Huyệt Mộ Trăm Chân - Chương 9: Đèn Bão Run Rẩy Trong Khe Gạch
Khối vữa mật mía nặng cả yến từ trần vòm giáng thẳng xuống ngay khi chúng tôi vừa nhoài qua ngách dẫn trắc thất. Tiếng đá nện xuống nền gạch nghe chát…
Nội dung chương
Khối vữa mật mía nặng cả yến từ trần vòm giáng thẳng xuống ngay khi chúng tôi vừa nhoài qua ngách dẫn trắc thất. Tiếng đá nện xuống nền gạch nghe chát chúa như tiếng sét đánh ngang tai. Bằng đi ngay trước tôi, nó bị chấn động của khối vữa hất văng sang một bên mép tường, chiếc xẻng sắt văng ra xa kêu loảng xoảng.
- Anh Lựu... chân em... - Thằng Bằng rên lên, hai tay ôm chặt lấy cẳng chân trái.
Một tảng gạch vồ sắc cạnh rơi trúng bắp chân nó, rạch toạc lớp quần nâu thô ráp. Máu tươi rỉ ra đen sẫm, quyện chặt với bùn nhớt dưới nền huyệt. Con Hằng bị ngã văng ra góc tường đối diện, trán đập vào gờ đá sưng một cục to tướng, lóp ngóp bò lại ôm lấy vai anh trai mà khóc không ra tiếng.
- Đứng dậy! Không được nằm ở đây! - Tôi gầm lên, nhét vội chiếc nón mê che chụp đèn bão vào nách, lao tới xốc nách thằng Bằng.
Mùi bùn thối cùng mùi lưu huỳnh từ tẩm điện phía sau ùa theo ngách đá cuồn cuộn tràn vào. Cơn địa chấn ngầm sâu dưới lòng gò đồi Yên Sở mỗi lúc một dữ dội hơn. Trần mộ rung chuyển bần bật, từng mảng vôi tôi trộn mật mía và cát mịn rơi rào rào xuống đầu, xuống cổ buốt rát.
Trương Văn Hổ đã vọt lên phía trước chừng năm sáu bước. Thấy thằng Bằng ngã, gã cai ngục trốn trại hơi khựng lại, con dao găm trên tay gã vẫn lăm lăm chĩa vào bóng tối mịt mùng của hành lang trắc thất. Đôi mắt trũng sâu hoắm của gã lóe lên tia nhìn gắt gỏng:
- Vứt nó lại! Vướng chân vướng tay thì cả lũ cùng bỏ mạng dưới này!
- Mày câm mồm! - Tôi trừng mắt nhìn gã, hơi thở rít qua kẽ răng - Mày còn dám mở mồm bảo tao bỏ em tao thì tao đập nát cây đèn bão này ra, xem đứa nào sống sót mà mò được đường trong bóng tối!
Hổ cắn chặt quai hàm, cơ mặt giật giật nhưng không dám tiến lại gần chiếc đèn bão duy nhất đang nằm trong tay tôi. Gã hừ một tiếng độc địa rồi quay ngoắt người, gí sát mũi dao vào khoảng tối phía trước để tiếp tục dò đường. Lão Điền run lẩy bẩy bám sát ngay sau gót giày rách của Hổ, hai bàn tay cáu bẩn bấu chặt vào thắt lưng gã cai ngục, đầu lắc lia lịa như kẻ trúng tà.
- Con Hằng, cầm lấy cái cán xẻng của anh mày, bám sát lấy lưng tao! - Tôi giật phăng dải thắt lưng vải gai quấn quanh bụng, buộc chặt quai đèn bão vào cổ tay trái, rồi cúi rạp người xuống - Bằng, ôm chặt lấy cổ tao. Nhanh lên!
Thằng Bằng cắn chặt môi đến bật máu để ghìm tiếng rên xiết. Nó rướn người, dồn hết sức tàn của thân xác hai mươi tám tuổi gầy gò vì đói khát bám vào hai vai tôi. Tôi rùng mình, gồng hết cơ bắp của một gã thợ mộc lực lưỡng, hai bàn tay luồn xuống dưới khoeo chân nó rồi bật dậy.
