Huyệt Mộ Trăm Chân - Chương 20: Bình Minh Ló Rạng Ngoài Cửa Hầm Mộ
Lớp cỏ gianh ướt đẫm sương sớm cọ vào gò má tôi, đem lại cảm giác nhồn nhột và buốt lạnh của cõi sống. Tôi nằm ngửa giữa khoảng đất trống trên đỉnh đồi…
Nội dung chương
Lớp cỏ gianh ướt đẫm sương sớm cọ vào gò má tôi, đem lại cảm giác nhồn nhột và buốt lạnh của cõi sống.
Tôi nằm ngửa giữa khoảng đất trống trên đỉnh đồi Yên Sở, mắt trừng trừng nhìn những dải mây màu lam nhạt đang trôi chầm chậm qua nền trời rạng đông. Buồng phổi tôi co thắt từng cơn dữ dội, tống ra những ngụm đờm đen ngòm quánh đặc mùi vôi chết và lưu huỳnh khét lẹt. Mỗi lần hít vào, lồng ngực tôi lại ran rát như có ai cầm nắm xỉ than cọ xát vào khí quản, nhắc nhở rằng tôi vừa bò lên từ đáy mồ sâu ba trượng.
Bên cạnh tôi, tiếng con Hằng nấc nghẹn từng chặp lẫn vào tiếng gió sớm rít qua các bụi dứa dại. Con bé ngồi sụp dưới gốc một cây ổi cằn, hai bàn tay rướm máu bấu chặt lấy vạt áo rách tơi tả, đầu tóc bù xù bết dính bùn đen và tro xám. Mặt nó trắng bệch, đôi mắt thẫn thờ nhìn chăm chú vào khoảng không vô định, cả người run bần bật theo từng nhịp thở yếu ớt của thằng Bằng nằm gối đầu trên đùi nó.
Tôi chống hai khuỷu tay xuống nền đất sỏi, cắn răng gượng ngồi dậy. Đốt sống lưng tôi kêu rôm rốp sau một đêm dài bị va đập và gồng gánh. Cánh tay phải của tôi sưng húp, tím tái từ cổ tay ngược lên tận nách, nơi những vết chân rết cào cấu và nanh độc ghim vào thịt da đêm qua đang mưng mủ, bốc lên mùi hăng hắc khó chịu. Tôi quệt tay áo lau vệt máu khô đóng vảy nơi khóe miệng, rồi lê từng bước nặng nề về phía hai đứa em.
- Bằng... mày nghe anh gọi không, Bằng?
Tôi quỳ xuống lớp đất đỏ, chìa bàn tay run rẩy đặt lên ngực thằng em họ.
Dưới lớp da xám xịt bám đầy bồ hóng, tim nó vẫn đập, dẫu từng nhịp đập chậm chạp và rời rạc như tiếng chày nện đất xa xa. Một bên chân của thằng Bằng bị đá rơi trúng lúc thoát khỏi trắc thất, ống xương cẳng chân cong lệch đi một góc dị thường, máu rỉ qua lớp vải quần đen đã rách bươm thành từng mảng thâm sì. Miệng nó hé mở, đôi môi nứt nẻ lẩm bẩm những tiếng mê sảng không rõ lời, thỉnh thoảng giật nảy mình lên như thể móng vuốt của bầy rết con vẫn đang bò ngoe nguẩy dưới lưng áo.
- Nó sốt cao lắm anh Lựu ơi... - Con Hằng run rẩy thốt lên, giọng nó khản đặc như tiếng cưa xẻ gỗ mục. - Người nó nóng như hòn than, mà chân tay thì lạnh ngắt... Có khi nào nọc độc ăn vào tim rồi không anh?
Tôi lấy ngón tay cái ấn mạnh vào huyệt nhân trung của thằng Bằng, ép nó nuốt một ngụm nước bọt.
- Chưa chết được. Thằng này mạng lớn, đã qua khỏi cái miệng giếng kia thì Diêm Vương chưa bắt được nó. Mày xé thêm vạt áo gấu quần, buộc chặt lấy phần đùi nó lại, ngăn máu độc chạy ngược lên bụng.
Con Hằng luống cuống vâng lời, dùng hàm răng cắn rách vạt áo bà ba nâu đã tả tơi của mình thành từng dải dài. Những ngón tay đầy vết xước của con bé run rẩy quấn chặt lấy bắp chân thằng Bằng. Nhìn những vết thương chằng chịt rỉ máu trên thân thể hai đứa, cổ họng tôi nghẹn ứ lại một vị đắng chát.
