Huyệt Mộ Trăm Chân - Chương 3: Mùi Hương Thối Ngọt Dưới Lòng Đất

Luồng chướng khí từ đáy hố sâu phả thẳng vào mặt tôi lạnh toát, mang theo một thứ mùi vừa thối rữa của thịt thối ngâm nước vừa ngọt lịm lợ bựa như mạch…

Nội dung chương

Luồng chướng khí từ đáy hố sâu phả thẳng vào mặt tôi lạnh toát, mang theo một thứ mùi vừa thối rữa của thịt thối ngâm nước vừa ngọt lịm lợ bựa như mạch nha khê đặc quánh. Vị ngọt dính nhớp ấy dội thẳng vào cuống họng, đắng ngắt nơi đầu lưỡi rồi xộc ngược lên xoang mũi, khiến ruột gan tôi cồn cào như có ai cầm nắm cát chà xát bên trong dạ dày. Tôi gập người xuống, nén cơn ói mửa đang sôi ùng ục trong ngực, hai bàn tay ghì chặt lấy cán xà beng đến trắng bệch các khớp xương.

Bên cạnh tôi, Trương Văn Hổ hạ cây búa tạ tám cân xuống đất, phát ra một tiếng "thịch" nặng nề. Thân hình hộ pháp của gã lảo đảo sang một bên. Gã đưa bàn tay gân guốc bịt chặt miệng mũi, mắt trợn trừng nhìn xuống cái lỗ thủng vừa mở toang nơi vòm mộ.

- Lựu... cái mùi quỷ quái gì thế này? - Hổ gằn giọng qua kẽ tay, thanh âm nghẹt cứng - Xác chết ba trăm năm mà còn bốc mùi nồng nặc thế này à?

- Đừng hít sâu bằng miệng - Tôi nuốt khan ngụm nước bọt chua loét, xé vội một dải vải từ ống tay áo nâu sòng đã rách bươm, quấn chặt lấy lòng bàn tay đang rỉ máu - Mật mía trộn vôi bị bọc kín hàng trăm năm dưới đất, gặp khí độc của cõi chết thối rữa nên sinh ra thứ hơi này. Mùi càng ngọt thì độc khí tích tụ càng dày. Đưa thêm giẻ đây, bịt kín mũi miệng lại hết!

Thằng Bằng ngồi bệt dưới lòng rãnh đào, mặt cắt không còn hột máu. Nó nôn thốc nôn tháo ra một bãi nước vàng chua lè, toàn thân run rẩy như thằn lằn đứt đuôi. Cạnh nó, con Hằng buông rơi chiếc gáo múc nước bằng vỏ dừa xuống bùn, hai tay ôm lấy đầu gối, miệng bắt đầu phát ra những tiếng khóc thút thít nghẹn ngào. Đôi vai gầy guộc của con bé nhấp nhô dưới tấm áo vá chằng vá đụp, tiếng nấc run lên từng chặp ngắt quãng:

- Anh Lựu ơi... em sợ lắm... mùi này ghê quá... Mẹ em ngày trước lúc chết đói ngoài vệ đường cũng bốc cái mùi thiêu thiêu thum thủm thế này... Đây là mả độc rồi anh ơi, mình về đi, em van anh...

- Câm mồm lại! - Tôi nghiến răng quát khẽ, bước giậm chân xuống lớp đất nhão bên bờ huyệt - Khóc lóc cái gì lúc này? Về đâu? Về làng để gặm vỏ cây du, vỏ cây bàng mà chờ trương bụng chết như lũ người ngoài chợ à? Mày nhìn lại nhà mày xem còn hột thóc nào không? Đã bới đất đến tận cửa vòm này rồi thì không có đường lui nữa!

Hằng giật thót người trước cái nhìn dữ dằn của tôi. Con bé vội vàng cắn chặt môi dưới đến bật máu để chặn tiếng nấc, đôi mắt đẫm lệ nhìn trừng trừng vào khoảng tối sâu hoắm bên dưới lỗ hổng. Tôi cúi người nhặt mảnh áo rách rơi dưới chân, dúi mạnh vào tay con bé:

- Bịt chặt mũi lại. Thở nhẹ thôi. Có tôi ở đây, chưa ai chết đói hay chết ngạt được đâu.

