Huyệt Mộ Trăm Chân - Chương 4: Thâm Nhập Huyền Cung
Đất cát từ trần vòm vẫn thỉnh thoảng rớt xuống vai tôi lạo xạo. Cửa hang phía trên đã bị những tảng vôi mật mía và đất sỏi đè sập, khoảng hở thông lên…
Nội dung chương
Đất cát từ trần vòm vẫn thỉnh thoảng rớt xuống vai tôi lạo xạo. Cửa hang phía trên đã bị những tảng vôi mật mía và đất sỏi đè sập, khoảng hở thông lên trời đêm chỉ còn chừng nửa gang tay, mỏng manh như một sợi chỉ sáng le lói. Luồng gió từ mặt đất lọt xuống phát ra tiếng rít từng hồi u hoài, khô khốc.
Thằng Bằng ngồi bệt trên đống gạch vụn, hai tay run rẩy bấu chặt lấy gối, bờ vai gầy guộc nhô lên sau lớp áo tơi rách bươm. Tôi đưa bàn tay dính máu quệt ngang trán, hít một hơi thật sâu rồi nắm lấy vai nó giật mạnh:
- Đứng dậy! Mày ngồi đấy khóc thì đất trên gò cũng chẳng tự dời đi được đâu. Muốn sống thì phải mở mắt ra mà tìm lối khác.
- Cậu Lựu... đất lấp hết rồi... - Bằng mếu máo, giọng nghẹn lại trong cổ họng - Cửa hang sập rồi, mình lấy gì mà khoét ngược lên?
Trương Văn Hổ bước tới, đá mạnh gót giày đinh vào một tảng vôi vỡ dưới chân làm nó lăn lông lốc vào bóng tối. Đôi mắt gã cai ngục trốn trại đỏ ngầu dưới ánh đèn bão, gân cổ nổi cuồn cuộn:
- Nó nói đúng đấy Lựu ạ. Lùi lại bới đống đất này bằng tay không thì ba ngày nữa cũng chưa thông, mà lúc đó cả lũ đã chết ngạt dưới đáy mả rồi. Mộ thời Lê thường làm theo kiểu tiền đường hậu tẩm, đằng trước có chỗ đặt đồ tế, đằng sau mới là nơi quan tài nằm. Tao không tin một cái lăng to thế này chỉ có độc một cái cửa vòm. Đi sâu vào trong, thế nào cũng có cửa phụ hoặc đường thông đạo dẫn ra sườn gò.
Tôi gật đầu, đồng tình với nhận định của Hổ. Lũ nhà giàu thời phong kiến khi xây cất lăng mộ luôn chừa đường thoát cho toán thợ nề bị ép chôn sống, hoặc ít nhất cũng có ngách dẫn khí để mạch đất không bị tắc. Tôi xoay núm vặn của chiếc đèn bão, kéo bấc đèn cao thêm một chút để quầng sáng vàng vọt mở rộng ra xung quanh.
Trước mặt chúng tôi là khoảng không gian thâm u của gian tiền đường.
Mặt sàn lát bằng từng phiến gạch vồ khổ lớn, loại gạch nung già màu đỏ sẫm đặc trưng của thời Lê sơ, mỗi viên dài tới hai gang tay, xếp khít vào nhau bằng thứ hồ vôi nhuyễn mịn. Nhìn qua, căn phòng rộng chừng ba trượng, bốn bề tĩnh mịch đến rợn người. Thế nhưng, thứ sương tím từ các kẽ nứt dưới sàn lúc này đã bắt đầu dâng cao ngang bắp chân. Nó không tan biến mà lững lờ trôi, cuộn tròn quanh ống quần chúng tôi từng đợt nhớp nháp, mang theo mùi thối ngọt lợ cổ họng khiến con Hằng phải liên tục dùng vạt yếm che kín mũi, đôi mắt ầng ậng nước vì buồn nôn.
