Huyệt Mộ Trăm Chân - Chương 5: Chiếc Kén Bùn Đen Khổng Lồ

Mùi thối ngọt đặc quánh táp thẳng vào mặt khi tôi bước qua mép cửa đá vòm cuốn. Đó là thứ mùi bốc ra từ xác động vật ngâm nước lâu ngày trộn lẫn với mật…

Nội dung chương

Mùi thối ngọt đặc quánh táp thẳng vào mặt khi tôi bước qua mép cửa đá vòm cuốn. Đó là thứ mùi bốc ra từ xác động vật ngâm nước lâu ngày trộn lẫn với mật mía lên men, vừa nồng nặc vừa lợ giọng, bám chặt lấy cuống họng khiến tôi phải nén một cơn buồn nôn ran rát nơi lồng ngực.

Tôi hạ thấp ngọn đèn bão, cẩn thận bước qua từng phiến đá xanh lót bậu cửa. Những sợi tơ đen nhờn nhợt rủ xuống từ đỉnh vòm quét qua trán tôi, lành lạnh và dính dấp. Tôi giơ tay gạt mạnh, cảm giác ngón tay chạm vào một thứ sợi bện rất dai, dày cộm, nhớp nháp bùn ướt chứ chẳng hề tơi xốp giống màng nhện bình thường. Trên đầu ngón tay còn sót lại một lớp mỡ xám đục, bốc mùi tanh tưởi đến lộn mửa.

- Chú ý dưới chân. - Tôi quay lại gằn giọng với năm người phía sau - Bậu đá đóng rêu trơn lắm. Đừng để trượt ngã.

Thằng Bằng lấm lét bám sát gót tôi, hai hàm răng va vào nhau lập cập từng chập. Bàn tay nó nắm chặt cán xẻng đào đất đến mức các khớp ngón trắng bệch, cả thân hình gầy trơ xương run rẩy theo từng nhịp thở dốc. Con Hằng đi ngay sau nó, hai tay túm chặt vạt áo nâu rách tươm của anh họ, đôi mắt mở to ngơ ngác nhìn quanh quất trong bóng tối. Sau lưng chúng nó, lão Điền vừa lần từng bước vừa lầm rầm niệm chú, tay run rẩy cầm chuỗi hạt bồ đề đã sứt mẻ mấy hạt. Trương Văn Hổ vác chiếc xà beng sắt nặng trịch đi sau cùng, đôi mắt ti hí đảo liên tục, hơi thở khò khè phát ra từ cánh mũi phập phồng đầy vẻ hung hãn lẫn cảnh giác.

- Lựu, mày thấy gì chưa? - Tiếng Hổ đè thấp sau lưng tôi - Đã vào đến chính tẩm chưa? Quan tài nằm ở đâu?

- Im mồm đi. - Tôi đáp cộc lốc, căng mắt nhìn vào khoảng tối mịt mùng phía trước.

Bên trong gian tẩm điện rộng hơn gian tiền đường gấp ba bốn lần. Trần vòm cuốn cao vút, được xếp bằng hàng ngàn viên gạch vồ nung già bóng loáng. Tuy nhiên, thay vì không khí khô ráo của một ngôi mộ cổ nguyên vẹn, nơi này ẩm ướt và lạnh ngắt. Từng giọt nước đen ngòm từ trên đỉnh vòm nhỏ tong tòng xuống nền đá, vang lên những tiếng "tõm... tõm..." chậm rãi, đều đặn giữa không gian câm bặt.

Lớp sương màu tím quánh đặc vẫn trườn là là dưới mặt sàn, dâng cao ngang bắp chân chúng tôi. Mỗi bước chân đạp xuống lớp bùn nhão bên dưới khiến sương tím cuộn lên từng đợt, tỏa ra thứ khí lạnh thấu xương ngấm thẳng qua da thịt.

Tôi nâng cao ngọn đèn bão, xoay một vòng quanh gian phòng. Ánh lửa vàng vọt yếu ớt cắt ngang màn đêm, rọi lên những khối hình thù mờ ảo xung quanh.

Vốn là thợ mộc lâu năm trong làng, tôi nắm rất rõ quy cách táng tục của các bậc quan lại thời trước. Một vị đại thần như Nguyễn Sư khi nằm xuống ắt phải có bệ đá thạch sàng chạm trổ rồng mây, có lư hương đỉnh đồng, hai bên tả hữu phải đặt các hòm gỗ sơn son chứa đầy đồ bồi táng bằng gốm sứ, ngọc ngà, lụa là và tiền đồng. Thậm chí nếu mộ táng cẩn thận, giữa gian tẩm điện phải sừng sững cỗ quan tài gỗ vàng tâm hoặc bách xanh dày bốn tấc, quét ba tầng sơn then lộng lẫy để giữ thi hài ngàn năm không nát.

Chúng tôi liều mạng chui xuống lòng đất đồi Yên Sở này giữa nạn đói năm bốn hai cũng chỉ vì những thứ vàng ngọc ấy. Một cỗ quan tài thời Lê đủ để đổi lấy cả trăm gánh thóc, đủ cứu sống cả dòng họ chúng tôi qua cơn khốn cùng này.

