Huyết Lễ Nghĩa Địa - Chương 1: Nấm Mồ Nứt Toác

Gió bấc rít qua khe cửa gỗ của am cốc, mang theo hơi lạnh buốt giá của vùng rừng già biên giới phía Bắc. Trên bệ thờ bằng đá mộc, ngọn đèn dầu bỗng chao…

Nội dung chương

Gió bấc rít qua khe cửa gỗ của am cốc, mang theo hơi lạnh buốt giá của vùng rừng già biên giới phía Bắc. Trên bệ thờ bằng đá mộc, ngọn đèn dầu bỗng chao nghiêng dữ dội. Lửa đỏ quắt lại rồi bùng lên ngọn khói đen khét lẹt, dẫu cho bốn bề vách nứa trát đất sét đã được chèn kín bằng những bao tải gai khô.

Hành giả Thubten Lobsang Lodrö ngồi bất động trên tấm đệm cói mục nát. Ông năm mươi tám tuổi, đầu cạo nhẵn bóng, khuôn mặt gầy gò hốc hác để lộ hai gò má nhô cao cùng những nếp nhăn sâu hoắm như vết rìu bửa trên thân cây khô. Tấm áo cà sa màu nâu sồm pha vàng của phái Cổ Mật khoác trên người ông đã bạc phếch, sờn rách ở mép gấu sau ba mươi sáu năm lưu lạc tu hành từ vùng đất tuyết Ấn Độ trở về quê hương.

Bàn tay phải nổi đầy gân guốc của Lobsang Lodrö chầm chậm lần từng hạt trong chuỗi tràng một trăm lẻ tám hạt gỗ tử đàn cổ. Mỗi hạt gỗ bóng nhẫy màu huyết dụ trượt qua kẽ ngón tay ông theo từng hơi thở kim cương trì tụng. Thế nhưng, vào lúc canh ba điểm, khi tuần trăng cuối năm vừa lặn sau rặng thông, chuỗi hạt trên tay ông bỗng khựng lại.

Một luồng uế khí xộc thẳng vào am cốc.

Khí lạnh ấy không đơn thuần là cái rét của tuyết trắng ngoài trời. Nó sặc sụa mùi máu tanh rưới trên kim loại gỉ, mùi mỡ người ôi thiu và oán hận đặc quánh của những kẻ chết không nhắm mắt. Dưới lớp da đầu trọc lốc của hành giả, các đường kinh mạch giật thót liên hồi. Ba mươi năm trước, trong khu rừng tuyết gần tu viện Drepung, hai bậc thầy truyền pháp Chöd của ông cũng từng gặp phải luồng sát khí hung bạo bực này trước khi bị loài quỷ dữ xé xác trong đêm đàn tràng Thí thân pháp.

Lobsang Lodrö mở bừng mắt. Đôi mắt ông đục mờ vì sương gió nhưng sâu thẳm, phản chiếu ánh lửa dầu leo lét. Ông nhìn về hướng đông nam, nơi thung lũng Bản Lường đang chìm trong bóng tối dày đặc. Phía sau rặng thông già của bản làng ấy chính là bãi tha ma hoang phế, nơi vùi lấp hai mươi xác chết của vụ thảm sát tàn khốc mấy mươi năm về trước.

Một tiếng rạn vỡ vô hình vọng lại trong cõi vô sắc, bén ngót như lưỡi dao cắt ngang màn đêm.

"Oán khí phá thổ."

Lobsang Lodrö lẩm bẩm bằng âm sắc trầm khàn của tiếng Phạn hòa lẫn tiếng mẹ đẻ. Ông siết chặt chuỗi tràng tử đàn, các lóng tay trắng bệch ra vì vận lực. Đất trời vùng biên ải này sắp sửa đón một trận huyết lễ kinh hoàng.

***

Cách am cốc của hành giả chừng năm dặm đường rừng, gió tuyết đang quất rát mặt Lý Mỹ Trang.

Cô gái hai mươi sáu tuổi gập người bước từng bước nặng nhọc trên con đường mòn phủ đầy băng xốp. Đôi ủng cao su màu đen ngập sâu đến nửa bắp chân, phát ra tiếng lạo xạo khô khốc mỗi lần cô nhấc gót. Trang khoác trên mình chiếc áo tơi chằm bằng lá cọ nâu sẫm, đầu quấn chặt chiếc khăn rằn sờn chỉ để ngăn gió lùa vào tai. Dưới vành khăn, gương mặt trái xoan của cô tái mét, da dẻ xanh xao vì nhiều đêm mất ngủ, chỉ có đôi mắt to tròn đượm vẻ buồn bã là mở trừng trừng nhìn vào bóng tối.

