Huyệt Mộ Trăm Chân - Chương 2: Bức Tường Mật Mía Vôi Vữa

Tôi giật phắt cây xà beng khỏi khe nứt trên mặt đất, lùi lại nửa bước để ghì chặt gót chân xuống bờ hố. Luồng xung động kỳ quái dưới lòng đất dứt hẳn khi…

Nội dung chương

Tôi giật phắt cây xà beng khỏi khe nứt trên mặt đất, lùi lại nửa bước để ghì chặt gót chân xuống bờ hố. Luồng xung động kỳ quái dưới lòng đất dứt hẳn khi mũi thép rời khỏi khe bùn, nhưng cảm giác ran rát tê rần ở mười đầu ngón tay vẫn chưa tan. Chất dịch đen đặc sủi tăm lúc này bắt đầu rút ngược xuống bên dưới, để lại một vệt nứt há hoác bốc khói mỏng.

- Ngậm miệng lại hết cho tôi! - Tôi gằn giọng, quắc mắt nhìn về phía lão Điền đang quỳ lạy như tế sao bên gờ cỏ - Lão Điền, mở mồm gieo quẻ xui một câu nữa là tôi nhét đất vào mồm lão. Đây là mộ của quan lớn thời Lê, có rãnh thoát nước ngầm hay mạch nước chua mục ruỗng thì sủi bọt có gì lạ?

Lão thầy bói run lẩy bẩy, hai hàm răng va vào nhau lập cập. Lão ôm khư khư cái đãy vải đựng mấy đồng tiền trinh mòn vẹt vào ngực, lấm lét nhìn dòng nước đen vừa rút cạn:

- Cậu Lựu... đất phát sinh khí đen, lại có mùi đường cháy... đó là điềm đoạn tuyệt hậu tự...

- Đoạn cái mả ba nhà lão! - Trương Văn Hổ gầm gừ, vung cánh tay hộ pháp tóm lấy cổ áo lão Điền lôi dậy - Đói rách đến tận mang tai, có miếng vàng lận lưng thì sống, không có thì tháng sau thành ma chết đói ven chợ. Lão khóc lóc nữa tao đạp trôi xuống hố bây giờ!

Bằng vẫn ngồi thụp dưới đất, hai bàn tay run rẩy chùi lấy chùi để chất nhờn bóng nhẫy vào ống quần vải nâu thô rách tã. Mặt thằng bé trắng bệch, đôi mắt lồi ra vì sợ hãi. Hằng đứng bên cạnh nó, vội vã tháo cái khăn rằn trên cổ xuống, thấm nước từ chiếc hũ sành mang theo rồi đưa cho Bằng lau tay. Mùi khét ngọt vẫn lởn vởn trong không khí ban đêm, bám chặt vào cổ họng từng người, vừa ngọt lợ vừa lờ lợ như xác mía dầm nước cống lâu ngày.

- Tứ, xách đèn lại gần đây! - Tôi ngoắc tay ra lệnh cho Trần Văn Tứ.

Gã lính canh đêm lập cập nhấc chiếc đèn bão đã kéo then chắn gió. Ngọn lửa màu vàng vọt bên trong chụp kính tỏa ra một quầng sáng tù mù, rọi rõ miệng hố đào nham nhở. Đất sét vàng ở tầng trên đã bị bóc sạch, để lộ ra một khoảng vòm cong phẳng lì nằm sâu dưới lớp bùn non.

Tôi cầm lấy chiếc xẻng nhỏ của thợ mộc, cúi rạp người gạt từng mảng bùn đen nhão nhoét sang hai bên sườn huyệt. Mũi xẻng cạo qua một bề mặt cứng đanh, phát ra âm thanh ken két đanh gọn.

- Không lầm được - Tôi lẩm bẩm, ngón tay miết mạnh lên bề mặt màu xám đục vừa lộ ra - Đây là quách vòm. Đáy mộ nằm ngay dưới lớp vỏ này.