Trên miệng hố, lão Điền quỳ phục xuống đám cỏ găng khô héo, hai bàn tay gầy như que củi ôm chặt lấy đầu, miệng lầm rầm niệm những bài văn khấn cầu an đứt đoạn. Tứ lính canh thì đứng chôn chân bên cạnh lão, khẩu súng kíp cầm trên tay chúc nòng xuống đất, bàn chân gã giật giật từng cơn vì sợ hãi. Tôi ngẩng đầu nhìn lên hai người bọn họ, giọng lạnh như thép nguội:

- Tứ, chuyển cho tôi chiếc đèn bão xuống đây. Lão Điền, cất mấy câu lảm nhảm của lão đi. Muốn có phần ăn cho lũ cháu lão ở quê thì bò lại gần mép hố phụ dọn gạch vỡ, đừng có ngồi đó mà rủa xả cả đám.

Trần Văn Tứ nuốt ức một tiếng, cẩn thận chuyền chiếc đèn bão bọc vải đen xuống mép hầm. Tôi đón lấy quai sắt của đèn. Ngọn lửa hạt đỗ bên trong lồng kính sau một chặp chao đảo dữ dội đã bắt đầu đứng bóng trở lại, hắt ra một quầng sáng vàng vọt ảm đạm soi rõ miệng lỗ thủng.

Lỗ hổng trên vòm mộ rộng chừng ba gang tay, mép vữa vôi mật vỡ nham nhở như hàm răng của một con thú khổng lồ há hốc giữa lòng đất. Những sợi tơ màu xám đen ken đặc trong lõi vữa bị gãy đứt từng đoạn, rủ lòng thòng xuống khoảng không gian tăm tối bên dưới. Kỳ lạ thay, dù bên ngoài gió đêm rằm tháng Bảy vẫn rít từng cơn lạnh buốt qua các khe đá ong trên gò, nhưng từ dưới lòng hầm mộ cổ, một làn khí ấm nóng ẩm ướt vẫn liên tục trào ngược lên bề mặt, mang theo tiếng lạo xạo cọ xát rất nhỏ, mơ hồ nghe như tiếng móng tay sắc nhọn cào nhẹ vào vách vôi.

- Hổ, phụ tôi nậy thêm mấy tảng vữa góc này ra - Tôi chỉ mũi xà beng vào mép vòm phía tây - Cửa hầm mộ người ta xếp theo lối cuốn vòm khép kín, mảng nắp này sập xuống tạo thành thế hàm ếch. Nếu không phá rộng thêm một gang tay nữa, người to con như bác chui vào sẽ bị kẹt ngang hông.

Trương Văn Hổ không đáp lời, gã gật đầu dứt khoát rồi luồn cây búa tạ vào khe nứt. Bắp tay gã gồng lên, cơ bắp cuộn chặt dưới lớp da sạm đen. Cùng với lực bẩy từ chiếc xà beng của tôi, hai khối vữa mật mía dày cộp rắc một tiếng khô khốc rồi rơi thẳng xuống đáy hầm sâu. Tiếng đá vữa rơi chạm đáy vang lên một âm thanh "bộp" nặng nề, sau đó hoàn toàn im bặt.

- Đáy mộ sâu bao nhiêu, Lựu? - Hổ ghé sát tai hỏi, mắt vẫn không rời khoảng tối bên dưới.

- Chừng hơn một trượng, không quá sâu đâu - Tôi ước lượng khoảng cách dựa vào tiếng vang vọng lại - Chỗ này chỉ là phần tiền đường ngăn cách với lăng chính. Bằng, lấy cho tao cuộn dây thừng bện gai bồ kết buộc chặt vào gốc cây ổi rừng trên miệng hố, thả đầu dây xuống đây.

Thằng Bằng lúng túng làm theo mệnh lệnh. Bàn tay nó vẫn còn dính chất dịch nhờn đen bóng từ lòng đất trào ra ban nãy, khiến sợi dây thừng trơn tuột. Nó phải dùng hai hàm răng cắn chặt một đầu dây để ghì nút thắt vào gốc cây cổ thụ bên sườn gò, sau đó quăng đầu dây còn lại xuống đáy huyệt. Đầu dây thừng chạm đất ngầm với một tiếng quất nhẹ.