Tay trái Trang xách chiếc đèn bão cũ kỹ, ánh lửa vàng vọt hắt ra qua lớp kính bám đầy bồ hóng, rọi một khoảng tròn méo mó trên mặt tuyết. Tay phải cô cắp chiếc giỏ mây đựng mấy bó hương đen, xấp tiền vàng mã cắt bằng giấy bản và một chai rượu ngô nút lá chuối.

Làng Bản Lường có một tục lệ gắt gao từ thời cụ kỵ truyền lại: người chết chôn cất chưa qua ba ngày, gia quyến tuyệt đối không được bén mảng ra mộ vì sợ hơi lạnh ám vào con cháu. Thay vào đó, việc kiểm tra mồ mả, thắp tuần hương đầu và rải tiền giấy dẫn đường hoàn toàn giao phó cho người bốc mộ của bản. Trong cái làng heo hút nép mình bên dãy núi biên giới này, chẳng ai muốn dây dưa với thây ma và người chết ngoại trừ Trang. Cô mồ côi từ nhỏ, lớn lên nhờ cậy vào ông nội là trưởng làng Trần Văn Sửu, sớm làm quen với tro than vàng mã và những bộ hài cốt lạnh ngắt dưới lòng đất ẩm.

Ba ngày trước, một gã thợ săn trong bản trúng gió lăn ra chết bất đắc kỳ tử trên sườn núi. Dân làng vội vã đóng ván, đưa xác gã ra chôn ở rìa bãi tha ma hoang ven rừng thông già. Đêm nay tròn ba ngày mở cửa mả, Trang buộc phải một mình xách đèn ra bãi tha ma làm trọn phần lễ nghi.

Bãi tha ma hiện ra sau khúc quanh của rừng thông già.

Những thân thông cổ thụ hàng trăm năm tuổi cao vút, cành lá trĩu nặng băng tuyết vươn ra tua tủa như bàn tay khô khốc của lũ quỷ đói chực chộp xuống đầu người qua đường. Giữa bãi đất trống lồi lõm mọc đầy cỏ tranh khô cháy là hai mươi nấm mồ vô chủ. Đất trên những nấm mồ ấy đã sụp xuống thành những cái hố trũng, phủ một màu tuyết trắng toát lạnh lẽo. Đó là mồ chôn tập thể của những nạn nhân trong vụ thảm sát biên giới năm xưa, những kẻ từng bị moi ruột, phanh thây rồi vùi xác vội vã dưới chân núi.

Nằm sừng sững giữa bãi tha ma hoang tàn ấy là hai ngôi mộ đá khối đồ sộ. Hai tấm bài vị tạc bằng đá granit đen nhánh đứng sừng sững, mặt đá bóng loáng phản chiếu ánh sáng lờ mờ của chiếc đèn bão tạo thành hai cái bóng đen dài ngoằng trườn trên mặt tuyết. Cách đó không xa, ngôi miếu thổ thần bỏ hoang từ lâu rêu phong phủ kín, một góc mái ngói âm dương đã sụp đổ, để lộ khoảng không đen ngòm như miệng vực.

Mùi hôi thối xộc thẳng vào mũi Trang khiến cô lảo đảo dừng bước.

Mùi tanh nồng nặc của máu tươi quyện lẫn với mùi ruột gan người phân hủy dưới băng giá tạo thành một thứ xú khí đặc sệt, chui qua lớp khăn rằn, xông thẳng vào cuống họng cô. Trang lấy ống tay áo bịt chặt mũi, cổ họng trào lên từng cơn nôn nao dữ dội. Là kẻ quanh năm đào huyệt bốc mộ, cô quá quen với mùi tử khí, nhưng thứ mùi đang bốc lên ngùn ngút từ lòng đất này mang theo sự man rợ tột cùng.

Trang nâng cao chiếc đèn bão, bước nhanh về phía nấm mộ mới đắp cách chân hai ngôi mộ đá granit chừng chục thước.

Khi ánh đèn rọi tới nơi, chân cô run bắn, chiếc giỏ mây trên tay rơi bộp xuống nền tuyết.

Nấm mộ của gã thợ săn đã biến mất.

Thay vào đó là một cái hố sâu toác hoác, đất đá và băng tuyết bị bới tung tóe văng xa hàng sải tay. Ván nắp quan tài bằng gỗ thông dày cộm bị vỡ toác thành từng mảng lớn, dăm gỗ lởm chởm dựng ngược lên trời, dính bết những vệt chất nhầy màu đen sẫm. Miệng huyệt mộ mở toang như một vết thương lở loét giữa nền tuyết trắng, hơi lạnh bốc lên ngùn ngụt cùng tiếng xèo xèo tanh tưởi.

