Huyệt Mộ Trăm Chân - Chương 1: Lời Nguyền Đồi Gò Yên Sở
Gió từ phía bãi sông Đáy thổi thốc lên triền gò Yên Sở, khô khốc và tanh nồng mùi rơm rạ mục. Đêm rằm tháng Bảy năm Nhâm Ngọ 1942, vầng trăng treo lơ…
Nội dung chương
Gió từ phía bãi sông Đáy thổi thốc lên triền gò Yên Sở, khô khốc và tanh nồng mùi rơm rạ mục. Đêm rằm tháng Bảy năm Nhâm Ngọ 1942, vầng trăng treo lơ lửng giữa tầng mây mỏng tanh như tờ giấy bản tẩm dầu, rọi xuống vùng đồi gò nhấp nhô của phủ Hoài Đức một thứ ánh sáng xanh xao đến rợn người. Dưới chân đồi, những xóm làng im lìm trong bóng tối. Nạn đói đang gặm nhấm từng túp lều gianh. Người chết đói nằm rải rác ngoài vệ đường cái quan từ mạn Ba La xuống mạn Chúc Sơn, ruồi bọ bu đầy những hốc mắt trũng sâu.
Cái đói khiến người ta quên mất nỗi sợ ma quỷ. Với một thằng thợ mộc mất nghiệp như tôi, mạng sống cũng chẳng đắt hơn một tấm ván mùn.
Tôi siết chặt quai chiếc bao tải đựng bộ đồ nghề đục bén và cây xà beng thép nguội, hạ thấp trọng tâm, nép mình vào bụi găng gai rậm rạp. Năm người phía sau tôi cắm cúi bước đi, tiếng thở dốc nặng nhọc hòa lẫn trong tiếng cỏ may cọ xát sột soạt vào ống quần vải thô.
Nhóm sáu người chúng tôi đã chọn đúng giờ Tý, lúc người làng Yên Sở đóng chặt cửa cài then để cúng cháo thí cho các cô hồn dã quỷ ngoài ngã ba, ngã bảy.
- Anh Lựu... dừng lại nghỉ một tợp nước đã. Chân tôi run quá rồi.
Tiếng thằng Bằng, đứa em họ con ông chú ruột tôi, vang lên khẽ khàng sau lưng. Thằng bé năm nay hăm tám tuổi, vốn là thợ đào giếng khỏe nhất nhì tổng Đắc Sở, vậy mà sau hai tháng nhai củ chuối trừ bữa, hai bắp chân nó tóp teo lại thành hai ống sậy khô. Nó vác chiếc xẻng sắt bản rộng trên vai, mắt dại đi vì thiếu ăn.
Tôi quay đầu, trừng mắt nhìn nó, giọng gằn xuống:
- Muốn sống thì ngậm mồm lại mà bước. Mày muốn lính đoan trên đồn Chùa Thầy đánh hơi thấy mùi đuốc hay muốn người làng vác gậy gộc đuổi lên đây? Lên đến đỉnh gò hẵng thở.
Bên cạnh Bằng, Lê Thị Hằng lặng lẽ đặt đôi quang gánh xuống nền đất sỏi. Con bé hai mươi tư tuổi, người làng bên, cha mẹ chết rũ xương trong nạn đói năm ngoái. Đôi vai gầy guộc của nó gánh hai chiếc vò sành chứa dầu hỏa, giấm thanh và bó đuốc tẩm nhựa trám. Hằng không than thở một lời, chỉ đưa mu bàn tay khẳng khiu quệt mồ hôi đang rịn ra đầy trán, mắt chăm chú nhìn quanh từng lùm cây rậm rạp. Nó có sự lầm lì của kẻ biết rõ nếu quay về làng thì chỉ có con đường chết đói.
Trương Văn Hổ, gã đàn ông bốn mươi lăm tuổi mang khuôn mặt vuông vức chằng chịt vết sẹo gươm chém, bước vượt lên trước mặt tôi. Gã từng là cai ngục ở nhà tù Hỏa Lò, can tội đánh chết một tên quản ngục người Pháp rồi vượt ngục trốn về ẩn dật ở vùng núi Ba Vì, dạt về Hoài Đức nhập hội với tôi. Bàn tay Hổ to bè như cái quạt nan, nắm chặt cán chiếc búa tạ mười hai cân nhẹ tênh như cầm một que củi.
