Huyết Lễ Nghĩa Địa - Chương 20: Bình Yên Trở Lại Cho Làng Bản Lường

Ánh bình minh mờ đục rạch ngang bầu trời biên viễn, rọi những vệt sáng lạnh lẽo đầu tiên xuống bãi tha ma hoang phế. Cơn bão tuyết thổi từ đỉnh núi cao…

Nội dung chương

Ánh bình minh mờ đục rạch ngang bầu trời biên viễn, rọi những vệt sáng lạnh lẽo đầu tiên xuống bãi tha ma hoang phế. Cơn bão tuyết thổi từ đỉnh núi cao dần lắng xuống, cuốn trôi mùi dầu hỏa khét lẹt cùng lớp khói đen đặc quánh. Trên nền tuyết ngổn ngang tàn tro, ngọn lửa hung tàn của lòng người đã bị vùi dập hoàn toàn dưới những tảng băng vụn.

Lý Thị Hoài quỳ yên trước mặt tôi, đốm sáng hài nhi nép trọn vào lồng ngực cô, tỏa ra hơi ấm êm dịu gột sạch từng chút oán hận cuối cùng. Vết chém chằng chịt trên gương mặt người con gái xấu số dần mờ đi, nhường chỗ cho dung mạo mộc mạc thuở đôi mươi. Cô gái cúi rạp đầu xuống lớp tuyết dày, vái lạy ba lạy tạ ân cứu độ. Xung quanh đàn tế, hai mươi bóng ma đói khát năm xưa cũng nối tiếp nhau chắp tay hướng về phía tôi. Huyết lệ đã cạn, những tiếng rên rỉ đòi ăn thịt người chết không còn nữa, thay vào đó là tiếng thở phào nhẹ nhõm của những vong hồn vừa rũ bỏ xiềng xích trầm luân.

Từng linh hồn dần hóa thành những dải khói trắng mỏng manh, nương theo luồng gió sớm bay vút lên vòm thông đại ngàn rồi tan biến vào nền trời quang đãng. Lý Thị Hoài mỉm cười, đôi mắt trong veo nhìn Mỹ Trang lần cuối trước khi cùng hài nhi hóa thành luồng ánh sáng ấm áp, quyện vào làn mây trắng về cõi an lành.

Bãi tha ma chìm vào sự tịch mịch tuyệt đối.

Bên ngoài hàng rào cọc nhọn, Trần Văn Bách cùng đám đàn ông Bản Lường vẫn quỳ sụp dưới đất, cả người run rẩy như thằn lằn đứt đuôi. Cây rựa sáng loáng tuột khỏi tay gã trưởng thôn tự lúc nào, cắm ngập vào đống tro tàn ướt sũng. Bọn chúng đã chứng kiến trọn vẹn cảnh tượng vừa diễn ra. Sự từ bi của cõi Phật và sự giải thoát của linh hồn người chết đã lột trần bộ mặt tàn nhẫn, hèn hạ của những kẻ đang sống.

Không một ai dám ngẩng đầu lên. Tiếng khóc nấc của một vài người già trong làng bắt đầu vang lên rấm rứt giữa thung lũng tuyết. Tội ác của ba mươi năm trước giấu kín dưới đáy mồ, ngỡ tưởng dùng lửa than và sự man rợ có thể chôn vùi mãi mãi, nay lại hiện hình rành rành trước mắt con cháu bọn họ. Trần Văn Bách áp trán xuống mặt băng lạnh buốt, bờ vai rung lên từng đợt thảm hại, miệng lẩm bắp những lời cầu xin vô nghĩa.

Tôi khẽ thở dài, vết thương trước ngực do móng vuốt quỷ đâm vào lúc này đã se miệng, kết thành một vết sẹo màu nâu sẫm mang hình chữ Vạn. Cơn kiệt sức ập đến khiến từng khớp xương toàn thân tôi rã rời. Tôi lần từng hạt trong chuỗi tràng hạt 108 hạt gỗ tử đàn, cảm nhận luồng sinh khí ấm áp đang hồi phục lại kinh mạch tổn thương.

