Huyệt Mộ Trăm Chân - Chương 14: Sương Tím Luồn Qua Mọi Kẽ Đá
Mùi tanh nồng bốc ra từ khe nứt sâu hoắm phía sau hốc đá khiến sống mũi tôi cay xè. Tôi ghé sát ngọn đèn bão che khuất nửa luồng sáng bằng lòng bàn tay,…
Nội dung chương
Mùi tanh nồng bốc ra từ khe nứt sâu hoắm phía sau hốc đá khiến sống mũi tôi cay xè.
Tôi ghé sát ngọn đèn bão che khuất nửa luồng sáng bằng lòng bàn tay, rọi thẳng vào góc tối tăm đang phát ra tiếng thở dốc. Phía sau bức vách đá nứt toác là một khoang phụ nhỏ hẹp, vốn là nơi thợ mộ thời xưa để lại xẻng vồ và những thùng vôi thừa khi xây cuốn vòm. Giữa đống gạch vỡ ngổn ngang, một bóng người gầy trơ xương đang nằm còng queo, cả nửa thân dưới vùi trong lớp bùn nhão nhoét đầy vỏ giáp xác lột vụn.
Đó chính là thầy bói Điền.
Lão chưa chết, nhưng tình cảnh lúc này so với xác chết trôi sông cũng chẳng khác là bao. Bộ áo dài the nâu của lão rách tơi tả thành từng dải, bết chặt vào da thịt tím tái. Hai cẳng chân của lão đã biến thành hai khúc gỗ mục đen ngòm, sưng phù mọng nước. Kinh khủng hơn cả, hàng chục con rết con to bằng ngón tay trỏ đang thi nhau luồn lách qua lớp vải rách, rúc đầu vào các lỗ mụn mủ thâm sì trên bắp chuối của lão để hút máu mủ.
- Bác Điền!
Tôi nghiến răng nén cơn buồn nôn, vội vàng luồn người qua kẽ nứt đá. Thấy tôi trườn tới, đôi mắt hõm sâu đục ngầu của lão Điền giật giật, tròng đen giãn to đến mức gần như choán hết cả lòng trắng. Bàn tay khẳng khiu như cành củi khô của lão run lên bần bật, mười đầu móng tay cào cấu xuống mặt đá nghe ken két.
- Cứu... rút... rút chúng nó ra... - Giọng lão khào khào, nghẹn ứ nơi cuống họng đầy đờm dãi thối rữa.
Tôi rút phắt con dao găm dắt bên hông, dùng sống dao miết mạnh dọc theo bắp chân lão. Lưỡi thép gạt phăng từng búi rết con rơi lả tả xuống nền gạch vỡ. Lũ sâu bọ trúng đòn ngoe nguẩy thân mình định trườn ngược lên tay tôi, nhưng tôi đã nhanh chân giẫm nghiến từng gót giày đinh xuống, nghiền nát đầu từng con một phát ra tiếng "lách tách" giòn rụm. Nước vàng và ruột rết bắn tung tóe lên mặt đá hoa cương, bốc lên mùi hăng nồng như mùi ốc chết phơi nắng.
Bằng lê cái chân bị thương trườn vào sau tôi, con Hằng vừa bám sát theo sau liền vội bịt miệng để ngăn tiếng thét kinh hoàng chực trào ra khỏi lồng ngực. Con bé sụp xuống cạnh tôi, run rẩy lấy vạt áo xé vội từ gấu quần mình đắp lên vết thương hở toang hoác của thầy Điền.
- Thuốc... vô ích thôi... - Thầy Điền thều thào, một bãi máu đen sì ộc ra từ khóe môi nứt nẻ, chảy ròng ròng xuống cằm gầy guộc - Nọc độc... nọc độc đã ăn vào lục phủ ngũ tạng rồi. Ta biết... ta biết ngày này sẽ tới... Trời phạt kẻ bới mả đào mồ...
Tôi nắm chặt lấy bàn tay lạnh ngắt của lão, ghé sát tai vào bờ môi tím bầm:
- Bác Điền, ráng giữ hơi! Con quái vật kia đang lùng sục ngoài ngách sập. Cửa hầm bị lấp kín rồi, chúng ta phải tìm đường sống. Mảnh da dê trên tay bác là cái gì? Bác biết cách khắc chế tà vật này, đúng không?
Bàn tay run rẩy của lão Điền bỗng siết chặt lấy cổ tay tôi với một sức mạnh kỳ lạ cuối cùng của kẻ sắp lìa đời. Lão giơ cao mảnh da dê đã rách nát góc mép, mặt da xỉn màu vàng ệch như mỡ người, bên trên chằng chịt những dòng chữ Nho viết bằng mực son pha máu đã khô đen lại.