Hổ đảo mắt nhìn quanh một lượt, hất hàm hỏi tôi:
- Lựu, mày chắc đúng là cái gò này không? Tao thấy chung quanh toàn mả đất của dân phu chết dịch, đào trúng mấy cái xác thối thì tổ mất công.
- Đúng chỗ này. - Tôi đáp dứt khoát, tay vỗ nhẹ vào chiếc thước tầm vắt ngang hông - Các cụ đời trước truyền lại, đại quan triều Lê Nguyễn Sư tạ thế năm Quý Dậu niên hiệu Gia Thái, huyệt mộ táng ở gò Kim Quy đất Yên Sở, lấy núi Thầy làm tiền án, lấy sông Đáy làm hậu chẩm. Mười năm trước tôi từng theo ông cụ tôi lên đây dựng ngôi nhà tiền tế cho họ Nguyễn, hướng đất này tôi thuộc như lòng bàn tay. Đám gò khác đất xốp pha cát, riêng dải đất này đất sét pha sỏi gan gà nện chặt, bên dưới chắc chắn có quách vôi mật.
- Lăng mộ quan lớn thời xưa toàn chôn theo vàng nén ngọc hạt. - Trần Văn Tứ, gã lính canh tuần ba mươi hai tuổi lăm lăm cây gậy tre vót nhọn, liếm mép khô nứt nẻ - Chỉ cần cạy được một góc áo quan lấy dăm lạng vàng lá, cả bọn mình đủ gạo ăn đến mùa lúa sau.
Người cuối cùng trong nhóm là thầy bói Hoàng Văn Điền. Lão đã ngoài năm mươi lăm tuổi, lưng còng, chòm râu dê lơ thơ bạc trắng dính đầy bụi đường. Lão Điền không vác đồ nặng, trên tay chỉ bưng một chiếc khay gỗ tròn chứa bộ mai rùa nứt nẻ và ba đồng tiền đồng Cảnh Hưng xỉn xanh. Từ lúc rời chân đồi, hai môi lão liên tục mấp máy tụng niệm những câu kinh kỳ dị của đám thầy cúng miệt rừng.
Chúng tôi leo lên đến đỉnh gò, nơi có một cây si cằn cỗi mọc trơ trọi giữa đám cỏ gai. Rễ cây si ăn sâu vào lòng đất, quấn chặt lấy những phiến đá ong xám xịt nhô lên khỏi mặt gò. Đứng ở vị trí này có thể nhìn bao quát toàn bộ con đường mòn dẫn từ làng ra bãi tha ma.
Tôi ra hiệu cho cả nhóm dừng lại sau một bờ đất thoai thoải.
- Tứ, mày cầm gậy với cái mõ tre xuống phục ở bụi dứa dại cách đây năm mươi bước. Thấy bóng người làng hay ánh đèn tuần tiễu của lính Pháp từ phía đê xông lại thì gõ ba tiếng cắc, nghe rõ chưa?
Tứ gật đầu cái rụp, xách gậy lủi nhanh vào màn đêm đen đặc như một con chồn.
Tôi quay sang bảo Hằng:
- Đặt gánh xuống, lấy vải đen bọc kín ba phía của chiếc đèn bão, chỉ chừa lại một khe nhỏ để soi mặt đất. Đêm nay trăng sáng nhưng sương mù bắt đầu xuống dày, không được để lọt một tia lửa thừa nào ra ngoài.
Hằng nhanh nhẹn làm theo lời tôi dặn. Chiếc đèn bão thắp bằng dầu hỏa được hạ bấc xuống mức thấp nhất, ánh sáng vàng vọt tù mù chỉ đủ rọi sáng một khoảng đất rộng bằng cái nong chung quanh chân sáu người chúng tôi.
