Huyết Lễ Nghĩa Địa - Chương 17: Lý Thị Hoài - Người Con Gái Bị Dân Làng Bức Tử
Mùi máu tanh nồng đặc quánh trùm lên cánh mũi tôi, mang theo cái lạnh cắt da thịt của một mùa đông xa xăm từ ba mươi năm trước. Thần thức của tôi bị kéo…
Nội dung chương
Mùi máu tanh nồng đặc quánh trùm lên cánh mũi tôi, mang theo cái lạnh cắt da thịt của một mùa đông xa xăm từ ba mươi năm trước.
Thần thức của tôi bị kéo tuột vào một khoảng xoáy đen ngòm, nơi không gian và thời gian bị xé nát bởi nguồn oán khí ngút trời. Tôi lập tức ngồi xếp bằng theo thế kiết già, hai tay kết ấn Định Tâm, ngón cái ấn chặt vào đốt thứ hai của ngón trỏ để giữ cho ngọn đèn chân tâm không bị bão táp cuốn phăng. Trong lồng ngực, nhịp tim đập dồn dập từng hồi nặng trĩu. Tôi tụng thầm bài kệ quy y, dồn toàn bộ định lực tích lũy qua mấy chục năm khổ hạnh nơi tu viện Drepung để bảo bọc tâm trí Mỹ Trang, không để thần hồn con bé vỡ tan trước làn sóng phẫn nộ cùng cực của quỷ chúa.
Bãi tha ma hoang phế ven rừng già lùi xa dần. Dưới mắt chúng tôi, tuyết trắng của thực tại biến thành một lớp băng xám xịt phủ kín ngôi làng Bản Lường trong những năm tháng biên giới chìm trong tao loạn.
Gió rít qua từng khe nẹp ván của những căn nhà sàn xiêu vẹo. Đói rét cùng cực bao trùm khắp ngõ ngách. Đất cằn trơ sỏi đá, rễ cây trong rừng bị đào bới sạch trơn, chim muông thú dữ đều bỏ đi biệt tích. Những bóng người gầy trơ xương, mặt mày hốc hác, bước đi xiêu vẹo trên nền tuyết đóng băng dày cả thước. Đôi mắt của họ hõm sâu, vằn lên những tia máu đói khát đến mất hết nhân tính.
Cảnh tượng chuyển dịch đến căn nhà sàn lớn nhất bản, nơi treo lủng lẳng những chiếc sọ sơn dương đã ngả màu mốc thếch.
Một người đàn ông trạc bốn mươi tuổi, vạm vỡ, mặc chiếc áo bông chần rách bươm đang ngồi bên bếp lửa tàn. Đó là Trần Văn Sửu của ba mươi năm trước. Khuôn mặt gã vuông vức, hàm bạnh ra dữ tợn, đôi mắt đục ngầu nhìn chòng chọc vào đám người đang co ro run rẩy bên ngoài cửa ngõ.
Đó là nhóm hai mươi người tị nạn kiệt sức vì lạc đường trong rừng tuyết. Họ là những người già, phụ nữ và trẻ nhỏ tha hương, lê lết từng bước chân rách nát tìm vào Bản Lường cầu xin một bát cháo loãng hay một củ sắn lùi để qua cơn đói rét.
Nhưng thứ đón chào họ không có hơi ấm đồng loại.
Trần Văn Sửu đứng bật dậy. Gã rút phắt cây rìu đốn củi giắt sau lưng, lưỡi thép xám lạnh loang lổ vết gỉ sét. Gã quay sang nhìn đám trai làng đang run rẩy vì đói lả phía sau, cất giọng khàn đục như tiếng đá mài vào sắt:
- Trong nồi hết gạo rồi. Rừng hết củ mài rồi. Tụi mày muốn chết đói rục xương ở xó nhà, hay muốn sống sót qua mùa đông này?
Đám đàn ông nhìn nhau. Ánh mắt đói khát của bầy sói hoang bùng lên lấn át chút lương tri cuối cùng sót lại. Họ không nói một lời nào, lẳng lặng cầm lấy dao quắm, xà beng và gậy gộc bọc sắt.
Tôi siết chặt chuỗi tràng hạt một trăm linh tám hạt gỗ tử đàn trong tay áo. Những hạt gỗ ma sát vào da thịt nóng ran, nhắc nhở tôi phải duy trì chánh niệm cao độ. Cảnh tượng trước mắt quá đỗi dã man, từng nhát búa, từng nhát rìu giáng xuống đầu những kẻ tha hương không một tấc sắt trong tay. Tiếng gào khóc thảm thiết vang lên xé toạc màn đêm vùng biên ải. Hai mươi con người ngã gục trên tuyết trắng. Máu nóng phun xối xả, làm tan chảy lớp băng dày, nhuộm đỏ cả một vùng đất rộng.
