Huyệt Mộ Trăm Chân - Chương 11: Cơn Ác Mộng Ba Trượng
Tôi cắn chặt quai hàm, một tay túm lấy thắt lưng thằng Bằng nhấc bổng nó lên, tay kia kéo giật con Hằng lùi thụt mạng về phía sau. Những chiếc chân đốt…
Nội dung chương
Tôi cắn chặt quai hàm, một tay túm lấy thắt lưng thằng Bằng nhấc bổng nó lên, tay kia kéo giật con Hằng lùi thụt mạng về phía sau. Những chiếc chân đốt khổng lồ trên vòm bùn nhão vừa cào rách một mảng trần thì cả khối đất ướt đổ ụp xuống đúng chỗ chúng tôi vừa ngồi. Mùi hôi thối nồng nặc xộc vào mũi làm tôi nôn thốc nôn tháo.
Chúng tôi bò lê bò càng qua một khe nứt ngổn ngang gạch vỡ, lách qua cái vòm cuốn đã sạt lở một nửa để thoát khỏi ngách cụt. Phía trước mặt, ánh sáng tù mù của gian mộ phụ hiện ra dưới đáy hầm. Lão Điền đang ngồi bệt dưới chân tường hoa cúc, hai tay ôm chặt lấy đầu gối run rẩy. Trương Văn Hổ đứng tựa lưng vào một cột gạch vồ, con dao bầu trong tay gã lăm lăm chĩa ra ngoài khoảng tối, đôi mắt đỏ ngầu như mắt lợn lòi bị dồn vào bẫy.
- Cứu... cứu tao với Lựu ơi! - Lão Điền vừa thấy bóng tôi liền bò lại, giọng méo mó - Tao nghe thấy tiếng cào xé dưới sàn... dưới đất có quỷ!
- Câm họng lại! - Hổ gằn giọng, đá phắt gót giày đinh vào ống chân lão Điền - Mày còn rên rỉ tao rạch họng mày trước!
Tôi đặt thằng Bằng tựa vào một gờ đá xanh trồi lên khỏi mặt sàn. Thằng bé thở dốc, hai con mắt lờ đờ vì mất máu và hơi độc. Con Hằng run rẩy lấy dải yếm ướt lau những vệt bùn đen tanh tưởi dính trên trán anh nó. Tôi nâng chiếc đèn bão lên, lia một vòng quanh gian mộ phụ.
Căn phòng này rộng chừng ba trượng, trần vòm cuốn bằng gạch vồ dày dặn hơn hẳn gian ngoài. Lớp vữa vôi mật mía ở đây chưa bị rễ cây đâm nứt hoàn toàn, nhưng từng mảng rêu mốc xám xịt đã phủ kín các góc tường. Không khí ngột ngạt quánh đặc, bốc lên mùi ẩm mốc của đất lâu năm trộn lẫn thứ mùi tanh lợm giọng.
Và ngự trị ngay chính giữa gian phòng là một cỗ áo quan bằng đá xanh nguyên khối.
Cỗ quan tài dài chừng tám thước, rộng hơn ba thước, kê trên bốn con kê bằng đá tạc hình đầu rùa thô ráp. Khối đá xanh này nặng dễ đến cả tấn, bề mặt xám ngoét đóng một lớp váng ẩm ướt lóng lánh dưới ánh đèn vàng le lói. Trên nắp quan tài có khắc chìm một dòng chữ Hán đã mòn vẹt vì thời gian, nhưng những đường nét gãy gọn của thời Lê sơ vẫn còn nhận ra được. Đây chính là nơi an nghỉ của vị quan lớn Nguyễn Sư.
Hổ bước nhanh tới gần bệ đá, ngực gã phập phồng theo từng cơn thở dốc. Đôi mắt gã dán chặt vào cỗ áo quan đá, lòng tham lam cùng nỗi sợ hãi tột cùng hòa trộn biến gương mặt gã thành một khối thịt giật giật méo mó.
- Quan tài đá... - Hổ nuốt nước bọt đánh ực một cái, chĩa mũi dao về phía nắp đá - Quan lớn thời Lê táng ở đất này chắc chắn phải có ngọc ngậm miệng, vàng lá lót lưng! Lựu, mày có xà beng không? Nậy nó ra!
- Anh điên à? - Tôi quát khẽ, hạ thấp ngọn đèn bão - Cửa hầm chính bị vùi lấp, lối thông hơi chưa thấy đâu. Bây giờ động vào áo quan, kết cấu vòm mộ sụp xuống thì tất cả chôn chung một huyệt!
