Huyệt Mộ Trăm Chân - Chương 6: Luồng Sương Tím Khởi Phát
Mùi hôi khẳn bốc ra từ khe nứt xộc thẳng vào cuống họng tôi, đắng ngắt và nồng nặc mùi mủ thối lâu năm. Hai chiếc kìm sừng đỏ quạch thò ra ngoài lớp vỏ…
Nội dung chương
Mùi hôi khẳn bốc ra từ khe nứt xộc thẳng vào cuống họng tôi, đắng ngắt và nồng nặc mùi mủ thối lâu năm.
Hai chiếc kìm sừng đỏ quạch thò ra ngoài lớp vỏ bọc chừng nửa gang tay rồi khựng lại giữa không trung. Chúng không lao tới cắn xé ngay, mà chỉ rung giật từng hồi theo nhịp đập phập phồng của khối bùn đen. Tiếng "cách... cách..." khô khốc va đập vào nhau đều đặn, vang vọng qua bốn bức tường gạch vòm cuốn, tựa tiếng hai thanh sắt han rỉ gõ nhịp cầm canh giữa bãi tha ma.
- Đứng im! Thằng nào động đậy là chết cả nút! - Tôi hạ thấp giọng, một tay ghì chặt cán rựa thợ mộc đã mài vẹt mũi, tay kia nâng cao chiếc đèn bão để soi rõ từng thớ sợi đang căng ra trên thân kén.
Lớp vỏ ngoài không trơn nhẵn. Dưới ánh sáng vàng vọt của bấc đèn thấm dầu lạc, tôi nhìn rõ từng dải tơ nhện dày quánh đan chéo chằng chịt với đất sét đỏ và vôi mật mía. Đó chính là thứ hợp chất mà cánh thợ nề thời Lê thường dùng để trám mạch lăng tẩm hoàng gia, dẻo quánh và trơ lì trước mưa nắng hàng thế kỷ. Vậy mà ở đây, thứ vữa mật cổ xưa ấy lại bị nhào nặn cùng bùn đen đáy huyệt và hàng ngàn lớp tơ bện chặt, tạo thành một cái bọc khổng lồ dài hơn một trượng nằm đè nghiến lên bệ đá cẩm thạch.
Lão Điền bò lùi về phía sau, hai gót chân run rẩy cào vào mặt gạch lót sàn phát ra tiếng loạt soạt. Lão kéo sụp vành khăn xếp ướt sũng mồ hôi, hai hàm răng va vào nhau cầm cập:
- Quan lớn... quan lớn không siêu thoát... Ngô Công Tinh ăn mòn cốt tủy rồi... Chạy đi Lựu ơi! Mày tham vài đồng bạc vụn thì cả lũ bỏ xác làm mồi cho sâu bọ!
- Câm cái họng lại! - Trương Văn Hổ gầm gừ qua kẽ răng.
Gã cai ngục trốn trại đứng sát mép bệ đá, hai mắt đỏ sọc những tia máu đói khát. Cơn sốt rét rừng cùng những ngày trốn chui trốn lủi ngoài bãi lau sông Đáy đã biến gã thành một con thú hoang đường cùng. Mũi xà beng sắt trên tay Hổ run lên bần bật, nhưng đầu mũi nhọn vẫn gí sát vào mép rách của chiếc kén. Gã nhìn chằm chằm vào thứ dịch đen rỉ ra, nuốt nước bọt ừng ực.
- Mày nhìn xem Lựu! - Hổ quay phắt lại, ngón tay cái thô ráp chỉ thẳng vào vết rách - Vàng đấy! Mày thấy ánh sáng óng ánh bên trong không? Vải vóc triều đình, ngọc hàm thiền nhét miệng thây ma, cả mũ cánh chuồn nạm vàng nữa! Triều đình nhà Lê chôn đại quan thì bao giờ chẳng có cả hòm đai ngọc tùy táng!
- Mày mù à Hổ? - Tôi bước dằn từng bước về phía gã, mũi rựa chúc xuống đất, sẵn sàng gạt cây xà beng nếu gã làm bừa - Hai cái càng rết to bằng bắp tay sờ sờ ra đấy! Mày đâm vào thì cả tổ nó vỡ tung ra, cánh cửa đá đằng sau sập rồi, mày định chui vào đâu để trốn?