Tội ác không dừng lại ở việc giết chóc.
Đám người Bản Lường do Trần Văn Sửu dẫn đầu kéo những cái xác vào căn hầm đá dưới gầm sàn. Chúng dùng dao rạch bụng, moi lấy từng đoạn ruột non, xẻ thịt từng tảng lớn rồi treo lên gác bếp hong khói để chia nhau cầm cự qua mùa đông chết chóc. Thịt người biến thành khẩu phần cứu đói cho cả một ngôi làng đang bên bờ diệt vong.
Bên cạnh tôi, Mỹ Trang nấc nghẹn một tiếng xé lòng. Con bé ôm lấy đầu, mười đầu ngón tay cào cấu điên cuồng vào nền đất lạnh, hai mắt trợn trừng nhìn vào huyễn cảnh.
- Dừng lại... Xin đừng... Đừng bắt tôi nhìn nữa... - Mỹ Trang gào lên, bọt mép rỉ ra hòa lẫn nước mắt giàn giụa.
Tôi đưa tay điểm vào huyệt Phong Trì sau gáy con bé, truyền một luồng chân khí ấm áp vào kinh mạch:
- Trụ tâm lại, Mỹ Trang! Con phải nhìn cho rõ. Đây là nghiệp báo, là căn nguyên sâu xa của huyết lễ này. Trốn tránh không cứu được ai cả!
Huyễn cảnh đột ngột chuyển dịch sang bìa rừng thông tuyết phủ.
Một cô gái trẻ mang bụng bầu nhô cao, khoác chiếc áo tơi rách rưới, chân đất chạy thục mạng trên tuyết. Đó chính là Lý Thị Hoài năm đôi mươi. Cô gái họ Lý vốn là người hiền lành nhất bản, tình cờ phát hiện ra bí mật kinh hoàng dưới hầm đá nhà Trần Văn Sửu. Cô không đành lòng nhìn đồng loại ăn thịt người, quyết tâm gom chút sức tàn chạy trốn qua biên giới để báo tin cho đồn biên phòng.
Nhưng một người phụ nữ mang thai làm sao thoát khỏi sự truy lùng của bầy thú đói.
Trần Văn Sửu cùng bốn gã trai làng đuổi kịp cô ngay tại khoảng đất trống ven rừng già. Gã túm lấy mái tóc dài của cô giật ngược ra sau, ném phịch cô xuống một huyệt đất sâu hoắm vốn dùng để đào củ sắn.
- Con ranh họ Lý! Mày định đi báo quan để cả làng này bị bắn hết hay sao? - Trần Văn Sửu gầm lên, bàn chân giẫm mạnh lên ngực cô gái.
Lý Thị Hoài nằm bẹp dưới hố đất, hai tay ôm chặt lấy bụng bầu, nước mắt lưng tròng van lạy:
- Bác Sửu... Em lạy bác... Em thề không hé răng nửa lời... Xin bác tha cho mẹ con em... Đứa bé trong bụng em vô tội mà bác...
- Thả cho mày sống để mối họa còn mãi à? - Trần Văn Sửu gằn từng tiếng, gương mặt méo mó vì sợ hãi tội ác bị bại lộ. - Dòng giống họ Lý nhà mày sống sót thì cả làng tao chết! Muốn trách thì trách bụng mày mang mầm họa!
Dứt lời, gã vung rìu chém thẳng xuống.
Lý Thị Hoài rú lên một tiếng tuyệt vọng rồi ngất lịm. Đám đàn ông Bản Lường lao xuống hố. Để triệt để bịt đầu mối và che giấu tội ác ăn thịt hai mươi nạn nhân, chúng đã dùng dao rạch toang bụng cô gái trẻ, moi hết ruột gan vứt xuống hố sâu cùng với những mẩu xương tàn của những người tị nạn xấu số. Đứa con chưa kịp chào đời của cô bị chà đạp tàn nhẫn dưới lớp bùn tuyết tanh hôi.
Sau khi tàn sát cô gái, Trần Văn Sửu lập tức cho san phẳng hố đất. Chúng khiêng xác hai mươi nạn nhân vùi lấp sơ sài ở khoảng đất trống phía ngoài, tạo thành hai mươi nấm mồ hoang để ngụy tạo thành một vụ chết cóng tập thể do thiên tai biên giới.