- Mày mới ngu! - Hổ quay phắt lại, trợn trừng mắt nhìn tôi - Đám quan lại thời xưa chôn cất đều để lại đường thoát cho thợ ngầm, hoặc chí ít cũng có đường dẫn khí dưới đáy huyệt để xác không bị thối rữa! Dưới cỗ đá này rất có thể là lối thoát ra sườn đồi gò! Không cậy nó ra thì ngồi đây chờ sương độc nó hun chết à?
Tôi đứng lặng, nhìn chăm chú vào chân bệ đá. Những năm làm thợ mộc dựng nhà, tôi hiểu rõ quy cách đặt móng và kê cột. Người xưa khi táng đá nặng ngàn cân xuống nền đất gò bao giờ cũng đầm một lớp than củi và vôi bột dày bên dưới để chống lún. Nếu có mạch thông hơi ngầm, nó chỉ có thể nằm dọc theo rãnh thoát nước quanh chân bệ. Nạn đói ngoài kia đang vơ vét từng mạng người làng Yên Sở, nếu cỗ áo quan này có vàng ngọc, đó là con đường sống duy nhất cho gia đình tôi. Nỗi thèm khát miếng ăn và sự sống bóp nghẹt lấy sự thận trọng vốn có của tôi.
- Bằng, mày ngồi yên đấy trông con Hằng. - Tôi dặn với lại, rồi tháo chiếc búa sắt và cây đục đầu bạt dắt bên hông ra - Để tao xem mạch đá.
Tôi cẩn trọng bước từng bước lại gần cỗ áo quan. Lớp gạch lát sàn quanh bệ đá phủ đầy chất nhầy màu nâu đen, dẻo quánh như nhựa trám thuyền. Mỗi bước chân giẫm xuống đều phát ra tiếng dính nhóp nhép ghê tai.
Khi tôi đưa ngọn đèn bão lại sát mép quan tài, một luồng khí lạnh buốt phả thẳng vào mặt.
Nắp cỗ áo quan bằng đá xanh không hề đóng kín. Nó đã bị xê dịch từ bao giờ, lệch sang một bên chừng nửa gang tay, để lộ ra một khe hở đen ngòm hun hút. Vết nứt vỡ nham nhở dọc theo mép đá cho thấy từng có một lực cực lớn tác động từ bên trong đẩy bung lớp vôi mật mía niêm phong nắp áo quan.
Hổ tiến lại sát sườn tôi, hai tay nắm chặt chuôi dao bầu, mắt lom lom nhìn vào khe hở:
- Sao nắp lại hở? Hay có đứa đào trước chúng ta rồi?
- Không có vết xà beng cậy từ ngoài vào. - Tôi miết ngón tay lên mép đá sứt mẻ, chất bột đá mủn ra dưới tay tôi - Đá bị bẻ gãy từ phía dưới hắt lên.
Tôi hít một hơi sâu, nén chặt sự ghê rợn đang trào dâng trong lồng ngực, từ từ nhấc cao ngọn đèn bão soi thẳng qua khe nứt vào lòng cỗ áo quan.
Ngọn lửa vàng đục rọi xuống đáy sâu thăm thẳm của khối đá.
Bên trong cỗ áo quan bằng đá xanh nguyên khối không hề có hài cốt. Không có mảnh xương sọ hoa râm, không có những dải áo gấm liệm mục nát, cũng chẳng có chuỗi hạt ngọc hay thỏi vàng lá nào phát sáng như lời đồn đại.
Chiếm trọn lòng cỗ áo quan là một ụ bùn đen sì, nhơn nhớt và bốc khói mờ ảo.
Ụ bùn ấy quánh đặc, gồ ghề từng múi như một bọc thịt thối khổng lồ bị vứt bỏ hàng trăm năm. Xen lẫn giữa lớp bùn nhờn bóng là hàng ngàn mảnh giáp xác màu nâu tím vỡ vụn, cùng những sợi tơ xám tro đan kết chằng chịt vào nhau thành một tấm màng nhầy nhụa. Giữa đống tơ bùn bầy hầy, một vài mẩu xương người vỡ vụn trồi lên, trắng bệch và nham nhở những vết cắn gặm li ti như bị hàng triệu chiếc răng cưa róc sạch từng thớ tủy.
Vị quan lớn Nguyễn Sư không còn nằm ở đây. Toàn bộ thân xác của ông ta đã bị ăn sạch từ nhiều thế kỷ trước, biến thành thứ phân bùn đen ngòm nuôi dưỡng cái kén quái dị này.
- Mẹ kiếp... vàng bạc đâu? - Hổ gầm lên một tiếng thất thanh, gã thọc mũi dao bầu vào khe đá khoắng mạnh - Vàng của tao đâu? Cả cái lăng mộ to thế này mà chỉ có bùn thối à?
- Đừng chọc vào! - Tôi hét lên, đưa tay túm chặt lấy cổ tay gã giật ngược lại - Trong đó không có đồ táng! Rút tay ra mau!