Tôi quỳ một chân xuống nền đất lạnh, rút con dao bài sắc lẻm cắm phập xuống lớp cỏ gai, rạch một đường dài rồi dùng tay bốc một nắm đất đưa lên sát mũi ngửi. Mùi đất đồi Yên Sở vốn có vị chua của sỏi gan gà và mùi ngai ngái của rễ cỏ cháy nắng. Nhưng bên dưới cái ngai ngái đó, mũi tôi bắt được một luồng hơi lành lạnh phảng phất vị ngòn ngọt, thoang thoảng giống mùi mật mía để lâu ngày bị lên men chua.
Là mùi của hợp chất phong mộ. Thợ mộc chúng tôi dựng nhà, làm hòm đều biết các quan lớn ngày xưa khi nằm xuống thường dùng vôi cặn trộn với mật mía già, nước dây tơ hồng và than củi giã mịn để trát quách. Thứ hợp chất ấy trải qua ba bốn trăm năm ngậm nước dưới lòng đất sẽ cứng hơn cả đá tảng, ngăn không cho mối mọt xâm nhập.
- Đúng huyệt rồi. - Tôi thì thầm, lồng ngực đập dồn dập vì phấn kích xen lẫn căng thẳng - Huyệt mộ nằm chếch về phía đông nam của gốc si, sâu chừng bốn thước đất.
- Khoan đã anh Lựu! Đừng vội động cuốc!
Tiếng thầy Điền run rẩy vang lên cắt ngang lời tôi. Lão quỳ sụp xuống đất, hai tay run bắn nâng chiếc mai rùa lên ngang trán, miệng lẩm bẩm khấn vái rồi dốc mạnh. Ba đồng tiền đồng Cảnh Hưng rơi lách cách xuống lòng khay gỗ.
Dưới ánh đèn bão leo lét, ba đồng tiền nằm chồng chéo lên nhau theo một góc độ kỳ dị. Hai đồng tiền mặt chữ lật ngửa, nhưng đồng tiền thứ ba lại cắm thẳng đứng mép vào một khe nứt trên mặt khay, tựa một lưỡi dao cắm vào da thịt.
Sắc mặt lão Điền trắng bệch ra như người chết trôi. Đôi môi thâm sì giật giật liên hồi, lão chộp lấy cổ tay tôi, móng tay cào rách một vệt da:
- Quẻ Huyết sát tuyệt mạng! Quẻ hung hiểm nhất trong đời tôi từng bốc được! Anh Lựu ơi, quay về đi! Lăng mộ này không có của cải gì đâu, bên dưới toàn là oán khí ròng rã mấy trăm năm! Động vào mả đại quan đêm nay, cả sáu đứa mình không ai nhìn thấy mặt trời ngày mai đâu!
Thằng Bằng nghe thấy hai chữ "tuyệt mạng" thì mặt cắt không còn hột máu, hai đầu gối nó run lên cầm cập, chiếc xẻng sắt tuột khỏi tay rơi đánh cạch xuống sỏi.
- Anh Lựu... hay là... hay là thôi đi anh? Người ta bảo mộ quan lớn thời Lê đều có chôn trinh nữ làm thần giữ của, lại có bùa ếm trùng tang... Đói thì nhịn vài bữa chứ chết mất xác thì oan uổng lắm...
Trương Văn Hổ nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống đống tiền đồng của lão Điền, mắt gã lóe lên tia nhìn dữ tợn. Gã bước tới nắm lấy cổ áo thầy Điền, nhấc bổng nửa người lão già lên khỏi mặt đất:
- Lão già lẩm cẩm! Mày muốn ăn gậy hay muốn câm họng lại? Cả tháng nay cả cái làng Yên Sở này chết đói cả trăm mạng, có thấy thần phật nào hiện ra phát cho bát cháo không? Dưới đất có ma thì trên mặt đất tao cũng là quỷ! Mày dám lải nhải làm nhụt chí anh em, tao bẻ gãy cổ mày vứt xuống giếng hoang bây giờ!
- Bỏ lão xuống, Hổ. - Tôi đứng phắt dậy, gạt tay gã cai ngục ra.
