Huyệt Mộ Trăm Chân - Chương 15: Lối Ra Bị Sập Hoàn Toàn
Mùi bấc cháy khét lẹt xộc thẳng vào cuống họng tôi cay xè. Dưới đáy bầu thủy tinh nứt toác của cây đèn bão, vệt dầu hỏa cuối cùng đã rút cạn, vo tròn lại…
Nội dung chương
Mùi bấc cháy khét lẹt xộc thẳng vào cuống họng tôi cay xè.
Dưới đáy bầu thủy tinh nứt toác của cây đèn bão, vệt dầu hỏa cuối cùng đã rút cạn, vo tròn lại thành một váng mỏng dính sát đáy sắt tây rỉ sét. Sợi bấc bông tưa xơ xác bắt đầu đỏ quạnh lên như cục than con, ngọn lửa vàng vọt co giật từng chập, hắt những cái bóng dài ngoằng, méo mó của ba chúng tôi lên vách gạch ẩm mốc.
Thằng Bằng ngồi bệt dưới chân tường đá, hai mắt dại đi. Bàn chân bị trúng nọc rết của nó đã sưng phù lên đến tận đầu gối, da căng bóng như da ếch ngâm nước, rỉ ra những giọt nước vàng tanh tưởi. Nó buông rơi thanh xà beng sắt xuống đống bùn đen, hai bờ môi thâm tím run rẩy bần bật:
- Anh Lựu... Em chịu thôi. Đèn sắp tắt rồi... Trời phạt cả lũ đào mả ăn trộm rồi. Bỏ đi anh... để cho nó cắn chết quách một thể...
Lời buông xuôi thốt ra làm con Hằng ngồi bên cạnh òa khóc nấc lên. Tiếng khóc của con bé nghẹn lại nơi cuống họng, đục ngầu tuyệt vọng giữa bốn bề vách mộ lạnh ngắt.
Tôi bước tới hai bước, vung cánh tay trái còn lành lặn tát thẳng một phát nảy lửa vào má thằng Bằng.
Tiếng tát vang lên đanh gọn giữa lòng hốc đá. Đầu thằng Bằng ngoẹo sang một bên, nước dãi rỉ ra nơi khóe miệng hòa lẫn bụi gạch. Con Hằng giật nảy mình, nhào tới ôm lấy vai anh trai nó, ngước đôi mắt đỏ hoe nhìn tôi đầy khiếp hãi.
- Mày muốn chết thì tự cắn lưỡi mà chết trước đi - Tôi nghiến răng, gằn từng tiếng rít qua kẽ chân răng - Mày chết rồi tao vứt xác mày lại cho lũ rết rỉa xương. Nhưng chừng nào tao còn thở, tao cấm mày há mồm nói gở. Ngoài kia mẹ mày đang chờ mày đem gạo về sống qua cái nạn đói này, mày nhớ chưa hả thằng hèn?
Ánh mắt đờ đẫn của thằng Bằng dần dần tụ lại một tia thần sắc. Nó lấy mu bàn tay quệt vết máu tứa ra ở môi, cắn chặt răng cúi gằm mặt xuống. Cơn đau thể xác cùng cái tát rát bỏng đã kéo phần hồn đang bay tán loạn của nó quay trở lại lồng ngực.
Tôi quay ngoắt người, nâng cây đèn bão đang thoi thóp lên ngang tầm mắt, hướng ngọn lửa le lói soi thẳng vào vòm trần của gian phòng phụ.
Ba mươi tám năm làm thợ mộc đất Yên Sở, tôi đã dựng hàng trăm căn nhà ba gian hai chái, lắp mộng xà cho bao nhiêu ngôi đình, ngôi miếu cổ quanh vùng Hoài Đức. Đôi mắt và ngón tay tôi quen thuộc từng đường gân thớ gỗ, từng tải trọng phân bổ trên các vì kèo chịu lực. Gian mộ cổ thời Lê này dù được xây bằng gạch vồ và đá hoa cương, nhưng quy luật chịu lực của kiến trúc cổ thì đời nào cũng tuân theo cùng một nguyên lý cân bằng trời đất.
Vòm trần của gian phòng phụ không xây bằng phẳng mà uốn cong theo hình mai rùa, tạo thành một vòm cuốn kiên cố. Từng hàng gạch vồ dày cộm được xếp nghiêng theo hình nan quạt, khóa chặt vào nhau bằng một hợp chất vôi hàu trộn mật mía và giấy bản. Toàn bộ sức nặng hàng nghìn cân đất đá của quả đồi bên trên đều dồn hết vào phiến đá hoa cương lớn nằm ngang chính giữa đỉnh vòm.
Đó chính là viên đá then khóa.
Chỉ cần phiến đá then khóa ấy còn nguyên vẹn, gian phòng này có thể chịu được sức ép của cả trái núi bên trên suốt bốn trăm năm.
