáng yếu ớt, chỉ đủ soi rõ mặt bàn gỗ và chiếc giường cũ kê sát vách tường nứt nẻ.
Tôi cởi áo khoác, bước đến bên cạnh giường ngủ rồi ngửa cổ nhìn thẳng lên trần nhà.
Lớp vôi quét trần đã ngả sang màu vàng ố vì ngấm nước mưa lâu năm. Nhưng lúc này, ngay phía trên gối nằm của tôi khoảng hai mét, một vết nứt hình tròn cỡ miệng chén trà đang hiện rõ mồn một. Từ tâm vết nứt, một mẩu chỉ đỏ dài chừng một đốt ngón tay đang thò ra ngoài lớp vữa, rủ lơ lửng giữa không trung.
Đầu mẩu chỉ đỏ ươn ướt, đọng lại một giọt nước màu hồng nhạt. Giọt nước không rơi xuống nệm, chỉ treo lơ lửng ở đó, phập phồng như nhịp thở của một sinh vật sống.
Tôi kéo chiếc ghế gỗ lại gần, trèo lên đứng nhìn sát vào đầu sợi chỉ. Mùi tanh của máu và mùi thơm hắc nồng của bột chu sa phả thẳng vào sống mũi. Mẩu chỉ này đã xuyên qua trần nhà từ lúc nào tôi không hề hay biết. Có lẽ chính là trong đêm mưa hôm qua, khi tiếng sấm chớp ầm ĩ đã che giấu đi tiếng đục khoét của kẻ bày trận ở tầng trên.
Tôi bước xuống ghế, ngồi vào bàn làm việc.
Cuốn Huyền Môn Quỷ Lục vẫn nằm yên trên mặt gỗ. Tôi mở cuốn sách ra, lần giở từng trang ghi chép về các loại cấm thuật của phái Mao Sơn và các nhánh vu thuật ngầm thời cận đại. Những dòng chữ Hán viết bằng mực nho cổ kính miêu tả rất rõ về "Bát Môn Tỏa Hồn":
Kẻ hạ lồng nhốt khí, ắt phải có vật dẫn hồn canh gác trên đỉnh lồng. Đêm đến giờ Tý, tà vật đạp nóc mà đi, dẫm nát sinh hồn để khóa chốt.
Đồng hồ treo tường điểm mười một giờ đêm. Tiếng tích tắc khô khốc của kim giây vang lên đều đặn, gõ từng nhịp vào thần kinh tôi. Cả khu chung cư chìm vào một sự im lặng chết chóc khác thường. Không có tiếng trẻ con khóc ở tầng dưới, không có tiếng bát đũa va chạm hay tiếng tivi rè rè của các hộ gia đình xung quanh. Không gian đặc quánh lại, giống như toàn bộ dưỡng khí đã bị rút cạn ra khỏi các hành lang.
Tôi châm một ngọn nến sáp trắng đặt giữa bàn, rút con dao găm đặt nằm ngang bên cạnh cuốn sách. Ngọn lửa nến thẳng đứng, không hề lay động, cho thấy không khí trong phòng hoàn toàn bất động.
Mười một giờ bốn lăm.
Giọt nước màu hồng treo ở đầu sợi chỉ đỏ trên trần nhà đột nhiên khẽ rung lên.
Một giọt chất lỏng rơi xuống, đập trúng chiếc gối ngủ trên giường tôi, phát ra một tiếng "tách" nhỏ xíu nhưng rõ ràng đến rợn người. Lớp vải gối lập tức bị ăn mòn thành một lỗ thủng cháy xém đen sì, bốc lên một làn khói trắng mang mùi thịt cháy.
Tôi không nhúc nhích, hai mắt dán chặt vào trần nhà. Mắt âm dương của tôi nhìn thấy những đường gân máu màu đỏ li ti bắt đầu bò lan ra từ vết nứt quanh sợi chỉ, lan rộng ra khắp bề mặt trần bê tông như một mạng nhện khổng lồ.
Đúng mười hai giờ đêm. Giờ Tý bắt đầu.
Một luồng gió lạnh thấu xương từ đâu tràn vào, thổi bùng ngọn lửa nến trắng lên thành màu xanh lục le lói.
