Huyết Thước Trừng Gia - Chương 1: Bậc Đá Đầu Tiên Chảy Máu
Tiếng đục chan chát gõ đều vào thớ gỗ mít già vang động cả một góc bờ sông Đáy. Dưới mái hiên lợp lá cọ xiêu vẹo của xưởng mộc gia truyền họ Lý, bụi dăm…
Nội dung chương
Tiếng đục chan chát gõ đều vào thớ gỗ mít già vang động cả một góc bờ sông Đáy. Dưới mái hiên lợp lá cọ xiêu vẹo của xưởng mộc gia truyền họ Lý, bụi dăm bay lả tả, phủ một lớp phấn vàng mịn lên đôi vai trần bóng nhẫy mồ hôi của Lý Văn Canh. Năm nay Canh vừa tròn năm mươi tuổi, thân hình vạm vỡ gầy guộc như một thân gỗ nghiến ngâm nước cạn lâu ngày, đôi mắt tinh anh sáng quắc lẩn dưới đôi lông mày rậm rạp hoa râm.
Trước mặt ông, bức tượng Phật Di Lặc tạc bằng gỗ hương đỏ cao đúng ba thước đang dần thành hình. Từng nếp áo mềm mại lượn vòng theo thớ gỗ, nụ cười hỷ xả từ bi hiện rõ dưới từng nhát chàng bạt sắc lẹm. Đôi bàn tay thô ráp chai sạn với những khớp ngón to bè của Canh lướt qua gò má pho tượng, cẩn trọng như một người cha vuốt ve đứa con đỏ hỏn. Ở đất Chàng Sơn ba mươi dặm về phía Tây Hà Nội này, người làm nghề đục chạm có hơn hai trăm nóc nhà, nhưng kẻ có thể khiến khúc gỗ vô tri bật ra tiếng cười hiền hòa hay vẻ uy nghiêm của thần Phật thì chỉ đếm trên đầu ngón tay của một bàn tay. Mà đứng đầu phường thợ, ai cũng phải cúi đầu nhận Lý Văn Canh là tay đục đệ nhất.
Canh đặt chiếc đục bạt xuống chiếc đôn gỗ lim con, với lấy chiếc khăn vải nâu vắt ngang vai lau mồ hôi trán. Tiếng nước sông Đáy mùa cạn vỗ ì oạp vào chân cầu đá cổ Chàng Sơn. Phía xa, triền đê quai đá sừng sững ôm lấy những thửa ruộng lúa đang thì con gái xanh ngắt một màu. Bình yên của làng nghề này vốn được che chắn bởi lũy tre dày đặc bao bọc bốn bề, mỗi tháng họp ba phiên chợ gỗ tấp nập thuyền bè ngược xuôi.
Bỗng nhiên, tiếng la hét huyên náo từ đầu ngõ xé toang không gian tĩnh mịch của buổi sớm. Tiếng mõ đồng khua liên hồi, xen lẫn tiếng roi da vun vút quất vào lưng trâu bò của đám lái buôn ven chợ.
- Tránh đường! Lính huyện Thạch Thất đi dẹp đường cho quan lớn! Kẻ nào cản lối, ăn ba chục trượng ngay tại chỗ!
Lý Văn Canh nhíu mày, đứng thẳng dậy. Từ ngoài đường cái lát đá xanh dẫn về phía đình làng, một toán lính lệ áo nẹp đỏ, thắt lưng xanh, tay lăm lăm gươm tuốt trần và gậy sơn then rầm rộ tiến vào. Bụi đường bốc lên mù mịt. Đi giữa đám lính là chiếc kiệu bốn người khiêng bọc nẹp đồng sáng loáng.
Người bước xuống từ chiếc kiệu là viên tri huyện Hoàng Xuân Bột. Hắn tròn năm mươi tuổi, vóc người đẫm đà với cái bụng phệ nhấp nhô sau lớp áo gấm xanh thêu hình rồng bốn chân lấp lánh chỉ bạc. Gương mặt tròn trĩnh như cái mâm đồng, đôi mắt lươn ti hí đảo liên hồi quanh xưởng mộc, chiếc mũi hếch để lộ hai lỗ mũi to bè hếch ngược lên trời. Bàn tay múp míp đeo ba chiếc nhẫn ngọc bích của viên tri huyện khẽ phất chiếc quạt the, xua đi mùi dăm bào và bụi gỗ đang bốc lên nồng nặc.