Mũi dao của Hổ vừa chạm vào khối bùn đen thì một tiếng xì xì sắc nhọn vang lên, tương tự tiếng mỡ lợn sôi trên chảo gang đỏ lửa. Khói màu tím nhạt lập tức bốc lên ngùn ngụt từ chỗ vết cắt trên ụ bùn, mang theo một mùi hôi nồng nặc khiến tôi choáng váng mặt mày, suýt nữa đánh rơi chiếc đèn bão xuống sàn đá.
Đúng lúc đó, bàn chân tôi bỗng cảm nhận được một sự khác lạ rợn người.
Là một người thợ mộc gắn bó cả đời với những thớ gỗ, đòn tay và nền đất lún, tôi cực kỳ nhạy cảm với những dao động ngầm dưới mặt sàn. Đất dưới chân tôi không hề vững chãi. Nó đang chuyển động.
Một chấn động trầm đục, rất khẽ nhưng nhịp nhàng như nhịp tim của một con thú khổng lồ, truyền thẳng từ lớp đá nền qua đế giày vải của tôi. Mặt sàn lát gạch vồ xung quanh bệ đá bắt đầu nghiêng dần về phía trung tâm. Mạch vữa mật mía giữa các viên gạch nứt toác ra từng đường dài ngoằn ngoèo, cát khô và bột vôi rào rào trút xuống những khe hở sâu hun hút.
- Sụt lún... - Tôi run rẩy lẩm bẩm, trực giác nghề nghiệp mách bảo một mối nguy hiểm chết người - Đáy huyệt bị rỗng!
- Mày nói cái gì sụt? - Hổ trừng mắt, vẫn chưa chịu buông tha cỗ quan tài.
- Lùi lại! Tất cả lùi lại ngay lập tức! - Tôi gào lên xé họng, dùng hết sức bình sinh đẩy mạnh Hổ dạt ra phía sau - Sàn sắp sập rồi! Toàn bộ móng cỗ áo quan đã bị khoét rỗng!
Lão Điền nghe tiếng thét thì hốt hoảng chống gậy nhảy lùi ra cửa vách, trong khi con Hằng vội vàng ôm chặt lấy thằng Bằng kéo lê anh nó về phía góc tường kiên cố nhất.
Hổ bị tôi xô ngã ngửa ra nền gạch, gã vừa định lồm cồm bò dậy chửi rủa thì một tiếng "Rắc... ẦM!" vang lên long trời lở đất.
Đáy cỗ áo quan bằng đá xanh nguyên khối nặng cả tấn bất ngờ nứt toác ra làm đôi.
Vết nứt xé toạc thân áo quan từ dưới đáy lên đến tận nắp trên, làm bắn ra hàng vạn mảnh đá vụn sắc nhọn như mảnh bom. Từ vết rạn khổng lồ ấy, ụ bùn đen sôi lên sùng sục, trào ra ngoài mép đá như một dòng nham thạch đen ngòm nhớp nhúa.
Một luồng khí lạnh thấu xương cuốn theo mùi tanh tưởi của xác chết rữa nát thổi bùng lên, quét tắt ngúm đốm lửa le lói trên đầu cây đuốc dầu cắm dở của Hổ bên vách tường. Chiếc đèn bão trong tay tôi chao đảo dữ dội, ánh lửa vàng chực lụi tàn trong luồng gió lốc hung hãn phát ra từ lòng đất.
Giữa đám bùn đen đang cuộn trào dữ dội, hai vật thể thon dài, đỏ rực như hai thanh sắt nung trong lò rèn, đột ngột đâm xuyên qua lớp màng tơ nhện.
Đó là một cặp râu.
Một cặp râu rết dài hơn một trượng, đỏ rực như hai ngọn roi sắt, bề mặt phủ đầy những nốt gai sần sùi lởm chởm. Chúng xé toạc lớp bùn quánh đặc, vươn thẳng lên không trung với một tốc độ kinh hoàng.
"Chát!"
Một ngọn roi sắt quất mạnh vào trần vòm mộ, làm vỡ tung một mảng gạch vồ lớn. Đất đá và vữa mật mía đổ rào rào xuống đầu chúng tôi. Ngọn roi thứ hai lướt qua khoảng không cách đỉnh đầu tôi chưa đầy một gang tay, tạo ra một luồng gió rít buốt lạnh mang theo chất nhầy nhớp nháp bắn tung tóe lên mặt tôi.
Dưới đáy cỗ áo quan vỡ toác, một khối thân hình khổng lồ bọc trong lớp giáp xác đen tím bóng nhẫy bắt đầu trồi lên, phát ra những tiếng cọ xát ken két làm rung chuyển toàn bộ gian mộ cổ.