Trang nuốt nước bọt ực một tiếng, ép chặt hai bàn tay đang run rẩy vào vạt áo tơi. Cô hít một hơi sâu buốt buốt lồng ngực, nhích từng bước lại gần miệng huyệt.

Ánh sáng vàng vọt từ ngọn đèn bão quét xuống đáy hố.

Dưới đáy huyệt, cỗ áo quan đã nát vụn. Thi thể gã thợ săn nằm ngửa, tấm vải liệm bằng vải xô trắng bị xé thành từng dải rách tơi tả, nhuốm đầy thứ máu bầm tím tái đã đông lại thành từng tảng băng mỏng. Cảnh tượng trước mắt khiến hai đầu gối Trang va vào nhau chan chát.

Ổ bụng của thi thể đã bị moi rỗng hoác.

Toàn bộ lục phủ ngũ tạng biến mất không còn lại một mảnh vụn. Khung xương sườn bị bẻ gãy quặp ngược sang hai bên, để lộ khoang ngực trống rỗng đen ngòm. Xung quanh vết xé toang hoác nơi bụng dưới, mép da thịt nham nhở những vết cắn sâu hoắm, để lại dấu tích của hàm răng người to bè, hung tợn chứ chẳng hề giống răng nanh của loài lang sói hay gấu rừng. Những vết cào cấu bằng móng tay bấu sâu vào xương chậu và cột sống thi thể, cào tróc từng mảng tủy đông cứng.

Kẻ nào đó vừa ăn tươi nuốt sống bộ lòng của người chết ngay dưới đáy huyệt đóng băng này.

Trang không kìm nổi nữa. Cô quay ngoắt người, gập rạp thân mình xuống gốc cây thông gần đó nôn thốc nôn tháo. Mật xanh mật vàng trào ra ướt đẫm vạt khăn rằn, rớt xuống nền tuyết buốt nhói. Toàn thân cô run rẩy như chiếc lá rụng giữa bão tuyết, ruột gan thắt lại từng cơn đau đớn. Vụ thảm sát năm xưa lại hiện về qua những lời kể thì thào đầy sợ hãi của người già trong bản: hai mươi người bị sát hại dã man, bụng bị rạch nát, ruột gan bị lôi ra vứt vương vãi khắp các bụi rậm bìa rừng già.

Tiếng nứt toác răn rắc đột ngột vang lên từ đáy huyệt mộ, cắt đứt cơn nôn mửa của cô gái trẻ.

Trang giật mình ngẩng đầu. Cô lấy mu bàn tay quệt vội khóe miệng cay xè, run rẩy nhấc chiếc đèn bão lên soi.

Dưới đáy chiếc hố rỗng, lớp băng đất xám xịt bỗng nứt ra một đường rãnh dài chừng ba thước. Từ khe nứt sâu hoắm ấy, một dòng nước nhờn đỏ quạch sủi bọt ùng ục, trào lên xối xả. Thứ nước ấy đen sền sệt như máu đọng lâu ngày hòa lẫn tro than, bốc mùi tanh tưởi đến lợm giọng. Dòng nước nhờn chảy tới đâu, lớp tuyết trắng xung quanh tan rữa ra thành bọt nước đen ngòm tới đó.

Trang lùi lại hai bước, lưng đập mạnh vào thân cây thông xù xì. Cô trân trân nhìn dòng chất lỏng quái gở đang cuồn cuộn dâng lên trong lòng huyệt nứt.

Dòng nước đen đỏ cuốn trôi lớp bùn đất đè nén bên dưới, đẩy trồi lên một vật gì đó vướng vào mép ván quan tài vỡ.

Đó là một mảnh vải rách tả tơi.

Mảnh vải bị ngâm dưới lòng đất giá buốt nhiều năm ròng rã, lớp mép đã mục nát và đông cứng lại thành một khối băng sắc lẹm. Dưới ánh đèn bão, Trang nhận ra màu chàm sẫm đặc trưng của vạt áo bà ba phụ nữ vùng cao.

Tò mò lấn át nỗi kinh hoàng, Trang run rẩy rút con dao găm nhỏ chuyên dùng để phạt cỏ trên mộ cài bên hông ra. Cô cúi thấp người, dùng mũi dao gạt nhẹ lớp bùn đất và băng tuyết bám dính trên bề mặt tảng băng.

Dưới lớp băng trong suốt vừa hé lộ, một góc áo được thêu tỉ mỉ bằng chỉ ngũ sắc hiện ra. Nhưng đường kim mũi chỉ ấy chưa trọn vẹn, còn bỏ dở dang giữa chừng. Bốn nét chỉ màu đỏ thẫm ghép lại thành một chữ cái duy nhất:

"Hoài".