- Mỹ Trang. - Tôi cất giọng khàn đặc gọi.

Cô gái trẻ ngẩng đầu lên, gương mặt vấy máu và bồ hóng nhưng đôi mắt đã tìm lại được nét trong sáng vốn có. Nỗi ám ảnh dai dẳng trong những cơn ác mộng bấy lâu nay đã được tháo gỡ hoàn toàn. Cô đứng dậy, bước từng bước run rẩy về phía miệng hố sụt lún dưới nền ngôi miếu hoang.

- Thầy ơi... Con phải đưa chị Hoài và em bé về nơi yên nghỉ. - Mỹ Trang nghẹn ngào nói.

- Hãy làm đi, con. Lòng đất mẹ bao dung sẽ ôm lấy họ, trả lại sự trong sạch cho những mảnh xương tàn.

Mỹ Trang cởi chiếc áo tơi nâu đã rách bươm và chiếc khăn rằn quấn cổ trải cẩn thận lên mặt tuyết. Bằng đôi bàn tay chai sần quen việc bốc mộ, con bé bước xuống lòng đất sâu. Mỹ Trang không hề sợ hãi hay ghê tởm, cẩn trọng nhặt từng mảnh xương sườn gãy vụn, từng đốt ngón tay nhỏ nhắn của người mẹ trẻ bị chôn sống năm xưa. Khi chạm đến bộ hài cốt bé bỏng của đứa trẻ sơ sinh nằm cuộn tròn trong hõm xương chậu mục nát, nước mắt Mỹ Trang lại rơi lã chã xuống nền đất ẩm.

Con bé dùng khăn rằn bọc lấy hài nhi, đặt cẩn thận vào lòng bộ xương của người mẹ, rồi gói tất cả lại trong manh áo tơi nâu sạch sẽ nhất mà cô mang theo. Đám đàn ông Bản Lường bên ngoài nhìn thấy cảnh tượng ấy đều cúi gục đầu sâu hơn. Sự nhẫn nại và lòng thành kính của đứa con gái mồ côi họ Lý như một ngọn roi quất thẳng vào lương tri tăm tối của cả một dòng họ độc ác.

Tôi vịn vào cây gậy trúc, bước từng bước chậm chãi về phía góc Đông của bãi tha ma.

Đã đến lúc phải thu ấn giải đàn. Bốn chiếc chùy Phurba bằng sắt thiên thạch cắm sâu bốn phương tám hướng cần được giải phóng để trả lại khí mạch tự nhiên cho núi rừng.

Đến bên chiếc chùy Phurba đầu tiên ở hướng Đông, tôi chắp hai tay trước ngực, tay trái khẽ rung chiếc chuông đồng. Tiếng chuông "đinh lang" thanh thoát vang vọng vào vách đá, xé toang bầu không khí u uất tồn đọng hàng thập kỷ. Tôi đặt bàn tay phải lên chuôi chùy hình đầu thần Vajrakilaya, miệng tụng bài chú giải tỏa kết giới:

- Om Vajrasattva Samaya, Manupalaya...

Bằng một lực kéo dứt khoát, tôi nhổ chiếc chùy Phurba lên khỏi mặt đất đóng băng. Ngay khi mũi chùy ba cạnh rời khỏi lòng đất, một tiếng nổ nhỏ vang lên dưới tầng băng. Vết nứt đen ngòm dưới chân cọc rào lập tức khép miệng lại, dòng nước đen đỏ tanh tưởi sủi bọt từ nãy đến giờ bỗng nhiên ngừng chảy hoàn toàn, đông cứng lại rồi biến mất dưới làn tuyết mới.

Tôi tiếp tục lê bước sang hướng Nam, nhổ chiếc chùy thứ hai. Tiếng chuông đồng lại vang lên đều đặn từng nhịp trầm hùng. Ở mỗi góc đất nơi chiếc chùy sắt được rút lên, chướng khí xám xịt bao phủ cây rừng bỗng chốc tan rã. Những tán thông già rũ bỏ lớp băng đen dơ bẩn, để lộ ra những phiến lá xanh sẫm tràn đầy sức sống.