Tôi chỉnh lại bấc đèn bão cho ngọn lửa cháy to hơn một chút, rồi ngoắc quai đèn vào thắt lưng vải gai bên hông trái. Tay phải tôi cầm chắc chiếc xà beng thép nguội dài sáu thước.

- Tôi xuống trước - Tôi quét mắt nhìn qua từng gương mặt đang tái mét dưới ánh đèn le lói - Hổ xuống thứ hai để tiếp ứng. Tiếp theo là con Hằng và thằng Bằng, Tứ canh sau cùng để kéo lão Điền xuống. Xuống tới nơi, bất kể nhìn thấy cái gì cũng cấm ai được la hét. Đứa nào rống lên kinh động đến dân tuần tra của đồn Pháp hay làm sập trần mộ thì tao bỏ mặc dưới đáy hầm, nghe rõ chưa?

Bốn người bọn họ đồng loạt gật đầu, ánh mắt hoang mang dán chặt vào từng cử động của tôi.

Tôi hít sâu một hơi qua lớp khăn vải bịt kín miệng mũi, nén chặt nỗi ghê tởm đang cuộn trào trước thứ mùi ngọt thối nhờn nhợt, rồi nắm chặt lấy sợi dây thừng bện gai. Tôi xoay người, thả hai chân lọt qua mép lỗ thủng lởm chởm vôi vữa.

Không khí bên dưới lập tức bao bọc lấy phần thân dưới của tôi. Nó đặc quánh, ấm nóng một cách bất thường, ấm hơn hẳn cái giá lạnh sương đêm của vùng đồi gò trung du bên ngoài. Cảm giác này giống như việc nhúng nửa người vào một vũng nước bùn ấm thối rữa ngâm đầy lá mục. Chân tôi buông thõng giữa khoảng không, mũi giày vải quờ quạng trong bóng tối đặc sệt vài giây rồi chạm phải một bề mặt cứng nhưng vô cùng trơn trượt.

Tôi buông sợi dây thừng, tiếp đất bằng cả hai chân.

"Soạt!"

Gót giày tôi trượt dài trên mặt sàn chừng nửa tấc trước khi giữ được thăng bằng. Dưới chân tôi là những viên gạch vồ thời Lê bản to, dày cộp, nhưng toàn bộ bề mặt gạch đều bị bao phủ bởi một lớp bùn mỏng nhờn nhẫy, dính dớp như mỡ cá thối. Mùi thối ngọt ở dưới đáy này nồng nặc gấp mười lần so với trên miệng hố, xộc thẳng vào mắt khiến hai mi mắt tôi cay xè, nước mắt chực trào ra.

Tôi rút chiếc xà beng ra phía trước ngực làm thế thủ, tay kia tháo chiếc đèn bão bên hông giơ cao lên ngang tầm mắt.

Quầng sáng vàng ệch từ ngọn đèn bão tỏa ra trong phạm vi chưa đầy một sải tay. Xung quanh tôi, bóng tối dày đặc tựa như có hình khối, đè nặng lên từng tấc không gian. Tôi đứng giữa một lối đi hẹp hình vòm cuốn bằng gạch nung đỏ sẫm, cao chừng tám thước, rộng chừng năm thước. Hai bên vách mộ, những mạch vữa tam hợp đã ngả sang màu xám xịt, loang lổ những vệt ố vàng kéo dài từ trên trần vòm xuống tận chân tường.

Không có quan tài. Không có những hòm gỗ lim nạm bạc hay đồ gốm men lam quý giá như lời kể của đám thợ đào đất làng bên.

Dưới chân tôi, ngoài lớp bùn nhầy nhớp nháp bao phủ sàn gạch, chỉ có mảng vữa trần vừa rơi rụng vỡ vụn thành trăm mảnh. Những sợi tơ xám đen dính trong khối vữa đứt gãy nằm rải rác trên nền đất, khẽ co rút nhè nhẹ như những chiếc râu sâu róm khi hơi nóng từ ngọn đèn bão quét qua.