- Tao không mù! Nhưng tao sắp chết đói rồi! - Hổ hét lên, giọng lạc đi giữa vòm mộ kín - Ngoài kia người ta chết đói rải rác từ phủ Hoài Đức đến tận bến đò Phùng! Vợ con tao ăn cám ăn rác chết rấp dưới gầm cầu thang ngục, tao sống sót đến đây để về tay không à? Một là tao ôm vàng bước ra, hai là tao nằm lại đây làm thức ăn cho rết!
Dứt lời, bản tính hung bạo tích tụ từ mười mấy năm coi ngục bùng phát. Hổ không thèm dùng xà beng nạy từ từ mà rút phắt con dao găm dài bản cán sừng nai giắt bên hông. Lưỡi dao thép Tây sáng loáng chém vút qua làn sương tím lờ đờ, chém phập vào phần kén phồng to nhất ngay sát gốc đôi kìm sừng.
"Xoẹt!"
Âm thanh phát ra nghe như mũi dao rạch toạc một tấm da trâu thối ngâm nước lâu ngày.
Đôi kìm sừng màu than hồng bỗng giật nảy lên, sau đó rút thụt vào bên trong bóng tối mịt mùng của ruột kén như thể né tránh nhát chém. Vết rách toạc rộng ra hơn ba gang tay. Một luồng khí áp suất nén chặt từ bên trong bung ra, đẩy theo thứ khói màu tím sẫm tanh tưởi quất thẳng vào mặt hai chúng tôi.
Tôi đưa ống tay áo nâu vá chằng vá đụp lên bịt mũi, ho sặc sụa. Con Hằng ở góc tẩm điện nấc nghẹn một tiếng rồi ngã chúi về phía trước, hai tay ôm chặt lấy bụng mà nôn thốc nôn tháo ra toàn nước vàng chua loét. Thằng Bằng vội buông chiếc xẻng chim, nhào tới đỡ lấy vai em gái, gương mặt nó xám ngoét như tro tàn:
- Anh Tứ ơi, đỡ con Hằng với! Khói này... khói này có độc! Cổ họng em rát như phải bỏng rồi!
Thằng Tứ đứng chôn chân bên cạnh vòm cửa đá, tay lăm lăm đoạn gậy gỗ gõ mìn, tròng mắt dại đi vì sợ. Nó không dám bước tới một bước, chỉ lắp bắp:
- Đừng... đừng xé nữa... Tôi lạy các ông... van các ông...
Nhưng Trương Văn Hổ lúc này đã hoàn toàn mất trí. Nhát dao đầu tiên xé toạc lớp vỏ ngoài dường như đã đánh thức toàn bộ cơn điên loạn tích tụ trong lòng gã. Gã dùng cả hai bàn tay trần bám chặt vào mép vết rách bùn đen, gồng hết sức bình sinh xé toạc lớp màng tơ nhầy nhụa sang hai phía.
"Rắc... rào rào..."
Từng mảng bùn khô trộn mật mía vỡ vụn, rơi lả tả xuống mặt bệ đá cẩm thạch. Tôi vội vã giơ ngọn đèn bão sát lại gần để ngăn gã thò tay vào đáy sâu, nhưng cảnh tượng phơi bày dưới ánh lửa khiến cả người tôi lạnh toát từ đỉnh đầu xuống tận gót chân.
Bên trong chiếc kén không hề có cỗ áo quan bằng gỗ ngọc am hay vàng tâm lộng lẫy.
Chẳng có một cỗ quan tài nào cả.
Thứ đầu tiên tuôn trào ra từ miệng kén bị rách toạc là một đống vải vóc bùng nhùng, đen ngòm và mục nát. Dưới ánh đèn vàng le lói, tôi nhận ra đó là những dải vải bào thời Lê, loại lụa tơ tằm dệt hoa văn mây cuốn tinh xảo mà chỉ bậc đại thần tam phẩm trở lên mới được ban tặng khi quy tiên. Thế nhưng những tấm áo bào tráng lệ ấy nay đã mủn ra từng mảnh vụn, ướt sũng thứ nước vàng khè nhờn nhợt, bốc mùi tử khí nồng nặc.
Hổ thọc cả hai tay vào đống vải mục, điên cuồng bới móc:
- Vàng đâu? Đai ngọc đâu? Xương người đâu rồi? Sao toàn giẻ rách thế này?