Mỹ Trang quỵ hẳn xuống tuyết, toàn thân co giật từng chặp. Con bé nôn thốc nôn tháo ra bãi tuyết trước mặt. Nước mắt cùng máu ứ từ khóe môi chảy ròng ròng xuống cằm:
- Ông nội... Ông nội tôi... là súc sinh... Cả cái bản này sống dựa vào thịt người... Dựa vào máu của chị ấy...
Tiếng khóc của Mỹ Trang xé toạc không gian huyễn cảnh. Cơn ác mộng bấy lâu nay dày vò con bé, việc cô gái không đầu gõ cửa đòi áo ấm, những tiếng rên rỉ dưới sàn nhà, tất cả đều bắt nguồn từ vũng máu tanh nhơ nhuốc mà ông nội con bé đã tạo ra để duy trì sự sống cho bản làng.
Huyễn cảnh bắt đầu tan biến, cuốn trôi lớp sương máu trở về với thực tại bãi tha ma.
Gió lạnh quất rát mặt. Tôi mở bừng mắt, lồng ngực đau nhói do luồng tà khí va đập vào hộ thân chân khí.
Trước mặt tôi, quỷ chúa Lý Thị Hoài vẫn đứng sừng sững giữa trời tuyết. Mái tóc đen dài bết máu của cô bay phần phật trong gió bấc. Đôi mắt rỉ máu nhìn chòng chọc vào Mỹ Trang đang nằm co ro dưới đất, tiếng khóc nghẹn ngào từ cuống họng cô cất lên:
- Thấy rõ chưa, đứa con gái họ Lý? Mày được lão già Sửu nuôi lớn bằng chính cái nghề bốc mộ, dọn dẹp xương tàn cho những kẻ chết oan... Lão bắt mày làm thế để chuộc tội, để mong linh hồn tao không tìm đến bẻ cổ cả dòng họ nhà lão! Nhưng lão tính sai rồi... Nợ máu phải trả bằng máu!
Tôi thở hắt ra một hơi dài, tay phải cầm chắc chiếc chùy Phurba bằng sắt thiên thạch, giọng trầm tĩnh vang lên giữa bãi tha ma:
- Oan có đầu, nợ có chủ. Trần Văn Sửu gây ra nghiệp sát tày trời, ắt phải chịu quả báo nơi ngục A Tỳ. Nhưng Mỹ Trang hoàn toàn vô can trong chuyện năm xưa. Khi đó con bé thậm chí còn chưa thành hình trong bụng mẹ. Lý thí chủ, oán thù chất chồng chỉ làm luân hồi thêm thống khổ, sao không buông bỏ đao trượng để tìm đường siêu sinh?
- Siêu sinh? - Quỷ chúa bật cười the thé, tiếng cười chói tai như kim khí cọ xát vào nhau. - Thầy chùa! Ông ngồi trên đàn tế cao sang, tụng kinh gõ mõ, ông làm sao hiểu được nỗi đau của người bị phanh thây xẻ thịt? Ông bảo tôi buông bỏ? Vậy ông nhìn xuống dưới chân ông xem! Nhìn cho kỹ xem đàn tế của ông đang đặt trên cái gì!
Lời nói của Lý Thị Hoài giáng một đòn chí mạng vào tâm thức tôi.
Một luồng tử khí buốt giá đột ngột xông thẳng từ lòng đất dưới chân tôi lên, phá tan lớp tro than và bột bồ đề bảo hộ.
Tôi giật mình cúi đầu nhìn xuống.
Ngôi mộ đá lớn có tấm bài vị bằng đá granit đen khắc tên Lý Thị Hoài nằm cách đàn tế mười bước chân vốn chỉ là một ngôi mộ giả. Đó là nơi Trần Văn Sửu dựng lên để che mắt thiên hạ, đồng thời dùng phong thủy đá đen để trấn áp vong hồn cô gái không cho thoát ra ngoài quấy phá bản làng.
Sự thật kinh hoàng nằm ngay dưới chân bệ thờ bằng gỗ mộc nơi tôi đang lập đàn Chöd.
Nền đất đá dưới bệ thờ bỗng nhiên rạn nứt ra từng mảng lớn. Nước đen tanh tưởi trào lên từ kẽ nứt, mang theo hơi thở thối rữa nồng nặc. Lớp đất đá bên dưới sụp xuống một khoảng sâu hơn ba thước, để lộ ra những khúc xương mục gãy vụn bị rễ cây rừng già đâm xuyên qua.