Sức nặng của một người đàn ông trưởng thành đè trĩu lên lưng khiến cột sống tôi kêu rắc một tiếng khô khốc. Nền đất phù sa trộn bùn đen nhầy nhụa bên dưới làm đôi chân trần của tôi trượt dài một sải, móng chân cái va mạnh vào mép gạch vồ đau buốt thấu tận óc. Tôi cắn răng nuốt ngụm nước bọt mặn chát, dậm mạnh gót chân xuống lớp bùn để lấy lại thăng bằng rồi sải bước đuổi theo bóng lưng của Hổ.
Hai bên tai tôi lùng bùng những tiếng gầm gừ quái đản dội qua các tầng địa chất. Đó là âm thanh của hàng ngàn tấn đất đá đồi gò đang oằn mình ép xuống những khoang rỗng của ngôi mộ cổ thời Lê, trộn lẫn với tiếng cào xé lạo xạo của đàn sâu bọ trăm chân đang sôi sục ngoài tẩm điện.
Hành lang trắc thất bên tả này hẹp hơn rất nhiều so với lối đi chính dẫn vào gian mộ lúc đầu. Lối đi chỉ rộng chừng ba thước, trần cuốn vòm bằng hai lớp gạch vồ xếp nghiêng theo lối vảy cá. Bề mặt gạch ẩm mòn qua bốn trăm năm, rêu mốc đóng thành từng mảng xanh đen nhớp nháp. Mỗi lần tôi thở hắt ra, hơi nước từ miệng phả vào không khí lập tức ngưng tụ thành những hạt sương mờ đục, bám đầy trên mặt kính chắn gió của ngọn đèn bão.
- Chậm... chậm lại chút, anh Lựu... - Bằng phào hơi nóng vào gáy tôi, giọng nó yếu ớt - Thả em xuống đi... Em tự lết được... Anh cõng thế này... sương tím nó đuổi kịp mất...
- Mày im miệng cho tao nhờ! - Tôi nghiến răng gắt khẽ, hai bắp đùi căng cứng run rẩy theo từng nhịp bước - Tao dắt mày từ bờ đê làng Yên Sở vào cái huyệt này thì tao phải vác xác mày về cho thầy u mày trông thấy. Còn sức thì giữ chặt cái nón mê, đừng để gió tạt tắt mất ngọn bấc!
Con Hằng bước thấp bước cao bám sát ngay bên hông tôi. Một tay con bé nắm chặt lấy vạt áo rách của anh trai, tay kia cầm chắc lưỡi xẻng sắt sắc lẹm chỉa về phía sau lưng để đề phòng sương độc. Gương mặt non nớt của cô gái hai mươi tư tuổi lúc này phủ đầy bùn đất và nước mắt, đôi mắt mở to nhìn trừng trừng vào quầng sáng mờ nhạt phía trước. Nạn đói năm Nhâm Ngọ đã cướp đi của nó nửa phần da thịt, biến cánh tay con bé thành những cành củi khô gầy guộc, nhưng bàn tay đang siết lấy vạt áo tôi lại có một sức nắm phi thường của kẻ đang bấu víu vào sự sống.
Hành lang bắt đầu rẽ ngoặt theo hình chữ chi. Đây là lối kiến trúc phong thủy điển hình nhằm ngăn chặn tà khí xông thẳng vào phòng đặt đồ tế khí của các bậc đại thần đầu triều Lê. Cứ đi được khoảng mười bước, vách đá lại gập lại một góc vuông hiểm hóc, tạo thành những góc khuất tối tăm đến nghẹt thở.
Chiếc đèn bão lắc lư theo nhịp chân tôi, hắt những bóng đen dài ngoằng, méo mó lên vách mộ gồ ghề.
Mùi bùn thối ở đây có một sự khác biệt rất lạ lùng so với gian ngoài. Nó không chỉ mang mùi đất sét ngâm nước ngầm hàng thế kỷ, mà còn thoang thoảng mùi tanh nồng của xác động vật chết khô trộn với mùi mật mía cháy khét lẹt. Không khí trong ngách dẫn phụ này đặc quánh lại, mỗi hơi hít vào đều khiến lồng ngực đau nhói như nuốt phải dăm bào gỗ mục.
- Đằng trước có ngã ba! - Tiếng Trương Văn Hổ đột ngột vang lên, gã dừng phắt lại ở một góc ngoặt hình chữ V, lưng tựa chặt vào mép vách gạch.