- Cầm chắc đồ nghề - Tôi hạ giọng dặn dò - Tứ đi sát mép tường bên trái, Hổ bọc bên phải. Lão Điền đi giữa trông chừng con Hằng với thằng Bằng. Cứ rà từng tấc đất, thấy rương hòm hay đồ đồng thì báo ngay.
Mắt tôi dán chặt xuống mặt sàn gạch vồ trơn tuột. Là một người thợ mộc từng dựng nhà, sửa đình miếu khắp xứ Đoài, tôi hiểu rất rõ phong tục táng thức của các bậc quan lại triều đình. Một vị đại quan nhất phẩm như Nguyễn Sư khi nhắm mắt xuôi tay, gian tiền đường này chí ít cũng phải đặt vài cỗ đỉnh đồng hun hun khói, những hàng bình gốm men lam đựng ngũ cốc, bát đĩa ngọc lưu ly tùy táng, hoặc tấm văn bia bằng đá xanh tán tụng công đức rạng rỡ của gia tộc.
Những thứ ấy chính là miếng cơm manh áo, là mục đích sống chết mà sáu con người đói rách chúng tôi liều mạng mò xuống đây giữa nạn đói năm 1942.
Tôi bước chầm chậm, mũi chân trần thăm dò từng viên gạch. Mặt sàn lạnh ngắt, dính dính một lớp màng nhờn mỏng làm bước đi trở nên trơn trượt.
- Sao... sao chẳng thấy cái rương nào cả? - Thằng Bằng lí nhí sau lưng tôi, ánh mắt dáo dác nhìn quanh quất - Đồ đồng đâu? Bát đĩa ngọc của quan lớn đâu rồi cậu Lựu?
Không có một bóng dáng rương gỗ hay hòm thiếc nào. Không có bình gốm hoa lam, cũng chẳng có lấy một mảnh vỡ của đồ tùy táng. Gian phòng trống hoác một cách kỳ dị, bốn góc tường lạnh lẽo chỉ trơ ra những hàng gạch vách sẫm màu.
Lòng tham hừng hực ban nãy trong lồng ngực tôi bỗng chốc bị giáng một đòn nặng nề, thay vào đó là cảm giác hụt hẫng đến tê tái. Chẳng lẽ cả bọn liều mạng đào bới cả đêm, đánh đổi bằng tính mạng để chui vào một ngôi mộ rỗng?
Tôi bước vội đến góc tường phía đông, nơi thường đặt bệ thờ đá hoặc hốc để nến. Chiếc đèn bão rọi thẳng vào góc tối. Nhưng thứ đập vào mắt tôi không phải bệ đá chạm hoa sen hay chân đèn bằng đồng gỉ xanh.
Toàn bộ góc tường, từ chân gạch chạy ngược lên vòm trần, bị bao phủ bởi một lớp dịch nhầy đen kịt.
Thứ dịch ấy quánh đặc như hắc ín, bóng nhẫy dưới ánh đèn dầu và liên tục chảy rỉ rả từng giọt chậm chạp xuống nền đất. Nó bám chặt vào bề mặt gạch nung, đóng thành từng mảng xốp phồng rộp, lấm tấm những chấm mốc trắng li ti. Khi tôi đưa ngọn đèn lại gần, thứ dịch đen ấy hơi co giật nhẹ, phát ra tiếng xèo xèo rất nhỏ rồi phả ra một luồng khí nồng nặc mùi hôi thối pha lẫn vị ngọt lợ của xác chết lâu ngày.
- Mẹ kiếp, cái giống gì bẩn thỉu thế này? - Trương Văn Hổ bước đến cạnh tôi, gã lấy mũi xà beng chọc mạnh vào mảng dịch nhờn trên tường.
Đầu sắt vừa cắm vào, lớp màng đen lập tức vỡ toác ra. Một dòng nước màu nâu sẫm, đặc sệt như mủ mụn nhọt ộc ra ngoài, chảy tràn xuống sàn gạch. Hổ giật mình lùi lại nửa bước, buông một câu chửi thề:
- Hôi quá! Thối hơn cả xác tù chết róc thịt trong xà lim! Cả cái lăng này hình như bị ngập nước cống hay sao ấy!