Đó là một bộ hài cốt không toàn vẹn.
Hộp sọ vỡ một mảng lớn bên thái dương do vết rìu chém năm xưa. Xương lồng ngực gãy vụn, khoang bụng hoàn toàn trống rỗng không có lấy một mẩu xương sườn nguyên vẹn. Đặc biệt, nằm co quắp ngay giữa khung chậu mục nát là những mẩu xương hài nhi bé xíu bằng đốt ngón tay, đen đúa và quấn chặt lấy những mảnh vải liệm rách nát thấm đẫm huyết nham.
Xác thực của Lý Thị Hoài chưa từng được đưa vào bãi tha ma. Cô bị vùi dập ngay tại nền móng của ngôi miếu hoang ven rừng, nơi dân làng từng lập đàn cúng tế tà thần để cầu xin sự che chở sau vụ thảm sát.
Suốt ba mươi năm qua, dân làng Bản Lường đi qua ngôi miếu này đều giẫm đạp lên thân xác cô. Họ thắp nhang cầu bình an ngay trên nấm mồ oan khiên của người mẹ và đứa con chưa chào đời mà chính tay họ đã xẻ thịt moi ruột.
Chỉ còn tiếng gió rít qua những tán thông già như tiếng khóc ai oán của hai mươi cô hồn vất vưởng.
Tôi sững sờ buông lỏng một ngón tay trên cán chùy Phurba. Cảm giác chấn động tột cùng đánh thẳng vào đạo tâm của tôi. Suốt bao ngày qua, tôi dày công ba trí trận pháp Kim Cương, cắm chùy bốn phương tám hướng để phong ấn bãi tha ma, lập đàn tế Chöd Thí thân pháp ngay tại bệ thờ này để làm mồi nhử lũ quỷ dữ.
Nhưng tôi không hề hay biết rằng mình đã đặt đàn tế đè thẳng lên nơi giam cầm oan hồn uất ức nhất. Hành động lập đàn của tôi, vô tình đã trở thành một tầng phong ấn thứ hai, giam hãm mẹ con cô gái dưới đáy huyệt lạnh lẽo thêm một lần nữa.
Mỹ Trang bò lết đến bên miệng hố vừa sụp đổ. Con bé nhìn thấy bộ xương nhỏ bé của hài nhi nằm lẫn trong bùn tuyết đen ngập ngụa, đôi bàn tay trầy trụa run rẩy vươn ra nhưng không dám chạm vào.
- Em bé... Trời ơi... Đứa nhỏ chết oan chết ức thế này... - Mỹ Trang gục mặt xuống bùn tuyết, tiếng khóc nghẹn lại trong cổ họng, biến thành những tiếng nấc tuyệt vọng. - Tội lỗi này... làm sao trả hết đây...
Lý Thị Hoài lơ lửng bước tới gần miệng hố. Oán khí quanh người cô bốc lên ngùn ngụt, biến thành những dải khói đen cuồn cuộn như những cánh tay quỷ vươn dài ra bốn phía. Gương mặt trắng bệch của cô gái trẻ méo mó trong cơn giận dữ tột cùng:
- Thầy chùa! Giờ thì ông đã thấy rõ bộ mặt thật của những kẻ sống ở Bản Lường chưa? Bọn chúng là ác quỷ đội lốt người! Chúng giết người cướp báng, ăn thịt đồng loại, chôn sống mẹ con tôi rồi dựng miếu thờ đạo đức giả để cầu xin ấm no!
Cô gái chỉ tay về phía bìa rừng, nơi ánh đuốc lập lòe của đám dân làng Bản Lường đang tiến lại gần bãi tha ma:
- Ông muốn dùng pháp thuật của Phật môn để tiêu diệt tôi sao? Để bảo vệ cho lũ súc sinh đang cầm đuốc ngoài kia sao? Trả lời tôi đi, Thubten Lobsang Lodrö! Đạo pháp của ông cứu kẻ ác, hay cứu kẻ chết oan?
Câu hỏi của con quỷ chúa vang vọng khắp núi rừng tuyết phủ, dội thẳng vào lương tri và bản ngã của người tu hành.
Tôi siết chặt con dao Kartika trong tay trái, lưỡi thép hình trăng khuyết phản chiếu ánh đuốc bập bùng từ phía xa xa. Đứng giữa ranh giới của thù hận truyền kiếp và công lý bị chôn vùi dưới đáy mồ, chiếc chùy Phurba trong tay phải tôi bỗng nặng tựa ngàn cân.