Đến góc Tây và góc Bắc, bàn tay tôi đã lạnh cóng đến mức mất cảm giác, da thịt cọ xát vào kim loại sắt buốt nhức tận xương tủy. Nhưng tâm trí tôi vô cùng thanh thản. Chiếc chùy cuối cùng được nhổ lên, bốn luồng kình lực phong ấn tan biến vào hư không. Trời đất biên thùy như trút bỏ được một gánh nặng ngàn cân tích tụ từ cuộc thảm sát đẫm máu năm nào.

Tôi quay trở lại khu vực trung tâm nghĩa địa.

Nơi đây, hai mươi ngôi mộ vô danh từng nứt toác miệng đầy băng giá nay đã phẳng phiu trở lại. Đất thịt nâu sẫm tự động lấp đầy những rãnh nứt hiểm ác. Mùi hôi thối của tử khí hoàn toàn biến mất, thay vào đó là mùi đất ẩm nồng nàn và hương gỗ thông ngai ngái quen thuộc của núi rừng Tây Bắc.

Mỹ Trang đã chọn được một vị trí cao ráo, nơi có gốc cây dẻ cổ thụ che chở ở ven rừng già, để đào một huyệt mộ mới. Con bé dùng xẻng xới từng tấc đất mềm. Bấy giờ, vài người đàn ông trong làng Bản Lường rụt rè tiến lại gần. Họ không cầm rựa, không mang dầu hỏa nữa, trên tay chỉ có những chiếc cuốc và xẻng run rẩy.

Một người đàn ông luống tuổi, có lẽ là bậc cha chú của Mỹ Trang, quỳ xuống trước mặt con bé, giọng run run:

- Trang ơi... Để... để các chú giúp một tay. Làng này mang nợ cô Hoài... mang nợ đứa nhỏ... Để chúng tao chuộc lấy một phần tội lỗi...

Mỹ Trang nhìn người chú họ, trong ánh mắt con bé không có sự oán hờn mù quáng, nhưng cũng chẳng hề có sự dung thứ dễ dàng. Con bé chỉ lặng lẽ lùi lại một bước, nhường cán xẻng cho người đàn ông:

- Hãy đào cho sâu, đắp cho cao. Đừng để gió rét biên giới làm lạnh mẹ con chị ấy thêm một lần nào nữa.

Đám đàn ông Bản Lường cắm cúi đào xới trong im lặng. Mỗi nhát cuốc bổ xuống đất sâu là một lần bọn họ phải đối diện với sự thật nhơ bẩn mà bao năm qua cả bản đã đồng lõa che giấu. Nắm hài cốt bọc trong áo tơi nâu được hạ xuống huyệt mộ mới một cách trang trọng, tôn nghiêm. Đất mới vun lên thành một nấm mồ tròn trịa, vững chãi dưới tán cây cổ thụ.

Mỹ Trang tìm một phiến đá phiến xám nhẵn nhụi, dùng đầu dao găm khắc vụng về mấy chữ: "Phần mộ Lý Thị Hoài và con". Con bé cắm ba nén hương trầm lên mộ, khói hương nghi ngút bay thẳng lên trời xanh, không hề bị gió bấc quẩn lại như những ngày trước.

Đúng lúc đó, một âm thanh trầm đục phát ra từ trung tâm bãi tha ma.

Mọi người giật mình quay lại nhìn. Hai ngôi mộ đá lớn với bài vị bằng đá granit đen - biểu tượng giả tạo cho sự sám hối của dòng họ Trần Văn Sửu dựng lên năm xưa - bỗng nhiên rung chuyển.

Những vết nứt chân chim xuất hiện trên bề mặt đá hoa cương đen bóng, lan nhanh như mạng nhện.

"Rắc! Rắc!"