Những giọt máu khô bám chặt xung quanh chữ "Hoài", kết thành từng chấm đen sẫm trên nền vải chàm mục nát.

Trang chết lặng tại chỗ, con dao găm trên tay suýt nữa tuột khỏi kẽ ngón tay tê buốt.

Cái tên Lý Thị Hoài giáng một đòn sấm sét vào tâm trí cô.

Suốt năm năm qua, kể từ ngày cô tròn hai mươi mốt tuổi và bắt đầu đảm nhận công việc chôn cất ở làng Bản Lường, cái tên ấy đã trở thành một cơn ác mộng dai dẳng bóp nghẹt lồng ngực cô trong những đêm đông lạnh giá. Trong những giấc mơ đẫm máu ấy, một người con gái mặc áo chàm rách nát, mái tóc xõa dài che kín nửa khuôn mặt bê bết bùn đất, luôn đứng bên đầu giường cô van lơn trong tiếng khóc nghẹn ngào: "Trang ơi... chôn cất cho chị... ruột gan chị lạnh lắm... bọn chúng ăn hết rồi...".

Người con gái ấy có họ Lý, cùng họ với cô. Nhưng mỗi lần Trang đem chuyện giấc mơ ra gặng hỏi ông nội Trần Văn Sửu, ông lão luôn đập bàn quát tháo, ánh mắt rực lên sự hung tợn khác thường rồi cấm tiệt cô không được nhắc lại cái tên đó trong căn nhà gỗ.

Tại sao mảnh áo của Lý Thị Hoài lại trồi lên từ đáy huyệt mộ của gã thợ săn vừa mới chết?

Gió rừng già bỗng đổi hướng, giật mạnh từng cơn điên cuồng qua các tán thông. Băng tuyết đọng trên cành cao rơi xuống rào rào, đập lộp bộp lên nón lá và áo tơi của Trang. Từ phía hai ngôi mộ đá granit đen nhánh giữa bãi tha ma, tiếng đá cọ xát ken két vang lên khe khẽ, nghe như tiếng móng tay sắc nhọn đang cào cấu từ bên trong vách đá để chui ra ngoài.

Đáy huyệt lại rùng mình. Dòng nước nhờn đỏ đen trào lên cuồn cuộn, nhấn chìm nửa thi thể cụt ngực của gã thợ săn. Bàn tay khô cứng của xác chết bỗng giật giật, các ngón tay co quắp lại rồi chìm dần vào hố bùn tanh tưởi.

Không khí xung quanh lạnh xuống một cách bất thường, lạnh đến mức hơi thở thở ra ngưng lại thành khói trắng đặc quánh trước mặt. Trang nhận ra mình không còn an toàn ở nơi này thêm một khắc nào nữa. Thứ quái vật vừa moi ruột ăn thịt người chết có thể vẫn đang lẩn khuất ngay sau những gốc thông cổ thụ quanh đây, dõi theo cô bằng những cặp mắt đói khát rực lửa trong đêm tối.

Trang run rẩy giật mạnh mảnh áo chàm đóng băng lên khỏi mép ván quan tài vỡ. Lớp băng bén ngót cứa rách lòng bàn tay cô, máu tươi tứa ra nhỏ giọt xuống vạt áo chàm cũ kỹ, nhưng cô chẳng hề cảm thấy đau đớn. Cô nhét vội mảnh vải thêu tên Hoài vào sâu trong lớp áo tơi, vứt lại chiếc giỏ mây đựng vàng mã nằm chỏng chơ trên nền tuyết.

Chiếc đèn bão trong tay cô chao đảo dữ dội theo từng nhịp tim đập loạn xạ trong lồng ngực.

Trang quay phắt người, cắm đầu cắm cổ tháo chạy trên con đường mòn tuyết phủ. Bàn chân cô đạp trúng những tảng băng ngầm sắc nhọn, trượt ngã dúi dụi xuống nền tuyết buốt giá rồi lại lập cập bò dậy chạy tiếp. Gió sau lưng cô rít lên từng hồi ghê rợn, mang theo tiếng rên xiết thảm thiết của hai mươi cô hồn bị chôn sống năm xưa, hòa lẫn với tiếng nhai ngấu nghiến xương cốt rợn người vọng ra từ đáy huyệt mộ nứt toác.

Cô phải chạy thật nhanh về bản. Phải tìm gặp trưởng làng Trần Văn Sửu để báo tin về cái chết rùng rợn của nấm mồ mới, và chất vấn ông về mảnh áo đẫm máu mang tên người con gái trong ác mộng.

Chương khác

Xem thêm