Đoàn người sáu mạng bước xuống nấm mồ cổ đêm rằm tháng Bảy, giờ ngước nhìn ánh mặt trời chỉ còn ba cái bóng tàn tạ nằm vất vưởng trên đồi hoang.
Tôi quay đầu, đưa mắt nhìn về phía sau lưng.
Nơi chúng tôi vừa trồi lên là một cái phễu đất sâu hun hút, nằm khuất sau những rặng tre gai rậm rạp của dải đồi gò Yên Sở. Miệng hầm mộ nứt toác thành những khe rãnh nham nhở, để lộ ra những mảng đất sét màu xám chì bị nhiệt độ cao hun khét lẹt.
Bất thần, mặt đất dưới chân chúng tôi rung chuyển nhẹ một đợt.
Một chuỗi âm thanh ầm ầm trầm đục từ sâu trong lòng đồi vọng ngược lên, tựa như tiếng sấm nổ ngầm dưới chín tầng địa ngục. Tôi vội vàng túm lấy nách áo con Hằng, lôi cả nó lẫn thân hình thằng Bằng lùi xa ra thêm vài thước về phía một mỏm đá ong mọc trồi lên mặt đất.
Ngay trước mắt chúng tôi, vòm đất đồi trên nóc gian mộ chính bắt đầu sụp lún.
Hàng tấn đất đá, rễ cây cùng những phiến đá vôi kiên cố bị nứt gãy sụp đổ liên hoàn xuống đáy huyệt. Lớp vữa tam hợp mật mía vôi hà dẫu bền vững suốt mấy trăm năm qua triều Lê, sau trận hỏa hoạn và sức ép của khối đá hoa cương gãy gập, rốt cuộc cũng vỡ vụn ra từng mảng lớn. Cả quả đồi nhỏ như bị một bàn tay vô hình rút ruột, sụt sâu xuống tạo thành một cái hố khổng lồ rộng hơn chục sải tay.
Bụi vôi trắng cùng tro tàn đen ngòm bốc bốc lên nghi ngút từ miệng hố sụt, che khuất tầm nhìn trong chốc lát rồi bị gió ban mai cuốn thốc lên không trung, rải rác khắp các sườn đồi hoang vắng.
Gian mộ chính, trắc thất, những vò rượu tẩm hương liệu, những xà lim ngục thất dưới lòng đất và xác của con Ngô Công Tinh ba trượng đều bị chôn vùi vĩnh viễn dưới hàng ngàn khối đất đá nặng nề. Cùng với chúng, thân xác của lão Điền thầy bói, của thằng Tứ lính canh và của tên cai ngục Trương Văn Hổ cũng vĩnh viễn nằm lại trong bóng tối ngàn thu, không một nén nhang đưa tiễn, không một tấm bia đề tên.
Họ đã bỏ mạng vì một ảo mộng đổi đời giữa năm đói, để rồi cuối cùng xương thịt tan biến vào tàn tro của nấm mồ hoang.
Tôi ngồi phệt xuống phiến đá ong gồ ghề, hai bàn tay buông thõng giữa hai đầu gối.
Cơn gió thu thổi qua đồi mang theo hơi lạnh ngai ngái, nhưng không tài nào xua đi được mùi thịt cháy lợm giọng vẫn còn bám chặt vào chân lông kẽ tóc tôi. Tôi nhìn xuống hai bàn tay trống trơn của mình. Mười đầu ngón tay dính đầy bùn đất và vệt máu khô đen kịt, móng tay gãy vụn tứa máu tươi. Không có một hạt vàng, không có một đồng bạc trắng, không có một món đồ tùy táng giá trị nào được mang ra khỏi cửa tử.
Chúng tôi đã liều mạng bán linh hồn cho cõi âm, dẫm đạp lên xương người chết để tìm một con đường sống thoát khỏi nạn đói năm 1942, nhưng đổi lại chỉ có nỗi kinh hoàng tột cùng và những vết thương rách nát trên da thịt.
Dưới chân đồi Yên Sở, con đường đất đỏ dẫn về phía phủ Hoài Đức trải dài tít tắp giữa những cánh đồng lúa xơ xác, khô cằn vì hạn hán và sâu bệnh.
Xa xa nơi bìa làng, vài bóng người đói rách như những bộ xương di động đang lê lết từng bước chậm chạp dọc theo triền đê sông Đáy, tay cầm những chiếc rổ rách tìm kiếm cọng rau má hay củ chuối rừng sót lại. Tiếng quạ kêu tao tác trên những ngọn đa cổ thụ ven đường báo hiệu một ngày mới lại bắt đầu, một ngày dài đằng đẵng của cơn đói khát, của những thây ma nằm rải rác bên vệ đường trong cái năm Nhâm Ngọ nghiệt ngã này.