Tôi cõng thằng Bằng trườn tới, mồ hôi trên trán túa ra như tắm, chảy ròng ròng xuống khóe mắt làm mắt tôi cay xè. Tôi nâng cao tay cầm đèn, lia quầng sáng vàng vọt về phía vách đá trước mặt để soi rõ tình hình.
Trước mặt chúng tôi là một ngã ba đường hầm hình chữ Y. Cả hai nhánh rẽ đều hun hút tối tăm, sâu thăm thẳm không thấy điểm dừng. Nhưng điều khiến sống lưng tôi lạnh toát không phải là ngã rẽ mịt mùng phía trước.
Điều làm tôi kinh hoàng nằm ngay trên những vách gạch thời Lê bao quanh hành lang này.
Bình thường, tường gạch lăng mộ cổ được xây bằng hợp chất mật mía, vôi tôi, nhớt cây bời lời và cát mịn, miết mạch kín khít đến mức mũi kim chọc không lọt để ngăn chặn nước ngầm và kẻ đào trộm. Thế nhưng, toàn bộ các vách gạch dọc theo đoạn hành lang này đều đã bị đục rỗng ruột một cách quái dị.
Từ độ cao ngang thắt lưng người lớn kéo dài lên tận trần vòm, mỗi viên gạch vồ màu xám tro đều bị khoét thủng một lỗ tròn to bằng nắm tay đứa trẻ. Hàng ngàn cái hốc đen ngòm xếp san sát nhau trên vách tường, tạo thành một bề mặt lồi lõm sần sùi hệt như một tổ ong vò vẽ khổng lồ dựng đứng.
- Cái... cái giống gì thế này? - Lão Điền run rẩy chỉ ngón tay khẳng khiu vào một hốc gạch gần nhất, giọng lão méo mó đến mức không còn nhận ra âm sắc bình thường - Lăng mộ quan lớn sao lại đục khoét tường vách ra nông nỗi này? Có phải thợ xây ngày xưa ăn bớt vật liệu không?
- Lão ngu vừa thôi! - Hổ gắt gỏng, gã lấy mũi dao găm chọc thử vào một hốc gạch - Gạch vồ thời Lê nung già đanh, vôi mật miết chắc như đá tảng. Ai rảnh rỗi mà đi khoét từng lỗ thế này để bớt xén vài đấu vôi?
Tôi nuốt khan một ngụm nước bọt, bước sát lại gần vách tường, cẩn thận nhấc ngọn đèn bão soi sát vào một miệng hốc ngang tầm mắt. Thằng Bằng trên lưng tôi cũng nín thở ghé mắt nhìn theo.
Bên trong lòng viên gạch vồ đã bị khoét rỗng một khoảng sâu chừng nửa gang tay. Giữa cái khoang rỗng ấy, một vật thể khô quắt, màu đen ánh tím nằm cuộn tròn bất động.
Đó là xác của một con rết khổng lồ.
Con rết dài chừng một gang tay rưỡi, thân mình to bằng hai ngón tay người lớn, lớp vỏ giáp xác bên ngoài đã khô cong, giòn rụm nhưng vẫn giữ nguyên hình thù vẹn nguyên. Hai mươi mốt cặp chân khẳng khiu cong vút của nó không hề buông thõng, mà cắm ngập vào những khe nứt li ti trong lòng viên gạch, đầu hướng chúc xuống dưới, hai chiếc móc độc khổng lồ phía trước ngoặp chặt vào một cái đinh đồng rỉ xanh đóng ngập giữa tâm hốc.
Tôi giật thót người, vội vàng lia ánh đèn sang các lỗ gạch xung quanh.
Tất cả các hốc gạch khác đều y hệt như vậy.
Hàng trăm, hàng ngàn hốc gạch dọc theo hai bên vách hành lang đều chứa một xác rết khô quắt cắm chặt chân vào gạch nung. Chúng không được xếp đặt một cách lộn xộn. Khi lùi lại một bước và nhìn bao quát cả bức tường, tôi rùng mình nhận ra sự sắp đặt rợn người của những cái xác khô này.