- Không có nước cống nào đóng màng dẻo quánh như thế này đâu - Tôi lấy đầu ngón chân gạt nhẹ lớp dịch vừa chảy xuống đất - Nó dính như keo da trâu. Vôi vữa xung quanh đều bị thứ dịch này ăn mòn hết rồi.
Tôi đưa mắt nhìn dọc theo chân tường của gian tiền đường. Khắp bốn bề, chỗ nào cũng có những vệt dịch nhầy màu đen kéo dài từ trên vòm cao rỏ xuống, bện lấy lớp sương tím lờ đờ trôi dưới sàn, tạo nên một khung cảnh u uất, bẩn thỉu đến tột cùng. Một ngôi mộ quan đại thần tôn nghiêm của triều Lê lại biến thành một cái hầm nhớp nháp không khác gì lòng cống ngầm của lũ súc vật.
- Anh Lựu... anh Lựu ơi! Qua đây mà xem này! - Giọng thằng Tứ bỗng vang lên từ vách tường phía tây, gấp gáp và run lẩy bẩy.
Tôi và Hổ lập tức quay người rảo bước lại chỗ Tứ.
Tứ đang đứng nép sát vào vách mộ, tay cầm chiếc đèn dầu nhỏ giơ sát vào một mảng tường gạch còn tương đối khô ráo, chưa bị lớp dịch nhầy đen kịt phủ kín. Con Hằng bám chặt lấy cánh tay lão Điền, lảo đảo đi theo sau, hai hàm răng con bé va vào nhau lập cập thành từng hồi khô khốc.
- Có chuyện gì? Tìm thấy hốc giấu vàng rồi à? - Hổ xẵng giọng hỏi.
- Không... không có vàng... - Mặt Tứ trắng bệch như người chết trôi, ngón tay run rẩy chỉ thẳng vào bề mặt những viên gạch nung - Các anh nhìn kỹ chỗ này xem. Toàn là... toàn là vết cào...
Tôi nâng cao ngọn đèn bão, áp sát ngọn lửa vào sát mặt vách.
Ánh sáng vàng vọt rọi rõ từng đường nét trên những phiến gạch vồ kiên cố. Trái tim tôi bỗng thắt lại.
Bề mặt của hàng trăm viên gạch nung già vốn phẳng phiu, cứng như đá tảng, nay chi chít những vết cào xé sâu hoắm. Những vết rãnh ấy không hề ngẫu nhiên. Chúng có hình móc câu cong vút, dài chừng nửa lóng tay, đầu trên hẹp và nhọn hoắt, ăn sâu vào tận xương gạch đến nửa đốt ngón tay, tạo thành từng chùm, từng mảng dày đặc chồng chéo lên nhau.
Có những chỗ, gạch bị cào nát vụn thành từng vệt dài từ sát mặt đất kéo thẳng lên tận vòm trần cao hơn một trượng. Hàng ngàn, hàng vạn vết móc câu đan xen chằng chịt, biến bức tường gạch vững chãi của tiền nhân thành một mảng vách nham nhở, rách rưới như bị một đàn thú dữ dùng móng vuốt cào xé điên cuồng qua nhiều năm tháng.
Trương Văn Hổ cau mày, gí sát mặt vào vách gạch xem xét rồi cười nhạt một tiếng:
- Tưởng cái gì! Vết chàng, vết đục của lũ trộm mộ đời trước chứ có quái gì đâu. Chắc ngày xưa có toán thợ đào nhầm vào vách này, thấy gạch cứng quá nên lấy xà beng cạy tìm đường sang gian bên cạnh, đục không nổi nên bỏ dở.