Hổ bước xuống hố, đôi chân to bè dẫm bẹp những tảng đất sét vụn. Gã cúi người nhìn chăm chú vào cái vòm màu xám tro nhẵn thín không hề có một vết nứt tự nhiên nào. Bề mặt ấy phẳng phiu kỳ lạ, nhẵn bóng hệt như một mai rùa khổng lồ bị vùi sâu dưới ba thước đất đồi.

- Trông như đá tảng - Hổ gõ khớp ngón tay thô ráp lên vòm mộ, tiếng vang trầm đục như tiếng gõ vào một khối gỗ lim nguyên súc - Cứng thế này thì đào thế nào được?

- Đá đâu mà đá - Tôi chùi bàn tay dính đất vào vạt áo, giơ cao ngọn đèn bão để soi sát từng thớ vật liệu - Đây là hợp chất vôi mật của các cụ thời trước. Người ta dùng vôi sống tôi kỹ, trộn với mật mía đường phèn, thêm cát mịn đãi sạch và giấy bản giã nhuyễn với nước dây tơ hồng. Đúc liền một khối dầy hàng thước, ngâm hàng trăm năm dưới đất ẩm vẫn trơ trơ ra đấy. Nước mưa không lọt, rễ cây không đâm thủng. Thợ nề cả vùng xứ Đoài này chỉ truyền tai nhau công thức, tôi làm mộc ba mươi năm nay mới thấy tận mắt một lần.

- Vữa vôi mà cứng được thế này ư? - Bằng lồm cồm bò tới, giọng run run hỏi, mắt vẫn chưa hết vẻ kinh hoàng sau cú sụp ban nãy.

- Càng ngậm nước lâu nó càng đanh lại như gang thép - Tôi đáp dứt khoát - Nhưng có cứng đến mấy thì cũng là vôi với mật. Muốn vào trong lăng chỉ có một cách là bổ nát cái vòm quách này ra. Hổ, lấy choòng sắt lớn với cây búa tạ tám cân lại đây!

Trương Văn Hổ quay ngoắt người, trèo lên bờ hố kéo từ trong bao tải ba ra một cây choòng bằng sắt đặc dài bốn thước, một đầu vuốt nhọn hoắt như mũi đinh tây, cùng một cây búa tạ cán gỗ nghiến đen bóng vì mồ hôi tay. Gã thở hắt ra một hơi dài qua kẽ răng, bắp thịt trên bờ vai gồ ghề siết chặt lại.

- Bổ vào đâu? - Hổ hỏi cộc lốc, đôi mắt hung tợn đảo quanh vòm quách.

Tôi ngồi thụp xuống, rà bàn tay khắp bề mặt vòm cuốn. Dưới ánh sáng lờ mờ của chiếc đèn bão, tôi nhận ra phần đỉnh vòm hơi nhô cao hơn xung quanh chừng hai lóng tay. Đó là điểm giao nhau của các mạch đúc, nơi thợ ngày xưa trút mẻ vữa cuối cùng để niêm phong lăng táng.

- Đặt mũi choòng vào đây - Tôi cắm ngập đầu nhọn của cây choòng sắt xuống một điểm lõm hình lòng chảo - Tôi giữ choòng, anh nện búa. Đánh ba nhát dồn sức một lần, nhát thứ ba phải dằn búa xuống để truyền lực vào trong ruột vữa. Cấm bổ chệch sang hai bên, trượt mũi sắt vào chân là què cả lũ!

Lão Điền đứng trên miệng hố, hai tay níu chặt lấy cành cây găng dại, giọng van vỉ:

- Cậu Lựu ơi, kinh động đến chốn an nghỉ của tiền nhân là gánh nghiệp ba đời đấy cậu ơi... Vòm này là vòm khóa âm trạch, phá ra là tà khí bốc lên ngập đất...

- Câm cái mồm lão lại! - Tôi quát ngược lên bờ gò - Nghiệp hay không thì bụng vợ con tôi ở nhà đang lép kẹp vì nhịn ăn ba ngày nay rồi! Tứ, giữ chặt cái đèn bão cho tôi, đừng để gió thổi tắt ngọn bấc!