Trần gian ngoài kia cũng chẳng khác địa ngục dưới lòng đất là bao. Dưới kia là bầy rết ăn thịt người, còn trên này là nạn đói rình rập gặm nhấm từng sinh mạng.
- Anh Lựu... - Tiếng con Hằng khẽ gọi, kéo tôi quay trở lại thực tại. - Bây giờ... chúng mình đi đâu? Về làng làm sao được khi anh Bằng thế này... Người ta thấy máu me, lính khố xanh hay lý trưởng bắt được thì chỉ có nước rũ tù.
Tôi nhìn gương mặt hốc hác, lấm lem bùn đất của con bé. Đôi mắt nó trũng sâu, vành mắt đỏ hoe vì khóc và vì khói độc. Nó mới hai mươi tư tuổi, một đứa con gái gánh nước thuê quanh năm lam lũ, giờ đây phải gánh trên vai nỗi ám ảnh của một đêm thảm sát mà cả đời này chắc chắn không thể nào gột rửa được.
- Không về làng vội. - Tôi nuốt khan ngụm nước bọt mặn chát vị máu, giọng khàn đục. - Tao cõng thằng Bằng, mày dọn dẹp các dấu vết dây thừng quanh miệng hố rồi đi theo tao. Chúng ta men theo triền đồi đi về phía chùa Thầy bên Quốc Oai. Ở chân núi đá có mấy cái lán thợ đá bỏ hoang, tao có quen một ông lang chuyên bốc thuốc nam chữa trĩ và nọc rắn. Ẩn ở đó vài tuần cho thằng Bằng lại sức rồi tính tiếp.
- Còn... còn ba người kia? - Con Hằng run rẩy chỉ tay về phía hố sụt đang bốc khói âm ỉ. - Thầy Điền, anh Tứ... với ông Hổ... Mình cứ để họ nằm dưới ấy sao anh?
Tôi nhắm mắt lại, cố xua đi hình ảnh lão Điền bị rết chúa xé toạc bụng, thằng Tứ bị kéo lê vào bóng tối và vẻ mặt điên loạn của Trương Văn Hổ khi ôm đuốc lao vào ngọn lửa.
- Đất đồi sập xuống rồi, đào bới chỉ rước thêm họa. Chốn này là mồ của họ, cũng là mồ của con quái vật kia. Họ chết dưới đất sâu, nhưng ít ra tro xác không bị phơi ra ngoài đồng cho ruồi bọ rỉa róc như những người chết đói ngoài đường cái quan. Đừng nhắc đến họ nữa. Từ giờ phút này, quên hết những gì đã xảy ra dưới căn hầm ấy đi. Nếu muốn sống yên ổn, tuyệt đối không được hé răng nửa lời với bất kỳ ai, dù là người nhà hay quan trên.
Con Hằng cắn chặt môi dưới đến bật máu, gật đầu lia lịa. Nó hiểu rõ sự tàn nhẫn của thời buổi này. Một vụ trộm mộ quan lớn thời Lê, lại dính líu đến cái chết của cai ngục trốn trại, nếu để lọt ra ngoài thì không cần đến tà ma quỷ quái, chỉ riêng đòn roi của sở cẩm Hà Đông cũng đủ lột da róc xương cả ba đứa chúng tôi.
Tôi hít một hơi dài, thọc tay vào túi áo cánh định tìm hộp diêm quẹt còn sót lại để nhóm một đống lửa nhỏ hơ ấm cho thằng Bằng trước khi lên đường.
Ngón tay tôi bỗng chạm phải một vật gì đó cứng, sắc lạnh và gồ ghề nằm sâu dưới đáy túi áo rách tả tơi.
Tôi giật mình khựng lại.
Cẩn thận rút bàn tay ra, tôi xòe những ngón tay đen đúa ra trước ánh mặt trời buổi sớm.
Nằm gọn trong lòng bàn tay tôi là một mảnh ngọc bội vỡ vụn, kích thước chỉ bằng hai đốt ngón tay. Đó là mảnh ngọc vỡ rơi ra từ chiếc áo quan mục nát của vị đại quan thời Lê lúc cây cột đá đổ sập, có lẽ đã văng trúng vào vạt áo tôi trong lúc hỗn loạn mà tôi không hề hay biết.
Phiến ngọc có màu xanh rêu đục, bóng nhờn và lạnh ngắt như một tảng băng.