- Chú Hổ nói bậy rồi - Tôi lắc đầu, đưa ngón tay cái miết nhẹ vào một đường rãnh hình móc câu - Tôi làm thợ mộc từ năm mười sáu tuổi, cả đời đục đẽo xoi rãnh không biết bao nhiêu loại gỗ với đá. Lưỡi chàng hay mũi xà beng của thợ sắt khi bổ vào gạch nung bao giờ cũng để lại vết sứt phẳng, có cạnh sắc vuông vức và bụi gạch văng ra xung quanh. Đằng này mép rãnh lại trơn láng, đường cong uốn lượn rất dẻo. Phần đáy vết cào thì sắc lẻm và có ngạnh móc ngược vào trong. Sắt thép trần gian không có mũi đục nào uốn cong được như thế này cả.
- Với lại... - Tứ nuốt một ngụm nước bọt, giọng nghẹn ứ - Đục bằng xà beng thì ai hơi đâu mà đục hàng ngàn vết nhỏ li ti sát sạt nhau thế này? Các anh nhìn lên trần mà xem, trên đỉnh vòm cao thế kia, người thường đứng còn chẳng với tới, lấy đâu ra thế mà đục được những vết móc câu dày đặc như vảy cá thế kia?
Cả bọn im bặt. Lời thằng Tứ như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào gáy từng người.
Lão Điền nãy giờ vẫn đứng tựa lưng vào bóng tối, run rẩy lần từng hạt trên chuỗi tràng hạt gỗ bồ đề. Nghe chúng tôi bàn tán, lão chầm chậm bước tới, ngón tay khẳng khiu như cành củi khô khẽ chạm vào vách tường gạch. Lão lần theo một vệt cào hình móc câu, rồi cúi xuống đưa đầu ngón tay dính dịch đen lên mũi ngửi.
Cả thân hình già nua của lão Điền bỗng co giật dữ dội. Hai con mắt lão trợn trừng lên, lòng trắng dã ra dưới ánh đèn le lói. Lão giật phắt bàn tay lại như vừa chạm phải thanh sắt nung đỏ, lảo đảo lùi về phía sau ba bước, lưng đập mạnh vào vai tôi.
- Thầy Điền! Thầy làm sao thế? - Hằng hốt hoảng níu lấy vạt áo lão.
- Nghiệt súc... nghiệt súc ngàn năm... - Giọng lão Điền the thé, run bần bật như người lên cơn sốt rét rừng - Đây không phải vết đục của người... Trời ơi, chúng ta đi nhầm vào sào huyệt của nó rồi!
- Lão già kia, nói năng cho rõ ràng xem nào! - Trương Văn Hổ túm chặt lấy cổ áo lão Điền, gầm gừ đe dọa - Cứ ấp a ấp úng làm cả lũ thêm run! Cái giống gì cào vào vách?
Lão Điền gạt tay Hổ ra, hơi thở dồn dập đứt quãng, ngón tay lão run rẩy chỉ ngược lên vòm trần đen ngòm:
- Chân đốt... Đó là vết cào của chân đốt! Mỗi một cái móc câu này là một cái chân kìm bằng sừng của loài trăm chân! Các người nhìn xem, vết cào xếp thành từng hàng song song, mỗi hàng có hàng chục vết móc đều tăm tắp... Nó bò qua đây! Không phải một con... mà là hàng đàn, hàng vạn con bò lổm ngổm cào xé lên tường gạch để leo lên vòm trần!
Lời lão Điền vừa dứt, một cơn gió lạnh buốt từ sâu trong hầm mộ thốc ngược ra, làm ngọn lửa đèn bão chao nghiêng dữ dội.
Thằng Bằng rú lên một tiếng nghẹn ngào, ngã quỵ xuống sàn gạch. Con Hằng bịt chặt miệng để ngăn tiếng khóc thét, nước mắt giàn giụa trên đôi gò má hốc hác vì đói ăn. Cả gian tiền đường chìm trong một bầu không khí nghẹt thở.