- Ta... ta lừa các người... - Khóe mắt lão Điền ứa ra hai giọt lệ đục ngầu lẫn với máu - Ta bảo vào đây tìm ngọc trấn trạch, tìm vàng bạc cống nạp của đại quan triều Lê... nhưng thực ra... dòng họ Hoàng của ta... bốn đời làm thầy địa lý... đều chết vì lời nguyền của ngôi mộ này...
Tôi giật phắt mảnh da dê, đưa lại gần ánh đèn bão le lói.
Bằng nghề thợ mộc từng dựng nhà gỗ lim và đọc các bản vẽ đòn dông, kẻ chuyền bằng chữ Nho cổ, tôi căng mắt nhận diện từng nét vẽ trên mặt da. Đó là một bản đồ giải lăng mộ cực kỳ chi tiết, nhưng các gian huyệt không xếp theo thế phong thủy thông thường mà ba trí như một cỗ lò bát quái khép kín. Ở chính giữa trung tâm là gian mộ chính, nơi cỗ quan tài gỗ lim bị bao bọc bởi hàng ngàn nét gạch chéo tượng trưng cho các tầng đất nện mật mía vôi vữa.
Nhưng điều làm tôi lạnh gáy chính là những dòng chữ son ghi chép bên dưới bức đồ giải.
Lão Điền ho sặc sụa, hơi thở càng lúc càng đứt quãng:
- Nguyễn Sư... đại quan Nguyễn Sư năm xưa... đâu có chết vì tuổi già bệnh tật... Người ta đồn ngài hưởng thọ tám mươi sáu tuổi... toàn là lời dối trá để che mắt thiên hạ... Bốn trăm năm trước, xứ Đoài này xuất hiện một ổ tà trùng... Ngô Công Tinh tác quái, gieo rắc dịch hạch nuốt chửng hàng vạn dân lành...
Tôi nín thở, ngón tay run rẩy chạm vào những vết rách trên mặt da dê:
- Nguyễn Sư đã làm gì?
- Ngài không thể tiêu diệt được mẹ rết... - Lão Điền rít lên từng tiếng qua kẽ răng run rẩy - Lũ rết chúa sống bằng linh khí đất trời, mình đồng da sắt, đao kiếm bổ vào chỉ tóe lửa. Nguyễn Sư bèn dùng thuật táng thi thượng cổ... Ngài uống cạn một bát đan độc, rồi tự tay nuốt sống ấu trùng của rết chúa vào đan điền... Ngài lấy chính thân xác và kinh mạch bằng xương bằng thịt của mình làm chiếc lồng sắt sống, giam hãm chân thân con tà vật...
Một cơn ớn lạnh chạy dọc từ sống lưng lên tận đỉnh đầu tôi.
Cảnh tượng cái kén khổng lồ bện bằng tơ nhện và bùn đen trong gian mộ chính bỗng hiện về rõ mồn một. Thi hài khô quắt của vị đại quan trong quan tài lim không hề bị lũ rết bất ngờ xông vào gặm nhấm. Ngay từ giây phút trút hơi thở cuối cùng, chính ngài đã biến thân mình thành mồi nhử, lấy da thịt để phong bế nguồn cơn tai họa. Cả khu lăng mộ kiên cố với các lớp vữa mật mía dày hàng thước này được dựng lên nhằm một mục đích duy nhất: trở thành một nấm mồ giam cầm vĩnh viễn tà vật cùng vị quan hiến tế.
- Tại sao bác lại dẫn chúng tôi đào vào đây? - Giọng tôi run lên vì căm giận lẫn bàng hoàng - Bác biết rõ dưới này có thứ gì, sao bác còn xúi tôi gom người mở huyệt? Bác kéo cả đám chúng tôi vào chỗ chết này chỉ để gánh tội thay cho tổ tiên bác sao?
Thằng Bằng nghe đến đó thì nghiến răng trèo trẹo, hai mắt đỏ hoe vì uất ức. Nó chống tay nhổm dậy, muốn túm lấy cổ áo lão bói nhưng tôi đã kịp vươn tay gạt nó lại. Giờ phút này, giết chết một kẻ đang thoi thóp cũng chẳng mở được cánh cửa đá ngàn cân phía ngoài.