Thế nhưng, khi vệt sáng từ chiếc đèn bão quét qua chính giữa tẩm điện, hy vọng cháy bỏng trong lòng tôi bỗng chốc đông cứng lại.

Không có đỉnh đồng. Không có hòm gỗ gốm sứ. Cũng chẳng hề có cỗ quan tài gỗ bách xanh sơn son thiếp vàng nào cả.

Nằm chễm chệ ngay trên bệ đá cẩm thạch trung tâm gian mộ là một khối hình thù quái đản, khổng lồ, cao ngập đầu người lớn.

- Cái... cái giống gì thế kia? - Thằng Bằng thốt lên nghẹn ngào, bàn tay nó bấu chặt vào cánh tay tôi đau điếng.

Tôi nín thở, chầm chậm bước lại gần bệ đá thêm năm bước. Ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn bão dần soi rõ từng chi tiết của cái khối đen ngòm đang choán trọn gian phòng.

Đó là một chiếc kén khổng lồ.

Nó có hình bầu dục thuôn dài, chiều dài phải hơn một trượng, chiều cao gần hai thước, nằm ngang trên bệ đá như một quả trứng quỷ khổng lồ bị vứt bỏ dưới đáy mồ sâu. Toàn bộ bề mặt chiếc kén được đan bện chằng chịt bởi hàng ngàn, hàng vạn lớp tơ dày cộm xám xịt trộn lẫn với một thứ bùn đen quánh đặc, nhờn bóng. Những sợi tơ to bằng ngón tay út bện xoắn vào nhau, đan kết chặt chẽ như những sợi thừng gai, dính bết lại bằng một lớp chất nhầy nhớp nháp phản chiếu ánh đèn bão thành từng đốm sáng bóng nhờn ghê rợn.

Kinh hoàng hơn cả, găm chặt trên lớp vỏ kén bùn đen ấy là vô số những mảnh xác côn trùng khô đét. Hàng trăm cái vỏ đầu nhọn hoắt, hàng ngàn đoạn chân đốt có móc câu cong vút màu nâu đỏ cùng những tấm giáp lưng cứng ngắc của loài rết nằm xen lẫn trong từng thớ tơ bùn, giống như một lớp vảy bọc gớm ghiếc bao phủ lấy toàn bộ khối kiến trúc sống quái dị này.

Từ chân chiếc kén, hàng chục sợi tơ đen to bằng bắp tay vươn dài ra bốn phía, ghim chặt vào các khe nứt trên sàn gạch và vách tường đá xung quanh, trông tựa hồ như những xúc tu bám rễ sâu vào lòng đất.

- Trời đất ơi... - Tiếng lão Điền rên rỉ sau lưng, chuỗi tràng hạt trên tay lão rơi tuột xuống sàn bùn, vỡ tung tóe - Ngô Công kết kén... Lời nguyền trong sách cổ là có thật... Đây là nơi dưỡng tà của Ngô Công Tinh!

- Thầy Điền, thầy nói nhảm cái gì đấy? - Trương Văn Hổ bước sấn lên, đẩy mạnh lão Điền sang một bên. Gã trừng trừng nhìn vào khối kén bùn đen, hai mắt long sòng sọc - Rết với chả tà cái nỗi gì! Bùn với rơm rác người ta đắp lên để bảo quản thôi! Chúng mày mù hết cả rồi à? Dưới lớp bùn này chắc chắn là cỗ áo quan bằng đồng đen hoặc đá hoa cương! Người xưa giấu vàng bạc bên trong nên mới trát bùn bọc kín lại để chống trộm!

Nói đoạn, Hổ siết chặt chiếc xà beng sắt trong tay, sải bước dài tiến thẳng về phía bệ đá. Nạn đói làm gã mờ mắt, sự tham lam và bản tính liều lĩnh của một tên cai ngục trốn trại khiến gã không còn biết sợ hãi là gì.

- Hổ, đứng lại! - Tôi hét lên, vội vã vươn tay chộp lấy vai áo gã giật mạnh - Đừng có manh động! Mày nhìn kỹ lớp vỏ của nó xem! Cỗ quan tài nào lại đan bằng tơ với xác rết thế này?

Hổ hất mạnh tay tôi ra, mặt gã đỏ bừng, gân xanh nổi cuồn cuộn trên trán:

- Mày nhát gan thì đứng đấy mà nhìn! Tao trốn ngục ra đây không phải để ngửi mùi thối rồi chết đói ở góc xó này! Dưới lớp bùn này là vàng, là bạc, là sống sót! Tránh ra!

Gã nâng chiếc xà beng sắt lên cao, mũi nhọn sáng loáng chĩa thẳng vào phần giữa của chiếc kén bùn đen.

Con Hằng sợ hãi ré lên một tiếng, lùi lũi nép vào lòng thằng Bằng. Thằng Tứ đứng chôn chân ở góc cửa, tay cầm thanh gậy gỗ run lẩy bẩy, mắt dán chặt vào mũi xà beng của Hổ.