Nhưng thứ khiến toàn thân tôi lạnh toát không phải là chất ngọc cổ xưa, mà là những đường nét chạm khắc nổi trên bề mặt của nó. Mảnh vỡ lưu lại phần thân của một con rết với ba ngấn giáp sắt uốn lượn tinh xảo, từng chiếc chân đốt sắc nhọn được khắc tỉ mỉ đến rợn người. Bám chặt vào các kẽ ngọc chạm trổ là một lớp bùn đen dẻo quánh, tanh nồng mùi rễ cây mục và xạ hương quen thuộc.
Và ngay giữa lớp bùn đen ấy, một vệt dịch màu tím sẫm đang từ từ rỉ ra, đặc quánh và phát ra ánh sáng nhờ nhờ dưới nắng sớm.
Hơi thở tôi nghẹn lại nơi cuống họng.
Vết tích ký sinh của Ngô Công Tinh.
Hóa ra thứ yêu vật trăm chân dưới đáy huyệt mộ không đơn thuần chỉ là một con thú dữ biến dị thành tinh theo năm tháng. Hình tượng rết ba ngấn được khắc tinh xảo trên tín vật tùy táng của quan triều Lê cho thấy mối liên kết ma quỷ này đã tồn tại từ hàng trăm năm trước. Từ cái thời người ta đắp mộ xây thành, phong bế thi thể vị đại thần cùng bí thuật tà giáo của vùng trung du xứ Đoài.
Con rết chúa khổng lồ dưới đáy hầm có thể đã bị thiêu rụi thành tro than, nhưng mầm mống tà khí, những ấu trùng li ti bám trong bùn đen và những mảnh ngọc phù chú của nó vẫn chưa hoàn toàn bị tiêu diệt. Chúng có thể vẫn đang lẩn khuất đâu đó dưới những tầng đất sét xám xịt, trong các khe nứt của vùng gò đồi Hoài Đức, âm thầm chờ đợi một đêm trăng rằm khác để thức giấc.
Bàn tay tôi run lên bần bật. Cảm giác nhột nhạt râm ran bỗng truyền từ mảnh ngọc qua lớp da lòng bàn tay, chạy dọc theo cánh tay đang sưng tấy của tôi, làm cho vết thương bị rết cắn nhói buốt lên từng cơn dữ dội.
- Anh Lựu... cái gì trong tay anh thế? - Tiếng con Hằng thảng thốt vang lên sau lưng.
Tôi không trả lời.
Bằng một phản xạ quyết liệt và tàn nhẫn nhất của bản năng sinh tồn, tôi vung mạnh cánh tay, ném mảnh ngọc bội vỡ vụn xuống thẳng lòng cái hố sụt sâu hoắm trước mặt.
Khối ngọc nhỏ bé vạch một đường cong ngắn ngủi trong không khí rồi biến mất tăm vào đống đất đá đổ nát, chìm sâu vào lòng đất mẹ đang bốc khói nghi ngút. Tôi lập tức dùng gót chân đạp mạnh vào một mảng đá ong bên mép hố, khiến cả tảng đất đá sạt lở ụp xuống, lấp kín hoàn toàn dấu vết cuối cùng của phiến ngọc độc hại.
Tôi thở dốc, hai vai run rẩy hạ xuống. Tôi không muốn bất kỳ thứ gì thuộc về nấm mồ đó theo chúng tôi trở về cõi dương. Vàng bạc, ngọc ngà, hay những bí thuật trường sinh ma quái đều chỉ là chiếc bẫy chết người rải đầy máu tanh và xương vụn.
Gió sớm thổi lồng lộng qua đồi Yên Sở, làm bay đi những sợi tóc bết máu trên trán tôi.
Tôi quay người lại, cúi xuống xốc thằng Bằng lên lưng. Thân hình nó gầy rộc, nhẹ bẫng như một bộ khung xương gỗ, hai cánh tay buông thõng đung đưa theo từng bước chân xiêu vẹo của tôi. Con Hằng lẳng lặng đi sát một bên, một tay đỡ lấy bên hông thằng Bằng, một tay cầm chắc chiếc gậy tre nhặt được bên bụi rậm để dò đường.
Ba cái bóng tàn tạ, rách rưới đổ dài trên triền đồi đỏ quạch dưới ánh mặt trời rạng đông chói lọi. Chúng tôi cất bước rời khỏi vùng đồi gò Yên Sở, hướng về phía những rặng núi mờ xa của vùng Quốc Oai, bỏ lại sau lưng nấm mồ tàn tro và giấc mộng vàng bạc hão huyền đã vĩnh viễn chôn vùi sáu kiếp người trong bóng tối sâu thẳm.