- Lựu! Dưới đó thế nào rồi? - Giọng Trương Văn Hổ từ trên lỗ thủng vọng xuống, nghe ồm ồm và ngột ngạt qua lớp đất dày.

- Xuống được! Nền gạch trơn lắm, bám chắc dây thừng mà tụt xuống! - Tôi ngửa cổ nói với lên, cố giữ cho giọng mình thật bình tĩnh.

Tiếng sột soạt của sợi dây thừng căng ra ken két. Vài giây sau, thân hình hộ pháp của Trương Văn Hổ tụt xuống qua lỗ hổng. Chân gã vừa chạm sàn gạch trơn tuột liền trượt mạnh, cả người ngã ngửa ra sau. May mắn là Hổ kịp vung tay bám lấy một gờ gạch lồi trên vách cuốn, miệng rủa một câu chửi thề tục tĩu:

- Mẹ kiếp, sàn trét mỡ hay sao mà trơn thế này?

- Không phải mỡ - Tôi soi đèn sát xuống mũi giày gã - Là bùn ướt hòa với nước rỉ từ trên vách xuống. Đứng gọn sang bên kia để đón con Hằng.

Lần lượt từng người đu dây tụt xuống đáy căn hầm mộ tối tăm. Hằng trườn qua khe hẹp một cách chật vật, tà áo gai của con bé móc vào một mẩu xương dăm lòi ra từ mép vữa, phát ra một tiếng "xoẹt" xé vải. Tôi vội vươn tay đỡ lấy eo con bé kéo mạnh xuống sàn. Người con bé lạnh ngắt, run rẩy bám chặt lấy cánh tay tôi như người sắp chết đuối vớ được cọc.

Thằng Bằng và Tứ lính canh tụt xuống ngay sau đó, mang theo túi đồ nghề gồm cuốc chim, đục sắt và mấy bó đuốc tẩm dầu hỏa chưa đốt. Cuối cùng, lão Điền được Tứ thắt dây thừng ngang nách thả từ từ xuống như một bao tải gạo rỗng. Lão già vừa chạm chân xuống sàn gạch liền ngã quỵ, hai đầu gối run rẩy đập vào nhau lách cách, hai mắt đảo quanh quất nhìn vào màn đêm mịt mùng với vẻ sợ hãi tột cùng.

Sáu người chúng tôi đứng chen chúc trong khoảng không gian chật chội của gian tiền đường, hơi thở của từng người phả ra hòa cùng thứ chướng khí ngọt thối lợn cợn nơi đáy mộ. Ánh sáng từ chiếc đèn bão duy nhất chỉ đủ soi rõ những gương mặt hốc hác, nhợt nhạt vì đói khát và sợ hãi.

- Lựu... mày xem... - Trương Văn Hổ bỗng nhiên chỉ tay lên vòm trần gạch ngay trên đầu chúng tôi.

Tôi nâng ngọn đèn bão lên cao. Ánh lửa rọi thẳng vào nơi vách vòm vừa bị búa tạ đục thủng.

Từ mép lỗ hổng thông gió dẫn lên mặt đất, vô số những vết nứt hình mạng nhện đang bắt đầu lan rộng ra xung quanh một cách bất thường. Những khối vữa mật mía dày hàng thước bên trên không còn giữ được kết cấu vững chắc ban đầu. Sức nặng của hàng ngàn tấn đất đồi Yên Sở phía trên đang đè nén xuống cái vòm cuốn đã bị đục thủng mất một mảng lớn.

"Rắc... rắc..."

Những tiếng nứt rạn khô khốc vang lên liên hồi bên trong lõi gạch. Đất cát mịn từ trên miệng hố bắt đầu tuôn rơi rào rào xuống như một trận mưa rào nhỏ, rớt lộp bộp lên nón mê và lưng áo sáu con người đang đứng bên dưới.

- Nguy rồi! - Tôi hét lên - Trần vòm chịu lực bị yếu, nó sắp sập! Chạy sâu vào phía trong mau!