Tứ lập cập quỳ xuống cạnh tôi, hai tay ôm lấy thân đèn bằng đồng, ánh mắt dán chặt vào mũi choòng sắt. Hằng cũng men theo bờ vách đất tụt xuống đáy hố, con bé cầm một bó giẻ rách và hũ dầu lạc, chuẩn bị lau mũi choòng khi bị bám dính. Sự im lặng căng thẳng bao trùm lấy khoảnh đất hẹp dưới lòng sâu. Tiếng côn trùng ngoài đồi gò đã biến mất hoàn toàn, chung quanh chỉ còn tiếng thở phì phò nặng nhọc của Trương Văn Hổ và tiếng gió rít qua bụi tre đằng ngà phía xa.

Hổ bước một chân lên trước, giơ cao cây búa tạ quá đầu. Cả thân hình vạm vỡ của gã căng ra.

"Keng!"

Tiếng búa giáng thẳng vào đuôi choòng vang lên một âm thanh chát chúa, chấn động màng nhĩ. Tàn lửa đỏ rực bắn tung tóe ra xung quanh, rơi lác đác trên lớp đất bùn ẩm ướt. Một lực phản hồi cực mạnh truyền thẳng qua thân sắt, làm hai cánh tay tôi tê dại đi trong chớp mắt. Mũi choòng sắt chỉ cắm sâu vào lớp vữa được non nửa phân, để lại một vết trầy xước màu trắng đục như vệt móng tay cào trên đá.

- Tiếp tục! - Tôi nghiến răng hét lên, hai bàn tay siết chặt lấy thân sắt đang nóng ran lên vì ma sát - Nện mạnh tay vào! Đừng nương lực!

"Keng! Keng! Uỳnh!"

Hổ vung búa liên tiếp. Từng nhát búa giáng xuống như sấm sét nổ ngang tai. Mũi sắt nguội bắt đầu ăn sâu dần vào khối hợp chất cổ xưa. Nhưng điều kỳ lạ là lớp vữa này không hề vỡ vụn thành từng mảnh đá hay bụi vôi trắng xóa như những bức tường gạch thông thường. Càng khoét sâu vào trong, chất vôi mật lại càng trở nên dẻo quánh một cách dị thường.

Đến nhát búa thứ mười lăm, mũi choòng ngập sâu được gần một gang tay thì bất ngờ khựng lại. Một cảm giác quánh đặc truyền lên cán sắt, giống như mũi kim loại vừa cắm ngập vào một tảng cao dán khô dẻo đặc quánh.

- Kẹt rồi! - Hổ thở hồng hộc, buông thõng cây búa tạ xuống đất sét, ngực phập phồng dữ dội - Mẹ kiếp, cái thứ quỷ quái gì thế này? Đánh vào như đánh vào đệm bông, búa nảy ngược cả lại!

Tôi cúi sát mặt xuống lỗ đục, giật mạnh cây xà beng để lay mũi choòng. Cây sắt đặc bị kẹp chặt cứng bên trong, chất vữa mật mía dính chặt lấy kim loại như một thứ keo sống dán gỗ. Mùi đường thiu chua loét nồng nặc bốc lên từ lòng lỗ khoan, sộc thẳng vào hai cánh mũi làm tôi nấc lên một tiếng, lồng ngực quặn thắt lại vì buồn nôn.

- Đưa cho tôi bình dầu lạc! - Tôi giơ tay về phía Hằng.

Con bé run rẩy đưa bình dầu. Tôi dốc nửa bình dầu lạc xuống rãnh khoan để bôi trơn rồi dùng chân đạp mạnh vào đuôi choòng, xoay ngang xoay dọc để nới lỏng liên kết.

- Bằng, xuống đây phụ một tay bẩy lên! - Tôi quát thằng em họ.