Tôi vươn tay quệt lớp rêu phong bám trên mặt đá đỉnh vòm. Đầu ngón tay tôi sờ thấy một rãnh nứt sâu hoắm chạy dài từ phiến đá then khóa sang tận mộng vách gạch bên trái. Đó là vết nứt do cú chuyển mình dữ dội của đất đá khi lối cửa ngách bên ngoài bị sập cách đây ít lâu. Hợp chất vữa mật mía ở khe nứt này đã vỡ vụn thành bột xám, để lộ ra khoảng hở sắc nhọn đủ nhét vừa một lưỡi dao.
Con rết chúa dài ba trượng ngoài kia sở dĩ chưa phá toang được hốc đá này là vì nó quá đồ sộ. Nó không thể chui tọt cả thân mình vào khe nứt hẹp, mà chỉ có thể dùng giáp xác va đập để nới rộng miệng hang từng chút một.
Tôi hạ cây đèn xuống, bước nhanh đến góc hầm nơi chứa những bao tải vôi sống đã mục nát mà thợ mộ thời Lê bỏ lại. Tôi rút mũi dao găm cắm phập vào tảng vôi, bẩy ra từng mảng trắng ngà nồng nặc mùi hôi háo nước.
- Bằng, ngồi dậy. Hằng, ra đây với anh - Tôi hạ giọng chỉ huy, từng câu phát ra dứt khoát - Chúng ta không đấu sức với con quái vật bọc giáp đó. Chúng ta sẽ chôn sống nó.
- Chôn sống bằng cách nào hả anh? - Con Hằng gạt nước mắt, bò lại gần tôi.
- Vòm trần này đang nứt ở viên đá then khóa - Tôi chỉ tay lên điểm giao nhau của các hàng gạch nghiêng - Tảng đá này đang ghìm toàn bộ khối đất đá của gian mộ chính lẫn khoang phụ. Nó đã rạn một nửa. Nếu con quái vật thò đầu vào hốc này, tao sẽ bẩy bung viên then khóa. Cả vòm đá hoa cương sẽ đổ ụp xuống đè nát đầu nó.
Thằng Bằng ngẩng đầu lên, vẻ mặt kinh ngạc:
- Nhưng nếu trần sập... chúng ta cũng bị chôn sống theo nó sao?
- Phía sau lưng xác bác Điền có một gờ đá âm tạo thành hình hàm ếch - Tôi chỉ tay về góc kẹt hẹp nhất sâu trong bóng tối. Chỗ đó kê bằng đá tảng nguyên khối, trần vòm sập xuống sẽ bị gờ đá đó đội lại. Tạo thành một khoảng trống vừa đủ cho ba người chui rúc. Nhưng trước khi trần sập, chúng ta phải giữ chân nó lại ngay dưới điểm rơi của tảng then khóa.
Tôi chỉ vào những đống bột vôi sống:
- Lấy hết xẻng sắt, xúc vôi sống thành một gò cao chắn ngang miệng hốc đá dẫn ra gian mộ chính. Hằng, mày lấy bầu nước còn lại rưới đều xung quanh gò vôi, nhưng cấm rưới lên đỉnh. Đợi khi đầu con quái vật trườn qua gò vôi, chất độc và dịch nhờn từ bụng nó tứa ra sẽ làm vôi sống sôi sùng sục. Vôi sôi ở nhiệt độ thiêu đốt da thịt sẽ làm mù mắt và giáp mỏng ở các đốt bụng của nó, khiến nó quằn quại kẹt cứng lại ngay dưới điểm rơi.
Thằng Bằng không còn kêu rên nữa. Bản năng sinh tồn trỗi dậy đánh bạt cơn sốt đang hành hạ cơ thể nó. Thằng em họ tôi gượng đứng dậy bằng một chân, vớ lấy lưỡi xẻng sắt cùn rỉ sét, cắm cúi xúc từng xẻng bột vôi sống đổ dồn về phía cửa hốc. Con Hằng thoăn thoắt gom những hòn đá vỡ xếp thành một bờ lũy thấp để chặn bột vôi không bị trôi ngược vào bên trong.
Bột vôi khô bốc lên mịt mù, lẫn vào không khí ngột ngạt làm cổ họng chúng tôi khô khốc, nóng ran như phải bỏng. Từng giọt mồ hôi chảy ròng ròng trên trán tôi rớt xuống bột vôi liền xèo lên một tiếng khẽ khàng rồi biến mất.
Tôi cầm thanh đòn bẩy sắt đã cong queo của cai ngục Trương Văn Hổ để lại, trèo lên bờ tường gạch vồ rạn nứt.
Bàn tay thợ mộc của tôi cẩn thận rà từng tấc đá trên đỉnh vòm. Tôi tìm thấy đúng điểm mấu chốt, nơi viên đá then khóa tì lực lên mép dầm ngang. Tôi luồn mũi sắt dẹt của thanh đòn vào kẽ nứt sâu nhất, dùng một hòn gạch vồ chắc chắn chêm chặt vào gờ đá bên dưới làm điểm tựa chịu lực.