Lão Điền cười sặc sụa, máu đen trào ra mũi:
- Cụ tổ ta... năm xưa là thầy phong thủy chỉ điểm huyệt mộ này... Cụ ta để lại một lời nguyền trong gia phả: nếu sau bốn trăm năm không có kẻ hậu duệ vào củng cố trận phong ấn, con rết chúa sẽ gặm sạch xương tủy Nguyễn Sư mà thoát ra ngoài, tàn sát cả vùng đồng bằng trung du... Ta già rồi... năm đói này cả nhà ta chết rũ ở bờ mương đầu làng... Ta chẳng còn gì để mất... Ta tưởng... ta tưởng mình có thể dùng tro bùa trấn áp được nó... Ai ngờ... ai ngờ khí số triều Lê đã tận, mạch đất đã biến thành một tổ quái trùng...
Tiếng gầm rít dữ dội từ gian phòng lớn vọng qua khe nứt cắt ngang lời thú tội của lão bói.
Mặt đất dưới chân chúng tôi rung chuyển từng hồi. Con rết chúa dường như đã lùng sục khắp đống đổ nát ở cửa ngách mà không tìm thấy con mồi sống, nó bắt đầu quay trở lại rà soát từng chân tường. Âm thanh hàng trăm chiếc chân giáp xác cào cấu trên nền gạch hoa cương mỗi lúc một dồn dập, rợn người như tiếng hàng vạn mũi kim sắt gõ dồn dập trên mặt mâm đồng.
Hằng sợ hãi nép chặt vào lưng tôi, hai bàn tay con bé run rẩy túm chặt lấy gấu áo tôi:
- Anh Lựu ơi... nó đang quay lại... nó sắp tìm ra chỗ này rồi...
Tôi nắm chặt bả vai lão Điền, lay mạnh thân hình mềm nhũn của lão:
- Nói mau! Mảnh da này ghi điểm yếu của nó ở đâu? Không có con vật nào trên đời này là mình đồng da sắt tuyệt đối cả! Con rết này sợ cái gì?
Ánh mắt lão Điền dại đi, đồng tử bắt đầu co giật kịch liệt. Lão chỉ tay vào hai chữ son mờ nhạt ở góc dưới cùng của tấm bản đồ da dê:
- Hỏa... Bạch Thạch...
- Lửa và đá trắng? - Tôi hỏi dồn, trán túa mồ hôi hột.
- Vôi... vôi sống... - Tiếng lão Điền rít lên yếu ớt như tiếng gió lùa qua ống nứa nứt - Loài ngô công sống trong hàn ẩm hàng trăm năm... cơ thể chúng bọc giáp xác cứng hơn thép... nhưng bên trong các khớp nối đốt thân... là chất nhờn cực âm... Chúng kỵ nhất... kỵ nhất hỏa thiêu nung đỏ... và kỵ vôi sống gặp nước... Vôi sống sôi lên... sẽ hút sạch chất nhờn... làm giòn vụn vỏ giáp...
Lão Điền giật mạnh người lên một cái, cả cơ thể lão uốn cong như một cánh cung. Lũ rết con bị động bỗng từ dưới lớp bùn nhão lại bò trườn lên, cắn xé những mảng da thịt cuối cùng trên ngực lão. Lão mở trừng hai mắt, nhìn thẳng vào mặt tôi, hơi thở đứt đoạn từng hồi:
- Đừng... đừng để nó... thoát ra ngoài... Nạn đói ngoài kia... đã đủ chết chóc rồi... Nếu để nó lên mặt đất... xứ Đoài này... thành đất chết...
Bàn tay gầy guộc của lão Điền buông thõng xuống nền bùn, đập vào một mảnh ngói vỡ vang lên một tiếng "cộp" khô khốc.
Hai mắt lão vẫn mở trừng trừng nhìn trần đá hoa cương, nơi những giọt nước ngầm lạnh ngắt đang nhỏ tí tách xuống trán lão. Thầy bói Hoàng Văn Điền đã trút hơi thở cuối cùng, mang theo toàn bộ gánh nặng tội lỗi của một dòng họ địa lý chôn vùi dưới lòng đất sâu.
Tôi cắn chặt môi, vươn tay vuốt cho hai mi mắt lão khép lại.
Không gian trong khoang phụ hẹp rơi vào một sự im lặng chết chóc, chỉ còn tiếng thở dồn dập của ba chúng tôi và tiếng đất cát lả tả rơi từ trên đỉnh đầu xuống. Tôi nhặt mảnh da dê dính máu lên, cẩn thận gấp nhỏ lại rồi nhét sâu vào túi áo ngực, nơi có hơi ấm của lồng ngực mình sưởi ấm.