Gã bốc từng nắm vải mục ném tung tóe ra sàn gạch. Nhưng ngay khi những lớp lụa nát cuối cùng bị kéo bung ra, một thứ khác bên trong lòng kén bắt đầu trào ra như thác lũ.
Đó là những lớp vỏ giáp xác.
Hàng ngàn, hàng vạn cái xác lột khô khốc của loài rết đổ ụp xuống chân bệ đá. Những chiếc vỏ sừng màu nâu sẫm, màu đỏ tía, rỗng ruột và nhẹ bẫng, dài từ nửa gang tay đến cả thước mốt, xếp chồng chất lên nhau tầng tầng lớp lớp. Chúng bị nén chặt bên trong cái kén suốt hàng trăm năm, nay gặp không khí bên ngoài liền vỡ vụn dưới sức nặng của chính mình, phát ra những tiếng lạo xạo ghê người.
Tôi giật phắt cổ áo Trương Văn Hổ, kéo giật gã lùi lại phía sau hai bước:
- Nhìn cho kỹ đi! Hài cốt quan lớn bị ăn sạch từ ba trăm năm trước rồi! Đây là cái ổ lột xác của chúng nó!
Hổ quỳ rạp xuống đống vỏ rết khô, hai bàn tay gã dính đầy thứ dịch nhầy màu đen bốc khói nhè nhẹ. Gã bới tung lớp vỏ giáp xác vụn nát, tìm kiếm một mẩu xương xọ, một chiếc răng vàng hay chí ít là một viên ngọc táng vụn. Nhưng ngón tay gã chỉ chạm vào những lớp vỏ sừng rỗng tuếch, giòn rụm và ráp ngón tay.
Không có hài cốt. Không có hòm đựng đồ tùy táng bằng đồng thau. Ngay cả một đồng tiền trinh bằng kẽm thời Cảnh Hưng hay Hồng Đức cũng không thấy tăm hơi.
Toàn bộ phần lõi của cái kén khổng lồ chỉ là một cái khoang rỗng sâu hoắm, thành khoang được trát nhẵn bóng bằng một lớp sáp màu vàng thẫm như sáp ong, nồng nặc mùi mỡ người phân hủy pha lẫn mùi xạ hương nồng gắt. Dưới đáy khoang, nơi đáng lẽ phải là nơi đặt thi thể vị đại quan triều Lê, chỉ có một lớp bùn đen sâu hoắm nối thẳng xuống lòng đất qua một cái lỗ tròn to bằng chiếc nong phơi lúa.
- Hết rồi... - Lão Điền bò dạt tới gần bệ đá, nhìn vào khoảng trống rỗng bốc khói tím mà thì thào trong tuyệt vọng - Không có lăng tẩm nào ở đây cả. Người ta xây cái hầm mộ này không phải để an táng đại quan Nguyễn Sư... mà là để giam giữ thứ quái thai này dưới mạch đất trung du...
- Lão nói xằng nói bậy! - Hổ gầm lên, vung con dao găm dính đầy bùn nhầy chém mạnh vào không khí - Người làng Yên Sở đời đời truyền tai nhau lăng mộ này chứa cả kho vàng cứu đói! Triều đình nhà Lê chôn vị khai quốc công thần ở đây, sao lại là cái bẫy giam sâu bọ? Mày giấu vàng ở đâu rồi hả Lựu? Có phải mày với thằng Bằng đã tìm ra ngách bí mật từ trước không?
Tôi nhìn thẳng vào đôi mắt vằn đỏ hoang dại của Hổ, lạnh lùng giơ chiếc rựa lên ngang ngực:
- Mày nhìn kỹ cái lỗ dưới đáy kén đi. Mày có giỏi thì nhảy xuống đấy mà mò vàng! Nghề thợ mộc của tao nhìn thớ gỗ thớ đá là biết. Mạch gạch này xây theo lối khóa âm dương triều Lê sơ, vôi trộn mật mía dày ba lớp bên ngoài để ngăn thứ bên trong bò ra sông Đáy. Cả cái gò đất này là nắp đậy của một cái huyệt sâu trăm thước! Chúng ta tự tay đục vỡ phong ấn của người xưa rồi!