Âm thanh rạn vỡ vang lên khô khốc giữa không gian tĩnh lặng. Hai tấm bia đá granit đen khổng lồ đồng loạt vỡ đôi, đổ sụp xuống nền đất thành từng mảnh đá vụn vô hại. Bức màn che đậy tội ác do con người ngụy tạo đã chính thức sụp đổ hoàn toàn.

Và ngay giữa kẽ nứt của hai ngôi mộ đá vừa vỡ vụn, lớp tuyết dày bắt đầu tan chảy nhanh chóng dưới hơi ấm kỳ lạ bốc lên từ lòng đất. Một mầm cây non xanh biếc, mập mạp và tràn trề nhựa sống, chầm chậm đội đất nhô lên giữa bãi hoang tàn. Giọt nước tuyết trong vắt đọng trên đầu chồi non lấp lánh dưới ánh nắng ban mai rực rỡ.

Sự sống đã hồi sinh từ chính nơi từng là nấm mồ của sự chết chóc và phản bội.

Trần Văn Bách nhìn mầm cây non, rồi lại nhìn đống đá vụn của tổ tiên mình, gã ôm mặt khóc rống lên như một đứa trẻ. Nghiệp báo của Bản Lường từ nay sẽ phải do chính những kẻ còn sống gánh vác. Họ sẽ phải sống với sự thật, sống với nỗi cắn rứt lương tâm và dùng cả phần đời còn lại để đền bù cho những linh hồn đã khuất. Nhưng ít nhất, vòng lặp thù hận đã bị chặt đứt. Quỷ dữ không còn đất dung thân, bởi vì oán hận đã được hóa giải bằng lòng trắc ẩn tột cùng.

Tôi lau sạch lưỡi dao Kartika và bốn chiếc chùy Phurba, cất cẩn thận vào đãy vải thô khoác lên vai. Chiếc trống sọ Damaru nằm im lìm bên hông, chuỗi tràng hạt tử đàn trên cổ sáng bóng một màu nâu đỏ thâm trầm.

Pháp tu Chöd nơi nghĩa địa biên giới này đã hoàn tất. Tôi không tiêu diệt Lý Thị Hoài bằng uy lực sắc nhọn của chùy thần, mà đã dùng chính thân xác và đạo tâm của mình làm nhịp cầu đưa cô vượt qua biển khổ luân hồi. Người tu hành vốn không mang theo gươm giáo để trừng phạt thế gian, mà chỉ mang theo ngọn đèn soi rọi vào những góc tối tăm nhất của lòng người.

Mỹ Trang bước đến bên tôi, quỳ xuống vái lạy:

- Thầy cho con đi theo thầy. Con không thể ở lại Bản Lường này nữa. Con muốn học kinh, muốn dùng đôi tay này để cầu siêu cho những linh hồn lang bạt không nơi nương tựa.

Tôi nhìn cô gái trẻ, mỉm cười lắc đầu từ tốn:

- Con đường của ta là con đường của kẻ độc hành nơi rừng sâu núi thẳm, gió tuyết phong sương, không hợp với con. Bản Lường cần con ở lại, Mỹ Trang à. Con chính là lương tâm duy nhất còn sót lại của vùng đất này. Hãy ở lại đây, chăm sóc cho nấm mồ của mẹ con Hoài, và giúp những người còn sống học cách làm người tử tế. Đó mới chính là đạo tràng lớn nhất của con.

Mỹ Trang ngấn lệ, hiểu ra ý tứ sâu xa trong lời tôi dặn, cô gái chắp tay cúi đầu nhận mệnh.

Tôi quay lưng, chống gậy trúc bước đi trên con đường mòn phủ đầy tuyết trắng dẫn sâu vào rừng thông già. Sau lưng tôi, tuyết trên bãi tha ma đang tan dần dưới ánh mặt trời buổi sớm, để lộ ra những vạt cỏ xanh non đang bắt đầu đội đất vươn lên.

Tiếng chuông đồng trên tay tôi lại khẽ rung lên một nhịp thanh thoát, hòa vào tiếng xào xạc của ngàn thông biên giới, ngân nga mãi giữa đất trời bao la.

Chương khác

Xem thêm