- Anh Lựu... - Thằng Bằng run rẩy lên tiếng, giọng nó vỡ ra vì sợ hãi lẫn tuyệt vọng - Chúng ta làm gì có vôi sống? Đèn bão cũng sắp cạn dầu rồi... Chúng ta lấy gì mà chọi với con quái vật dài ba trượng ngoài kia?
Tôi không trả lời nó ngay.
Là một người thợ mộc sinh ra và lớn lên ở đất Yên Sở, đôi bàn tay tôi đã từng đục đẽo hàng trăm vì kèo, ráp mộng cho không biết bao nhiêu ngôi nhà cổ vùng trung du. Tôi quá hiểu tính chất của từng loại vật liệu mà người xưa dùng để xây cất. Khi nhìn quanh khoang phụ này, mắt tôi dừng lại ở những đống bột trắng xám đóng tảng ở góc hầm, bên cạnh những chiếc xẻng sắt đã rỉ sét mục nát của cánh thợ mộ thời Lê.
Tôi quỳ xuống, dùng mũi dao găm cạo mạnh vào một khối bột xám.
Lớp vỏ ngoài mốc meo nứt ra, để lộ lớp bột trắng ngà khô khốc bên trong. Tôi đưa đầu ngón tay nhúng vào một giọt nước đọng trên vách đá rồi chấm nhẹ vào lớp bột trắng. Đầu ngón tay tôi lập tức nóng ran lên, sủi bọt lăn tăn.
Đây chính là vôi củ nguyên chất.
Thợ xây lăng mộ ngày xưa luôn chuẩn bị sẵn những hộc vôi sống để trộn với mật mía và giấy bản làm vữa trám các kẽ đá cơ mật. Trải qua bốn trăm năm trong khoang hầm kín gió, lớp ngoài cùng đã bị vôi hóa do hơi ẩm, nhưng ruột bên trong của những tảng vôi này vẫn còn nguyên tính chất háo nước cực mạnh.
Tôi quay ngoắt lại nhìn Bằng và Hằng, ánh mắt tôi rực lên một tia sáng lạnh lùng kiên quyết:
- Bác Điền chết rồi, nhưng lão không chết vô ích. Lão đã để lại cho chúng ta một con đường sống.
- Bằng cách nào hả anh? - Hằng sụt sùi, hai bàn tay con bé vẫn ghì chặt lấy vết thương của anh trai nó.
- Chúng ta không cần phải dùng sức trâu đao kiếm để đâm thủng lớp vỏ giáp của nó - Tôi hạ giọng thật thấp, chỉ đủ cho hai đứa nghe thấy - Lăng mộ này được xây theo lối vòm cuốn chịu lực. Những viên gạch vồ xếp nghiêng tựa vào nhau nhờ các then khóa đá ở đỉnh vòm. Nếu phá hủy then khóa, cả ngàn cân đất đá bên trên sẽ đổ ụp xuống. Chúng ta sẽ biến gian phòng mộ này thành một cái lò nung vôi khổng lồ để chôn sống con súc sinh đó.
Tôi ngước mắt nhìn lên cấu trúc trần vách đá của hốc phụ nối liền với gian mộ chính.
Một kế hoạch táo bạo mang đậm bản năng của một người thợ làm nhà gỗ bắt đầu thành hình rõ nét trong đầu tôi. Từng khớp mộng, từng điểm chịu lực của trần mộ, từng tải trọng của các phiến đá hoa cương... tất cả đều hiện ra như một bản vẽ mộc dưới ánh đèn bão lù mù.
Ở gian ngoài, tiếng chân rết cào sàn đã ngừng bặt.
Một luồng hơi lạnh tanh tưởi bất ngờ ùa qua khe nứt, mang theo một làn khói mỏng màu tím sẫm từ từ cuộn vào đáy hốc đá. Con rết chúa đã ngửi thấy mùi máu tươi của xác thầy bói Điền. Chiếc đầu đen trĩu nặng với cặp càng kìm khổng lồ bắt đầu thò vào miệng khe, từng đốt thân đồ sộ ép mạnh vào vách đá khiến cả bức tường rạn nứt phát ra những tiếng răng rắc rợn người.
Tôi giơ cao cây đèn bão, ngọn lửa vàng bên trong chao đảo dữ dội khi luồng khí độc ập tới. Giọt dầu cuối cùng dưới đáy bầu kính chỉ còn đủ sức duy trì sinh mệnh của ngọn lửa thêm một khoảng thời gian ngắn ngủi nữa.
- Chuẩn bị dao và gạch - Tôi nghiến răng thì thầm với Bằng, ngón tay siết chặt lấy cán chuôi thép - Sống hay chết, tất cả nằm ở nhát búa hạ then trần này.