Các hốc gạch được khoét theo từng vòng cung đồng tâm, uốn lượn chằng chịt đan xen vào nhau. Những con rết khô ở hàng ngoài cùng có đầu hướng về phía đông, hàng tiếp theo hướng về phía nam, hàng kế tiếp hướng về phía tây và bắc. Từng cụm tám hốc tạo thành một quẻ bói, các quẻ lại liên kết với nhau bằng những đường rãnh cào mờ nhạt ăn sâu vào lớp vữa vôi mật.
- Bát... Bát quái cửu cung... - Tiếng lão Điền run rẩy thốt lên đằng sau lưng tôi, hai đầu gối lão va vào nhau lộp cộp - Đây là trận đồ Trấn Hồn Ngô Công! Trời đất ơi... Người ta không phải xây mộ để chôn cất người chết... Người ta xây cái mê cung này để nuôi thứ quái vật đó!
- Nuôi cái gì? Lão nói rõ ràng ra xem nào! - Hổ quay phắt lại, túm chặt lấy cổ áo lão Điền gầm lên.
Lão Điền hoảng loạn giãy giụa, mắt lão dán chặt vào những dãy xác rết khô quắt trên tường:
- Sách cổ có ghi... Thời Lê mạt, các quan phong thủy trong triều từng dùng thuật Ngô Công yểm huyệt để bảo vệ long mạch... Họ bắt hàng vạn con rết đỏ từ các vùng núi rừng Thanh Hóa về, đem bỏ đói trong hầm mộ bảy bảy bốn chín ngày. Khi chúng cắn xé ăn thịt lẫn nhau, con sống sót cuối cùng sẽ hóa thành Ngô Công Tinh. Nhưng để giam giữ linh hồn của vạn con rết chết oan, người ta phải khoét rỗng gạch vách, dùng đinh đồng yểm giữ xác khô của chúng theo thế Bát Quái trận đồ để tụ âm khí, nuôi dưỡng cho con chúa lớn lên...
Lời lão Điền nói làm cả bọn chúng tôi chết lặng.
Tôi làm nghề thợ mộc, đóng hàng trăm cỗ áo quan cho người chết ở khắp vùng Hoài Đức, Đan Phượng, từng nghe các cụ đồ già kể về những thuật táng quái đản thời phong kiến loạn lạc. Nhưng tận mắt chứng kiến hàng ngàn cái xác rết khô nằm ngay ngắn trong vách gạch thời Lê thế này, một cảm giác ớn lạnh từ sống lưng chạy dọc lên đỉnh đầu. Ngôi mộ này ngay từ đầu đã là một cái bẫy chết người, được thiết kế tinh vi để giam cầm thứ ma quỷ trăm chân kia dưới lòng đất suốt mấy trăm năm.
- Thế những con rết khô này... nó có sống lại không? - Con Hằng run rẩy hỏi, giọng nó nhỏ như tiếng muỗi kêu, chiếc xẻng sắt trong tay rung bần bật va vào thành gạch.
- Chúng nó chết khô thành than cả mấy trăm năm rồi, sống lại thế nào được! - Hổ gạt phắt đi, cố tỏ ra cứng cỏi nhưng bàn tay cầm dao của gã cũng bắt đầu toát mồ hôi trơn tuột - Cái đáng lo là lối nào thoát ra ngoài đồi gò! Hai ngả này, đi ngả nào?
Gã chỉ mũi dao vào ngã ba trước mặt.
Nhánh bên trái dốc dần xuống dưới, hơi lạnh buốt giá từ lòng đất phả lên từng đợt mang theo mùi tanh nồng của bùn lầy. Nhánh bên phải bằng phẳng hơn, trần vòm cao hơn một chút, mặt gạch khô ráo hơn nhưng lại bốc lên một luồng gió thoang thoảng mùi khét như than củi vừa dập tắt.
- Thầy Điền, bấm quẻ mau! - Hổ trừng mắt gắt - Bên nào là cửa Sinh, bên nào là cửa Tử?
Lão Điền run rẩy đưa bàn tay cáu bẩn lên bấm đốt ngón tay, miệng lẩm bẩm những câu kinh chú lộn xộn. Nhưng lão vừa mới co được ngón tay cái thì một âm thanh kỳ dị bỗng vang lên từ vách tường bên cạnh chúng tôi.
"Rắc..."