Chính lúc mũi xà beng của Trương Văn Hổ chỉ còn cách bề mặt chiếc kén chưa đầy một gang tay, một luồng gió lạnh buốt từ trần vòm thốc mạnh xuống. Ngọn lửa trong chiếc đèn bão trên tay tôi đột ngột chao đảo dữ dội, ánh sáng vàng yếu ớt bị thu hẹp lại, chỉ còn một chấm đỏ le lói bao bọc bởi một quầng tím nhờ nhờ.

Không gian xung quanh bỗng nhiên tĩnh lặng đến rợn người.

Tiếng nước nhỏ giọt "tõm... tõm..." trên đỉnh vòm trần hoàn toàn ngưng bặt. Thứ sương tím trườn dưới chân chúng tôi như bị một lực hút vô hình kéo ngược lại, bắt đầu xoáy tròn quanh chân bệ đá cẩm thạch rồi bám chặt vào lớp vỏ kén bùn đen.

"Phì... phò..."

Một âm thanh trầm đục, nặng nề bỗng nhiên phát ra từ sâu bên trong chiếc kén.

Tôi chết sững, lông tơ toàn thân dựng ngược cả lên. Đó là âm thanh của một nhịp thở.

Một nhịp thở khổng lồ, ẩm ướt và nhớp nháp.

Trước mắt sáu con người chúng tôi, lớp vỏ bùn đen đan bện chằng chịt bỗng nhiên chuyển động. Toàn bộ chiếc kén phồng rộp lên một cách chậm rãi, căng tròn ra như một lá phổi sống đang hít trọn luồng dưỡng khí lạnh buốt của hầm mộ, rồi sau đó lại từ từ thóp sâu vào trong, để lộ ra những đường gân tơ đen sì nổi gồ ghề trên bề mặt.

Nó đang sống.

Nó thực sự đang thở, một cách nhịp nhàng và quái dị ngay giữa gian tẩm điện ngập tràn tử khí.

Trương Văn Hổ khựng lại giữa chừng, cánh tay giơ cao cây xà beng sắt bỗng run rẩy. Gương mặt hung dữ của gã cắt không còn một giọt máu, đôi mắt ti hí trợn trừng nhìn vào lớp vỏ kén đang co thắt từng đợt ngay trước mũi nhọn kim loại.

- Nó... nó thở... - Thằng Bằng lắp bắp, giọng nó méo mó không còn ra tiếng người - Cậu Lựu ơi... cái bọc kia... nó đang thở...

"Rào... rạo... rạo..."

Lời thằng Bằng chưa dứt, từ tận đáy sâu bên trong chiếc kén khổng lồ, nơi lớp bùn đen dày cộm và những sợi tơ bện chặt bao bọc, một chuỗi âm thanh ghê rợn bắt đầu vọng ra.

Đó là tiếng cào xé lạo xạo của hàng trăm, hàng ngàn chiếc chân đốt bằng chất sừng cứng ngắc đang cọ xát vào nhau. Tiếng lạo xạo khô khốc, sắc lẹm, dồn dập như tiếng mưa rào quất lên lá cọ khô, nhưng lại nghẽn đặc bên dưới một lớp màng dịch nhầy nhụa. Thứ âm thanh ấy lan truyền qua lớp vỏ kén, truyền xuống bệ đá cẩm thạch rồi dội thẳng vào lòng bàn chân của chúng tôi, tạo nên một cơn chấn động âm ỉ làm tê dại cả sống lưng.

- Rút lui... - Lão Điền gào lên thất thanh, giọng lão the thé xé toang bầu không khí ngột ngạt - Đừng đánh thức nó! Rết chúa đang ngủ say trong xác quan lớn! Đừng đánh thức nó!

Nhưng tất cả đã quá muộn.

Áp lực từ nhịp thở của chiếc kén dường như đã phá vỡ thế cân bằng mong manh. Cái thế cân bằng ấy tồn tại suốt hàng trăm năm dưới đáy mồ sâu.

"RẮC!"

Một tiếng nứt toác khô khốc vang lên từ chính giữa thân kén.

Một vết rách dài chừng hai gang tay toác ra trên lớp vỏ bùn đen nhớp nháp. Từ bên trong khe nứt ấy, một luồng khói màu tím sẫm, đặc quánh như máu đông phụt mạnh ra ngoài không khí, kèm theo thứ dịch nhầy màu đen bốc mùi hôi thối nồng nặc bắn tung tóe lên mặt đất.

Và ngay giữa khe nứt đen ngòm ấy, dưới ánh sáng vàng vọt run rẩy của ngọn đèn bão, hai chiếc kìm sừng cong vút màu đỏ au như than hồng, to bằng bắp tay người lớn, từ từ thò ra ngoài, quặp mạnh vào không khí tạo nên những tiếng "cách... cách..." đanh gọn và rợn tóc gáy.

Chương khác

Xem thêm