Tôi rọi ngọn đèn bão soi kỹ lại mảng tường. Quả đúng như lời lão Điền nói. Khi nhìn từ xa, những vết cào trông rối rắm như mạng nhện, nhưng khi nhìn gần và xâu chuỗi lại, chúng xếp thành từng vệt dài song song, khoảng cách giữa các móc câu đều đặn một cách rợn người. Đó là vết bấu víu của những chiếc chân đốt nhọn hoắt bằng chất sừng cứng ngắc, thứ chân kìm có thể ghim thẳng vào gạch nung già thời Lê như ghim vào bùn đất.
- Lăng mộ này... rốt cuộc chôn vị quan hay chôn thứ gì? - Tôi siết chặt cán búa trong tay, cảm nhận được từng giọt mồ hôi lạnh toát đang túa ra ròng ròng bên thái dương - Tại sao lăng mộ đại thần triều đình lại có loài trăm chân bò nát cả vách tường thế này?
- Có khi nào... lời đồn ở làng Yên Sở là thật không anh Lựu? - Tứ run rẩy lắp bắp - Mười năm trước, mấy người đi săn đêm trên gò này từng kể nhìn thấy con rết khổng lồ to bằng cột nhà trườn qua bãi tha ma... Làng đồn quan lớn Nguyễn Sư không chết vì bệnh, mà bị... bị tà ma ăn mất ruột...
- Câm cái mồm mày lại! - Hổ gầm lên, vung cây xà beng sắt chém mạnh vào không khí để xua đi nỗi sợ đang bóp nghẹt tim gã - Toàn chuyện ma quỷ hù dọa con nít! Đói rách đến mức phải ăn củ chuối, rễ cỏ còn chưa chết, sợ quái gì mấy con sâu bọ rết rọc! Kể cả có rết thật thì cũng là chuyện mấy trăm năm trước rồi! Đồ tùy táng chắc chắn nằm ở gian sau. Càng nhiều tà ma thì vàng ngọc càng lắm!
Tôi nhìn nét mặt dữ tợn nhưng đầy vẻ kích động của Hổ, rồi lại nhìn xuống lớp sương tím đang dần dâng cao hơn dưới chân. Làn sương đã ngập qua mắt cá chân chúng tôi, lạnh toát và nhớp nháp. Tiếng lạo xạo... sột soạt ma quái mà chúng tôi nghe thấy ban nãy dường như đang vọng lại từ phía sâu bên trong gian phòng kế tiếp, trầm đục và dồn dập hơn.
Chúng tôi không thể quay lại lối cũ. Đống đất đá sập đã bít kín đường lên. Nếu cứ đứng chôn chân ở gian tiền đường này, chẳng mấy chốc thứ sương tím ngọt thối kia sẽ dâng ngập đầu, hoặc cơn đói khát sẽ róc cạn sinh lực của từng người.
Con đường sống duy nhất, dù có chứa chất ngàn vạn cạm bẫy hay quái vật dưới mồ, chỉ có thể nằm ở phía trước.
Tôi hít một hơi thật sâu, dồn nén nỗi kinh hoàng đang cuộn trào trong dạ dày, giơ cao ngọn đèn bão hướng về phía cuối gian tiền đường:
- Hổ nói đúng một điều. Ở đây không có đường lui. Đi tiếp!
Trước mặt chúng tôi, nằm ở chính giữa bức tường ngăn cách gian tiền đường, sừng sững một khung cửa vòm cuốn bằng đá khối xám xịt dẫn thẳng vào tẩm điện trung tâm. Cánh cửa đá bên ngoài đã mở he hé tự bao giờ, để lộ ra một khoảng tối sâu hun hút, đen ngòm như miệng của một con quái thú khổng lồ đang há rộng dưới đáy mồ sâu. Từ khe cửa ấy, từng dải tơ đen nhờn nhợt buông thõng xuống đất, và một luồng khí thối ngọt ngào ngạt thốc thẳng ra ngoài, lạnh buốt đến tận tim gan.