Âm thanh rất khẽ, hệt như tiếng một cành củi khô bị giẫm gãy trong đêm thanh vắng.
Tôi lập tức giơ cao ngọn đèn bão, nín thở nhìn chằm chằm vào hốc gạch gần nhất.
Cái xác rết khô quắt cắm đinh đồng trong hốc gạch vừa mới giật nhẹ một cái.
Lớp vỏ giáp xác màu đen tím khô cong của nó khẽ bung ra một mảnh nhỏ, để lộ phần thịt bên trong đã teo quắt thành một dải xơ màu xám tro. Từ trong lỗ thủng trên lưng con rết khô, một làn khói màu tím nhạt li ti bắt đầu xì ra ngoài, cuộn tròn lại thành hình một con sâu nhỏ rồi tan biến vào không khí.
"Rắc... rắc... tách..."
Tiếng lách cách rạn vỡ bắt đầu lan truyền dọc theo vách tường gạch vồ.
Không phải chỉ một hốc gạch. Hàng chục, rồi hàng trăm hốc gạch dọc theo hai bên hành lang trắc thất đều đồng loạt phát ra những tiếng kêu rạn nứt khô khốc. Những chiếc chân rết khô cắm ngập trong kẽ gạch dường như đang bị một lực hút vô hình nào đó kéo giật lại. Đinh đồng gỉ xanh cắm giữa tâm hốc bắt đầu rung rinh, phát ra những tiếng kim loại va đập leng keng nhỏ xíu đầy ma quái.
- Không xong rồi... - Sắc mặt Bằng trên lưng tôi trắng bệch ra - Sương tím từ gian ngoài... nó đang thẩm thấu qua các mạch vữa!
Lời của thằng Bằng vừa dứt, một tiếng hú dài thê lương từ phía sau ngách rẽ dội tới. Luồng gió lạnh cuốn theo làn sương tím sẫm cuồn cuộn tràn qua góc ngoặt hình chữ chi, biến không gian chật hẹp của hành lang thành một lò hun hơi ngập tràn độc khí. Mùi lưu huỳnh nồng nặc xộc thẳng vào mũi khiến lão Điền ho sặc sụa, gập cả người lại nôn khan.
Lũ rết khô trên vách tường khi tiếp xúc với làn sương tím lập tức trương phình lên một cách dị thường. Lớp vỏ giáp xác của chúng bóng nhẫy trở lại như vừa được ngâm qua dầu mỡ, từng cặp chân đốt khô quắt bắt đầu co giật, cào sột soạt vào lòng viên gạch nung.
- Chạy sang nhánh bên phải! - Tôi hét lên, hai tay ôm chặt lấy chân thằng Bằng, guồng chân lao thục mạng về phía nhánh hầm bằng phẳng.
Hổ không đợi tôi nhắc lần thứ hai. Gã như một con thú hoang bị dồn vào chân tường, co cẳng phóng vụt đi trước tiên, bỏ mặc lão Điền lảo đảo chạy theo sau lưng. Con Hằng vừa chạy vừa gạt nước mắt, hai bàn tay nắm chặt lấy vạt áo tôi không dám buông lơi nửa tấc.
Chúng tôi lao vào nhánh hầm bên phải, nhưng càng chạy sâu vào trong, độ dốc của hành lang lại càng thay đổi bất thường. Lối đi bắt đầu ngoằn ngoèo, rẽ nhánh liên tục tạo thành một mê lộ chằng chịt không có biển chỉ dẫn. Đất đá trên trần mộ tiếp tục lở từng mảng lớn, chặn đứng lối đi phía sau chúng tôi bằng những đống đổ nát ngổn ngang.
Sau khi vượt qua một khúc ngoặt hẹp đến mức phải lách nghiêng người, trước mắt chúng tôi đột ngột mở ra một khoảng không gian hình bát giác tối tăm, bốn bề vách gạch đều bị đục rỗng với hàng ngàn cái hốc rết khô đang đồng loạt rung bần bật dưới ánh đèn bão chập chờn.
Và ở giữa căn phòng bát giác ấy, ba ngả đường hầm đen ngòm hun hút mở ra như ba cái miệng vực sâu thẳm, trong khi luồng sương tím chết chóc đã bắt đầu liếm láp mép gạch ngay sau gót chân chúng tôi.