Ngay sau đó, từ phía trên đỉnh đầu tôi, truyền đến một âm thanh kỳ lạ.
Cộp.
Âm thanh khô khốc đập thẳng vào thính giác tôi. Nó không phát ra từ hành lang hay ngoài cửa sổ, mà vang lên từ tầng trên, ngay trên bề mặt sàn bê tông của tầng bảy, cách đỉnh đầu tôi chỉ một lớp vữa.
Cộp... xoạt...
Tiếng bước chân.
Đó là tiếng bước chân của một thứ đáng sợ vô cùng nặng nề, mang theo sức nặng của hàng tạ sắt thép dẫm lên sàn nhà. Tiếng gót chân nện xuống nền bê tông cứng ngắc. Tiếp theo là tiếng kéo lê chậm chạp của một bàn chân không nhấc nổi lên khỏi mặt đất.
Cộp... xoạt... Cộp... xoạt...
Âm thanh đó di chuyển rất chậm, xuất phát từ phía ban công tầng bảy, đi thẳng vào giữa phòng khách phía trên, rồi hướng thẳng về phía phòng ngủ - vị trí tương ứng với căn phòng 604 của tôi.
Mỗi khi tiếng bước chân nện xuống, trần nhà bằng bê tông lại khẽ rung lên một nhịp. Bụi vôi trắng lả tả rơi xuống từ các vết nứt, bám đầy lên mặt bàn và vai áo tôi. Tôi ngồi yên trên ghế, bàn tay phải đặt hờ lên chuôi dao găm, ngón tay cái miết nhẹ vào lớp thép lạnh ngắt. Hơi thở tôi được nén lại ở mức tối thiểu, nhịp tim ép xuống mức chậm rãi nhất có thể.
Tiếng bước chân kéo lê dừng lại.
Nó dừng lại ngay tại vị trí lỗ thủng cắm sợi chỉ đỏ, đúng ngay trên đỉnh đầu tôi.
Không gian lại rơi vào một sự tĩnh mịch ngột ngạt đến mức nghẹt thở. Tôi ngước mắt nhìn lên. Đầu sợi chỉ đỏ trên trần nhà bỗng nhiên căng cứng ra, thẳng tuột như một sợi dây đàn bằng thép. Có thứ đáng sợ ở tầng trên đang nắm lấy đầu sợi chỉ, kéo ngược nó lên.
Một áp lực vô hình nặng như núi thái sơn từ trần nhà đè sụp xuống toàn bộ căn phòng. Bốn bức tường gỗ mục kêu lên những tiếng cót két vặn vẹo. Ngọn nến màu xanh lục trên bàn chao đảo dữ dội, ngọn lửa bị ép bẹp dí xuống sát chân bấc nến, chỉ chực tắt ngấm.
Dưới ánh sáng xanh lét lay lắt, tôi thấy bóng của chính mình in trên vách tường đang bị bóp méo. Nhưng cạnh bóng của tôi, từ góc trần nhà nơi sợi chỉ đỏ rủ xuống, một cái bóng đen kịt khác đang từ từ nhô ra. Cái bóng không có hình người rõ rệt, nó tròn ủng và gồ ghề như một tảng đá phủ đầy rong rêu, từ từ trườn xuống theo vách tường.
Tiếng thở phì phò nặng nhọc vang lên từ trên trần nhà, kèm theo mùi hôi thối nồng nặc của xác động vật chết lâu ngày dưới đáy cống.
Kẻ canh giữ lồng nhốt âm đã tìm đến tận cửa.
Chuỗi ngày ẩn mình an phận của một sinh viên đại học bình thường, ngày ngày vùi đầu vào sách vở để trốn tránh món nợ nghiệp chướng của dòng họ, đến giây phút này đã chính thức bị nghiền nát thành tro bụi.
Sợi chỉ đỏ khẽ rung lên bần bật, từng hạt bụi vôi trên trần rơi thẳng xuống mi mắt tôi. Tôi không chớp mắt, bàn tay siết chặt lấy chuôi dao găm, từ từ đứng thẳng người dậy trong bóng tối đặc quánh.