Tôi nhìn xoáy vào đôi mắt đùng đục vì kinh hãi của thầy Điền, giọng lạnh như băng:
- Thầy Điền, thầy nhìn xuống chân đồi mà xem. Xóm Trại hôm qua vừa khiêng bốn cái thây chết đói ra bãi rác tha ma, lũ quạ mổ nát cả mặt mũi không ai chôn. Đứa cháu gái thầy ba ngày nay không có một hột cháo loãng vào bụng, đang nằm thoi thóp ở góc nhà kia kìa. Thầy bảo quay về, thì lấy cái gì nhét vào mồm nó ngày mai? Thầy muốn chết vì đói rũ xương trong xó bếp hay muốn liều một phen lấy vàng mang về cứu cháu?
Lão Điền run rẩy, bàn tay gầy trơ xương buông thõng xuống đất, không thốt thêm được tiếng nào. Lão biết tôi nói thật. Cơn đói năm Nhâm Ngọ này tàn bạo hơn bất kỳ con ma nào dưới mồ sâu.
Tôi quay sang Bằng, đá vào cán xẻng:
- Nhặt xẻng lên! Đàn ông con trai hai mươi tám tuổi đầu mà hèn như một con chó rách. Đào bới là nghề kiếm cơm của mày, mày không xúc đất thì để thằng Hổ nó bửa đầu mày ra.
Bằng run rẩy nhặt cây xẻng sắt lên, nuốt nước bọt ừng ực. Thằng bé sợ cái chết đói hơn, và nó cũng sợ ánh mắt của tôi cùng cây búa tạ của Trương Văn Hổ.
Tôi lấy cây thước tầm bằng gỗ lim đã mòn vẹt các cạnh, bước chân đo từng sải đất từ gốc cây si già hướng thẳng về phía gò đất khum khum như mu rùa. Cứ mỗi năm bước chân, tôi lại cắm một chiếc cọc tre nhỏ xuống nền đất. Đây là ngón nghề mà cha tôi truyền lại: người xưa xây lăng mộ đá hay quách vôi đều theo thế "tụ thủy tàng phong". Miệng hầm mộ không bao giờ đặt ngay đỉnh đồi để tránh sét đánh, cũng không bao giờ đặt sát chân đồi vì sợ ngập nước. Cửa lăng luôn nằm ở điểm giao giữa phần đất dốc và phần đất phẳng, nơi tụ khí của mạch đất gò.
Điểm tôi dừng lại là một khoảng đất trũng xuống chừng nửa gang tay, cỏ găng ở đây mọc thưa thớt khác thường, lá cỏ ngả sang màu vàng vọt ủ rũ dù đang giữa mùa mưa ngâu.
- Chỗ này. - Tôi rút chiếc xà beng thép nguội dài sáu thước khỏi bao tải, cắm ngập mũi nhọn xuống đất - Đào một hố vuông mỗi chiều sáu thước, bóc lớp đất mặt dày hai thước ném sang hai bên sườn gò. Hổ với Bằng đào lượt đầu, tôi với con Hằng xúc đất hất ra xa. Cấm ai được dùng cuốc nện thẳng đứng, phải dùng mũi xẻng xắn nghiêng bốn mươi lăm độ để tránh va phải đá chôn lấp làm mẻ lưỡi.
Trương Văn Hổ nhổ nước bọt vào hai lòng bàn tay vạm vỡ, xoa xoa cho bớt trơn rồi giơ chiếc xà beng lên cao. Đôi bắp tay nổi cuồn cuộn những đường gân xanh như rễ cây si. Thằng Bằng cũng lập cập ghì chặt lưỡi xẻng vào mép bờ đất mà tôi vừa vạch dấu.
Đêm rằm tháng Bảy yên ắng đến ngột ngạt. Tiếng ếch nhái râm ran ngoài đồng ruộng dường như tắt ngấm tự bao giờ, chỉ còn tiếng gió luồn qua các kẽ đá ong phát ra âm thanh vo ve u u u như tiếng ai oán khóc hờ nơi đáy vực.
Hằng ngồi xổm bên mép hố, tay giữ chặt chiếc đèn bão bọc vải đen, ánh sáng rọi thẳng vào khoảnh đất hình vuông sẫm màu. Đôi mắt con bé mở to, phản chiếu ngọn lửa nhỏ bên trong lồng kính.