Lời cảnh báo của tôi còn chưa dứt, một tiếng ầm vang dội kinh thiên động địa bỗng nổ tung trên đỉnh đầu.

"UỲNH!"

Cả một mảng vữa cuốn vòm lớn gấp ba lần mảng ban nãy cùng hàng tảng đất đồi sũng nước ầm ầm đổ sụp xuống. Cả căn hầm mộ rung chuyển dữ dội như vừa trải qua một cơn địa chấn. Bụi vôi trắng xóa cùng đất sét vàng mù mịt bốc lên ngùn ngụt, nuốt trọn lấy không gian hẹp. Tôi chỉ kịp vươn tay đẩy mạnh con Hằng và thằng Bằng về phía trước, cả thân người tôi bị một khối vữa vụn văng trúng bả vai đau điếng.

Đất đá trút xuống sàn gạch tạo thành một đống đổ nát ngổn ngang cao ngập đến thắt lưng.

Khi tiếng ầm vang dứt hẳn, bụi đất dần lắng xuống, chúng tôi quay đầu nhìn lại.

Lỗ hổng duy nhất dẫn lên mặt đất bên trên đã bị đất đồi và những tảng vôi mật mía khổng lồ sụt xuống bít kín hơn một nửa. Sợi dây thừng bện gai bị kẹp chặt dưới đống đổ nát, chỉ còn thò ra một mẩu ngắn ngủn đung đưa vô dụng. Khe hở thông gió còn lại chưa đầy nửa gang tay, chỉ đủ cho một luồng gió mỏng manh rít lên từng hồi u u u ai oán từ cõi dương thế vọng xuống.

Lối ra gần như đã bị chôn vùi.

- Mất... mất đường lên rồi! - Thằng Bằng gào lên, hai tay ôm lấy mặt, quỳ sụp xuống đống gạch vụn - Chúng ta bị chôn sống rồi cậu Lựu ơi! Chúng ta chết chắc rồi!

- Câm ngay! - Trương Văn Hổ gầm lên, giáng một bạt tai như trời giáng vào má thằng Bằng khiến nó ngã dúi dụi - Đã bảo không được gào mồm lên cơ mà! Còn thở là còn tìm được đường ra!

Lão Điền ngồi bệt dưới đất, hai tay ôm ngực thở dốc từng cơn, đôi mắt đờ đẫn nhìn vào đống đất đá đang bít chặt đường về:

- Cửa tử... cửa tử đã đóng rồi... Quẻ Huyết sát quả nhiên ứng nghiệm... Mộ cổ thời Lê một khi đã nuốt người thì không bao giờ nhả xương ra...

Tôi không để tâm đến những lời than khóc hoảng loạn của họ. Tôi nuốt chặt cơn đau nhói từ bả vai bị vữa đập trúng, bước lại gần đống gạch vỡ ngổn ngang. Tôi giơ chiếc đèn bão lên cao để kiểm tra mức độ sụt lở của vách vòm.

Nhưng ngay khi quầng sáng vàng vọt quét qua những kẽ nứt vừa toác ra trên sàn gạch và chân tường, bước chân tôi bỗng khựng lại.

Dưới áp lực của vụ sụt lở kinh hoàng vừa rồi, hàng loạt viên gạch vồ lát sàn đã bị nứt toác thành những rãnh dài hun hút dẫn sâu vào lòng đất bên dưới lăng mộ. Và từ sâu thẳm bên trong những kẽ nứt gạch vỡ ấy, không phải là đất cát hay nước ngầm trào ra.

Những làn khói mỏng màu tím biếc, lơ lửng và quánh đặc, bắt đầu từ từ tản ra.

Thứ sương tím ấy không bay ngược lên trần như khói bếp thông thường, mà trườn là là trên mặt sàn gạch ẩm ướt, luồn lách qua từng kẽ hở giữa các mảnh vữa vụn, chậm rãi vây bọc lấy những bàn chân trần của sáu người chúng tôi. Cùng với làn sương tím ma quái ấy, mùi hương thối ngọt lợ cổ họng bỗng bùng lên dữ dội, ngào ngạt và nhớp nháp bao trùm toàn bộ gian tiền đường tăm tối.

Chương khác

Xem thêm