Lời tôi nói dường như tạt một gáo nước lạnh vào cơn mê muội của Hổ. Gã buông thõng con dao găm xuống sàn gạch, ngơ ngác nhìn hai bàn tay phủ đầy dịch nhầy và mẩu vụn giáp xác. Đốm hy vọng cuối cùng về những thỏi vàng cứu cả gia đình thoát khỏi nạn đói năm Nhâm Ngọ đã vỡ tan tành thành từng mảnh rác rưởi mục nát.
Không gian trong tẩm điện bỗng chốc rơi vào một sự im ắng ngột ngạt. Ngọn đèn bão trên tay tôi bắt đầu lụi dần do thiếu dưỡng khí, tim đèn đỏ quạch và bốc lên từng sợi khói đen mỏng mảnh. Lớp sương tím dưới mặt đất đã dâng lên ngang đầu gối, lạnh ngắt và bám dính vào da thịt như mỡ trăn.
Thằng Bằng ôm chặt con Hằng đang thiếp đi vì ngạt thở, giọng nó nghẹn lại:
- Anh Lựu ơi... thế bây giờ... anh em mình chết đói ở đây thật à? Không có đường ra... cũng chẳng có hạt gạo nào...
Tôi không trả lời được câu hỏi của thằng em họ. Cổ họng tôi khô khốc, vị đắng ngắt của làn sương tím ngấm dần vào từng tế bào trong cơ thể, khiến hai thái dương giật lên từng cơn buốt nhói. Tôi nhìn quanh gian phòng rộng lớn, nhìn những hoa văn mây cuốn khắc chìm trên các cột đá cẩm thạch đã bị cọ xát mòn vẹt bởi hàng ngàn vết chân đốt. Chúng tôi đã đánh đổi cả tính mạng, đào bới suốt ba đêm ròng rã giữa nạn đói kinh hoàng, để rồi chui tọt vào một cái dạ dày khổng lồ không lối thoát.
Đột nhiên, từ sâu bên trong chiếc lỗ tròn dưới đáy kén, một luồng hơi lạnh thốc ngược lên.
Mùi hôi thối ban nãy bỗng biến mất, thay vào đó là một mùi tanh lợ nồng nặc. Đó là thứ mùi tanh tưởi của bùn ao tù lâu năm trộn lẫn với mùi tanh của máu ươn, tanh đến mức khiến người ta chỉ hít phải một ngụm là dạ dày đã quặn thắt lại từng cơn dữ dội.
"Cộp... cộp... cộp..."
Âm thanh phát ra từ phía dưới lòng đất sâu, ban đầu rời rạc, chậm chạp như tiếng gõ mõ cầm canh của một ngôi chùa hoang. Nhưng chỉ vài nhịp thở sau, âm thanh ấy bắt đầu biến đổi.
"Rào... rào... rạo... rạo..."
Nó không còn là tiếng gõ đơn lẻ nữa. Nó biến thành một chuỗi âm thanh lạo xạo dồn dập, sắc nhọn và ma quái, nghe hệt như hàng ngàn móng tay nhọn hoắt của những kẻ chết oan đang cào xé điên cuồng vào thành gạch nung dưới đáy mồ. Tiếng cào cấu mỗi lúc một dày đặc, mỗi lúc một gần hơn, truyền thẳng qua lớp bệ đá cẩm thạch làm đôi chân tôi tê dại.
- Cái gì thế kia... - Thằng Tứ thét lên, giọng the thé vỡ vụn - Dưới sàn... dưới sàn gạch đang cựa quậy!
Dưới ánh sáng hấp hối của ngọn đèn bão, tôi rọi luồng sáng xuống đống vỏ giáp xác khô khốc đang nằm ngổn ngang dưới chân bệ đá.
Những mảnh vỏ rỗng không hề nằm yên.
Bên dưới lớp vỏ xác lột tầng tầng lớp lớp ấy, lớp bùn đen bắt đầu trồi lên thành từng ụ nhỏ. Hàng ngàn cái chấm đỏ li ti, đỏ rực như những đốm than tàn trong lò gạch giữa đêm đông, bắt đầu nhấp nháy xuyên qua các khe nứt của lớp vỏ mục. Tiếng lạo xạo cào xé không chỉ phát ra từ đáy kén, mà đang dâng lên từ khắp các mạch vữa dưới sàn tẩm điện, dội vào tai chúng tôi như một bản cáo chung lạnh lẽo.