- Bổ xuống! - Tôi hạ lệnh.
Trương Văn Hổ gầm lên một tiếng trầm đục trong lồng ngực, chiếc xà beng bằng thép nguội nặng trịch bổ thẳng xuống tâm vòng tròn đất. Thằng Bằng cắn chặt môi, dùng hết sức bình sinh dẫm mạnh chân trần lên vai xẻng, ấn sâu lưỡi sắt xuống lớp đất sét vàng.
"Phập!"
Tiếng kim loại cắm vào lòng đất không vang lên giòn giã như khi đào đất đồi thông thường. Thay vào đó là một âm thanh ươn ướt, nhão nhoẹt, tựa như lưỡi xẻng vừa đâm xuyên qua một tảng mỡ thối hay một khối thịt sống bị trương sình lâu ngày dưới nước.
Lưỡi xẻng của thằng Bằng lún ngập cán sắt một cách dễ dàng bất thường. Thằng bé mất đà, ngã chúi người về phía trước, hai bàn tay đập mạnh xuống nền đất.
- Ối mẹ ơi! - Bằng thét lên một tiếng kinh hãi, vội vàng rụt tay lại như vừa chạm phải than hồng.
- Im mồm! - Tôi lao tới, túm chặt gáy áo kéo giật nó lùi lại - Có chuyện gì?
Bằng giơ hai bàn tay run rẩy lên trước ngọn đèn bão. Lòng bàn tay nó không dính đất sét vàng hay sỏi đá xám, mà phủ kín một lớp chất lỏng đen ngòm, sền sệt và bóng nhẫy như mỡ trăn.
Cùng lúc đó, nơi nhát xà beng của Trương Văn Hổ vừa cắm xuống, mặt đất bỗng nứt toác ra một rãnh dài chừng hai gang tay. Từ vết nứt ấy, một dòng nước màu đen kịt từ từ trào ngược lên bề mặt. Nó đặc quánh, sủi những bọt khí li ti màu tím nhạt. Một mùi hôi nồng nặc lập tức xộc thẳng vào mũi sáu người chúng tôi. Đó là thứ mùi đường thiu mật rữa bị giam hãm hàng trăm năm dưới đáy mồ sâu, hòa lẫn với mùi tanh tưởi của xác động vật chết thối rữa trong chum kín.
Hằng nôn thốc nôn tháo ra bờ cỏ, hai tay ôm chặt lấy lồng ngực gầy guộc. Lão Điền sợ hãi bò giật lùi ra xa, miệng không ngừng lảm nhảm:
- Máu đất... máu của huyệt mộ chảy ra rồi... Quẻ Huyết sát... chạy thôi các người ơi!
Trương Văn Hổ vẫn đứng sừng sững ở mép hố, nhưng bàn tay gã nắm cán xà beng bắt đầu run rẩy. Gã nhìn trừng trừng xuống rãnh đất đen, cơ mặt co giật liên hồi:
- Lựu... mày nhìn xem cái gì thế này? Đất... đất đồi mà lại chảy mủ ra thế này à?
Tôi không trả lời gã. Tôi quỳ sụp xuống bên mép rãnh nứt, phớt lờ mùi xú uế đang hun cay xè hai mắt, đưa tay nắm chặt lấy thân cây xà beng bằng thép nguội vẫn đang cắm sâu dưới lòng hố.
Ngay khi ngón tay tôi vừa siết chặt vào thanh kim loại lạnh buốt, một luồng chấn động kỳ dị truyền thẳng từ dưới đáy sâu lên cán sắt, dội mạnh vào lòng bàn tay tôi.
Rung động ấy không phải là đất lở, cũng không phải là tiếng rỗng của hang động ngầm. Nó chuyển động nhịp nhàng, chậm rãi và đều đặn theo từng nhịp co bóp phập phồng. Một nhịp... rồi hai nhịp...
Lòng đất bên dưới chân chúng tôi không hề bất động. Nó đang co thắt từng đợt chậm chạp, tựa như một lồng ngực khổng lồ của một sinh vật quái dị đang dần tỉnh giấc sau giấc ngủ dài hàng trăm năm.