Bằng vội vàng nhảy xuống đáy hố, hai anh em tôi cùng ghì chặt hai đầu thanh xà beng ngắn, lấy gờ vòm mộ làm điểm tựa để nạy mũi choòng ra. Dưới sức nặng của hai người đàn ông, lớp vữa mật phát ra những tiếng "rin rít" rin rít ghê rợn, tựa như tiếng da thịt bị bóc tách khỏi xương.

Bất thình lình, mũi choòng bật ngược lên kèm theo một mảng vữa lớn nứt toác. Cạnh sắc của thân sắt va mạnh vào lòng bàn tay tôi. Cơn đau nhói buốt ập đến, da lòng bàn tay tôi rách toạc một đường dài, máu đỏ tươi ứa ra chảy ròng ròng xuống cán kim loại.

- Anh Lựu! - Hằng hét lên khe khẽ, vội vàng chồm tới.

- Tránh ra, tôi chưa chết được! - Tôi quẹt vệt máu vào ống quần, mắt không hề rời khỏi mảng vữa vừa bị bẩy bật lên khỏi vòm quách.

Đó là một tảng hợp chất dày gần hai gang tay, mặt trên màu xám tro của vôi cát, nhưng mặt dưới nứt vỡ lại lộ ra một sắc đen thẫm kỳ dị. Dưới ánh sáng vàng bấc của chiếc đèn bão, tôi và Hổ đồng loạt chết sững khi nhìn vào phần lõi của mảng vữa.

Lõi của bức tường vòm kiên cố này không hề có một viên gạch vồ hay một hòn đá cuội nào gia cố.

Thứ nằm ken đặc bên trong khối vữa mật mía là vô số những sợi tơ màu xám đen, mảnh như sợi chỉ khâu nhưng dai chắc phi thường. Chúng đan cài chằng chịt vào nhau thành từng lớp dày đặc, bện chặt lấy lớp vôi cát tạo thành một tấm lưới chằng chịt. Nhưng kinh hoàng hơn cả, lẫn giữa những cuộn tơ đen quánh bốc mùi ngai ngái ấy là hàng trăm mẩu xương vụn nhỏ xíu.

Những đốt xương ngón tay quắt queo, những mẩu xương sườn cong vút chỉ bằng chiếc tăm, và cả những mảnh sọ nhỏ xíu của loài gặm nhấm hoặc chim muông bị vùi lấp bên trong. Tất cả đều bị thứ tơ xám đen kia quấn chặt nhiều vòng, đông cứng lại cùng với mật mía và vôi tôi hàng trăm năm trước.

- Xương... xương người hay xương thú thế này? - Tứ giơ chiếc đèn bão run rẩy, ánh lửa bập bùng chiếu lên những mẩu đốt ngón tay xám ngoét cắm sâu trong lõi vữa.

Tôi dùng đầu ngón tay không bị thương cạy thử một mẩu xương nhỏ bằng hạt ngô. Khúc xương đã khô giòn mục ruỗng, nhưng những sợi tơ xám bọc quanh nó thì vẫn còn độ đàn hồi kỳ quái, dính dính như tơ nhện độc giăng trong góc tối lâu ngày. Mùi thối ngọt lúc này đậm đặc hơn hẳn, không còn thoang thoảng nữa mà trở nên nhớp nháp, bám chặt vào từng thớ da thịt.

- Thợ nề không ai dùng tơ với xương để trộn vữa xây quách mộ cả - Tôi lẩm bẩm, một luồng khí lạnh buốt chạy dọc sống lưng - Vôi mật giấy bản là để chống thấm. Còn cái thứ này... cái thứ này giống như có cái gì đó đã làm tổ bên trong khối vữa từ lúc người ta xây cái lăng này.

- Hay là bùa ếm trộm mộ? - Trương Văn Hổ nhổ toẹt một bãi nước bọt lẫn đất cát xuống chân, giọng gã dù cố giữ vẻ hung hãn nhưng đã lộ rõ nét bồn chồn - Lũ quan lại phong kiến hay chôn người sống hoặc bùa ngải để giữ của...