Chỉ cần một lực bẩy dồn dập vào đúng góc nghiêng này, toàn bộ thế cân bằng của vòm mai rùa sẽ vỡ vụn. Ngàn cân đất đá sẽ tuôn trào như thác lũ.
Cây đèn bão đặt trên mỏm đá dưới chân tôi bỗng run rẩy.
Bấc đèn cháy lẹt xẹt. Ngọn lửa vàng rút nhỏ lại chỉ còn bằng đầu tăm hương, tỏa ra một làn khói đen kịt mùi dầu khét. Đáy kính đèn rung lên bần bật theo từng nhịp chấn động truyền từ nền đá hoa cương gian ngoài vào.
Con rết chúa đang bò lại gần.
Tiếng chân rết bằng chất sừng cứng ngắc cào xé trên nền bùn khô ken két, mỗi lúc một dồn dập. Một mùi tanh tưởi của xác thối rữa hòa lẫn mùi tanh nồng của chất độc lùa thốc qua kẽ hở hẹp của hốc đá.
Bằng và Hằng lập tức lùi sâu vào góc hàm ếch, nép sát sau cái xác đã lạnh ngắt của thầy bói Điền. Thằng Bằng ghì chặt cán dao găm, hai mắt mở trừng trừng dán vào miệng hốc gạch. Hằng run rẩy bấu chặt lấy vạt áo tôi từ phía sau.
Tôi đứng trên gờ đá cao, một tay nắm chặt lấy thân đòn bẩy sắt đang rung lên theo nhịp va đập bên ngoài, tay kia với lấy cây đèn bão.
Bấc đèn giật giật ba cái liên tiếp.
Một tia tàn lửa đỏ au bùng lên lần cuối cùng rồi lịm hẳn.
Bóng tối dày đặc như mực tàu ụp xuống giam hãm trọn vẹn ba con người dưới đáy huyệt mộ sâu trăm thước.
Mọi vật xung quanh hoàn toàn biến mất. Không còn nhìn thấy bàn tay mình, không còn nhìn thấy bức tường gạch vồ hay thi thể của lão Điền. Thứ còn sót lại trong không gian chỉ là tiếng thở dồn dập, đứt quãng của ba lồng ngực đang bị đè nén đến nghẹt thở, và tiếng tim đập thình thịch như tiếng trống trận dộng thẳng vào màng nhĩ.
Tiếng cào cấu bên ngoài bỗng nhiên im bặt.
Sự tĩnh lặng rợn người bao trùm lấy khoang hầm, một sự im lặng chết chóc báo hiệu cơn bão tanh máu sắp sửa bùng nổ. Tôi nín thở, ngón tay bấu chặt vào thanh sắt lạnh ngắt, chuẩn bị tinh thần đón nhận cú va chạm đầu tiên của con tà vật vào bờ lũy vôi sống dưới chân.
Nhưng bên dưới miệng hốc đá, không hề có tiếng đất cát xao động.
Từ những khe nứt li ti trên vách gạch vồ, một làn sương mỏng màu tím sẫm bắt đầu luồn lách chui vào. Thứ sương độc này không mang theo hơi ẩm của bùn đất, mà bốc ra hơi lạnh buốt thấu xương tủy.
Khi làn sương tím chạm vào lớp bụi vôi sống trôi nổi trong không khí tăm tối, một hiện tượng ma quái bất ngờ xảy ra.
Những hạt lân tinh màu xanh lét lạnh lẽo từ lớp sương tím bắt đầu phát sáng. Lân tinh lập lòe trôi nổi lơ lửng, cháy âm ỉ không tỏa nhiệt nhưng hắt ra thứ ánh sáng xanh xao, ma quái soi rọi từng ngóc ngách của gian phòng phụ. Ánh sáng lân tinh quét qua mặt nước bùn tanh tưởi, quét qua khuôn mặt trắng bệch không còn giọt máu của thằng Bằng và con Hằng.
Và ánh sáng ấy hắt thẳng lên trần vòm đá hoa cương ngay trên đỉnh đầu chúng tôi.
Máu trong huyết quản tôi như đông cứng lại thành băng đá.
Con rết chúa không hề bò dưới nền bùn.
Toàn bộ thân hình khổng lồ dài ba trượng của nó đã âm thầm luồn qua khe nứt trên đỉnh vòm tự bao giờ, đang cuộn tròn bám chặt lấy toàn bộ vòm trần mai rùa. Hàng trăm cặp chân sắt nhọn hoắt như những lưỡi câu liêm cắm ngập vào từng kẽ gạch vồ, treo ngược cả khối thân hình bọc giáp đen trĩu nặng lơ lửng ngay sát sạt bên trên đầu tôi, chỉ cách đỉnh tóc chưa đầy hai gang tay.
Cặp mắt kép đỏ ngầu như hai hòn than cháy của con quái vật từ từ hạ xuống, chĩa thẳng vào mắt tôi giữa quầng sáng lân tinh xanh lét.