- Không có bùa nào dùng tơ bện xương kiểu này cả - Lão Điền từ trên miệng hố thò đầu xuống, mặt lão xám như tro tàn, hai con mắt trắng dã nhìn chòng chọc vào mảng vữa vỡ - Các người có nghe thấy không? Dưới đó... dưới cái vòm đó có tiếng động...

Cả đáy hố lập tức nín thở.

Tôi đè chặt bàn tay đang chảy máu vào hông, ghé sát tai xuống khe nứt sâu hoắm vừa lộ ra sau khi mảng vữa bị bẩy đi.

Không gian xung quanh lặng ngắt như tờ. Nhưng sâu thẳm bên dưới lớp vỏ dày cộp bằng vôi mật và tơ đen, từ cõi mịt mùng không một tia sáng của căn hầm mộ thời Lê, vang lên những âm thanh ma quái.

Đó là tiếng lạo xạo... sột soạt... rất khẽ nhưng vô cùng dồn dập. Tiếng của hàng ngàn chiếc chân nhỏ bằng kim loại cào xước liên hồi lên mặt gạch lát sàn, hòa lẫn với tiếng nhớp nháp như có vô số sinh vật mềm nhũn đang trườn bò chồng chất lên nhau bên dưới đáy sâu.

- Cậu Lựu... - Bằng túm chặt lấy vạt áo tôi, giọng lạc hẳn đi - Em nghe như... như có cái gì đang cào cửa mộ...

- Nó ngửi thấy mùi máu - Hằng thì thào, ngón tay con bé chỉ thẳng vào lòng bàn tay tôi - Máu của anh Lựu rớt xuống khe nứt rồi...

Tôi cúi nhìn xuống. Vài giọt máu tươi từ vết rách trên tay tôi đã theo rãnh vữa nứt nẻ chảy tuột vào bên trong khoảng tối hun hút bên dưới. Nơi giọt máu rơi xuống, những sợi tơ xám đen ken đặc trong lõi vữa bỗng nhiên co giật nhè nhẹ, tựa như những đường gân máu của một sinh vật sống đang khẽ cựa mình khi nếm được mùi tanh của thịt sống.

Trương Văn Hổ siết chặt chuôi búa tạ, gân xanh trên trán gã hằn lên dữ tợn:

- Đã đục đến nước này thì không lùi được nữa! Máu cũng đổ rồi. Bổ vỡ cái vòm này ra xem bên trong có cái giống gì! Một là ôm vàng sống tiếp, hai là chết đói trên bờ gò!

- Đứng lùi ra hết! - Tôi nghiến răng gầm lên, giật lấy cây xà beng dài từ tay Bằng - Hổ, nhằm đúng cái khe nứt có tơ đen mà nện! Bổ một nhát dứt điểm cho nó sập hẳn mảng nắp này xuống!

Trương Văn Hổ hét lớn một tiếng, dồn toàn bộ sức nặng của thân hình hộ pháp vào hai cánh tay, vung cây búa tạ tám cân lên tận đỉnh đầu rồi giáng thẳng xuống mép khe nứt bằng một nhát búa long trời lở đất.

"Rắc! Uỳnh!"

Âm thanh gãy vỡ của hợp chất vôi mật vang lên khô khốc. Cả mảng vách vòm rộng chừng hai cánh tay sụp đổ xuống dưới, để lộ ra một khoảng trống đen ngòm thăm thẳm dẫn thẳng vào lòng đất tối tăm của ngôi cổ mộ.

Cùng lúc mảng vữa rơi xuống đáy sâu, một luồng gió lạnh buốt mang theo hơi thở tanh nồng và mùi thối ngọt lợ cổ họng từ dưới đáy huyệt tối om bất thần xộc thẳng ngược lên mặt sáu người chúng tôi. Ngọn lửa nhỏ nhoi bên trong chiếc đèn bão chao đảo dữ dội rồi lịm dần đi, biến thành một đốm sáng đỏ quạch lập lòe giữa bóng tối dày đặc của lòng đất.

Chương khác

Xem thêm