Cả làng Chàng Sơn này ai chẳng biết danh Hoàng Xuân Bột. Hắn cai trị huyện Thạch Thất ngót chục năm nay bằng đòn roi, ngục tối và những khoản sưu thuế nặng nề. Kẻ nghèo mất đất, người buôn mất hàng, tiếng oán thán vang tận mây xanh nhưng chẳng ai dám ho he nửa lời trước uy quyền của kẻ nắm quyền sinh quyền sát trong tay.
- Lý thợ cả! Xem chừng tay nghề của ngươi vẫn chưa mai một nhỉ?
Giọng nói the thé, đùng đục của viên tri huyện vang lên làm đám thợ phụ trong xưởng đều run rẩy nép sát vào góc tường, cúi rạp đầu không dám thở mạnh. Riêng Lý Văn Canh vẫn đứng thẳng lưng, hai tay chắp lại làm lễ theo đúng phép tắc của kẻ thứ dân trước mặt quan nha, nhưng ánh mắt không hề né tránh.
- Bẩm quan lớn, thảo dân chỉ biết lấy công đục đẽo kiếm bát cơm qua ngày. Chẳng hay quan lớn giá lâm tới chòi rách này có điều chi sai bảo?
Hoàng Xuân Bột bước tới gần bức tượng Phật Di Lặc, giơ bàn tay trắng bệch vuốt nhẹ lên chỏm đầu pho tượng. Mắt lươn của hắn nheo lại, lộ rõ vẻ toan tính sâu hiểm. Hắn chép miệng hai tiếng, gật gù:
- Gỗ hương thượng hạng, đường đục tinh xảo không một vết xước dăm. Đích thực là bàn tay vàng của đất xứ Đoài. Hôm nay bản quan đến đây không phải để bắt bớ, mà là đem mối phú quý ngút trời đến cho dòng họ Lý nhà ngươi.
Hắn quay sang tên nha dịch đi cạnh, gật đầu ra hiệu. Tên nha dịch lập tức mở một ống đồng chạm trổ hoa văn, rút ra một cuộn giấy bản dày cộp trải rộng lên chiếc bàn xẻ gỗ của Canh.
- Ngươi nhìn cho kỹ. Đây là bản vẽ dinh thự mới của bản quan. Năm gian, hai tầng, mái ngói âm dương, tường bao bằng gạch xây mộc, sân lát gạch Bát Tràng tráng men bóng lộn. Cổng ngoài phải chạm trổ kỳ lân đạp mây, vườn cảnh non bộ bề thế bậc nhất trấn Sơn Tây này. Nhưng quan trọng nhất là bên trong: mười hai cột cái bằng gỗ lim ròng ngàn năm, chu vi mỗi cột phải đủ hai người ôm, dựng đứng vững chãi nâng đỡ toàn bộ cơ nghiệp họ Hoàng.
Canh nhìn lướt qua bản vẽ. Bản vẽ chi tiết từng vì kèo, xà ngang, đấu củng phức tạp vô cùng, đòi hỏi người thợ cả phải nắm vững kỹ thuật ghép mộng mười ngón tay của tổ nghề Lỗ Ban, không được phép sai lệch một ly. Làm xong cơ ngơi này, người thợ cả phải hao tâm tổn tứ ít nhất một năm ròng rã, dốc hết tinh lực cả đời.
- Thưa quan lớn, công trình bề thế nhường này, thảo dân sức mọn, e khó lòng gánh vác nổi trọng trách của quan huyện giao phó. Làng Chàng Sơn còn nhiều phường thợ lớn, xin quan lớn rủ lòng thương chuyển cho người khác.
Canh lựa lời từ chối. Bản năng của người thợ già lăn lộn nửa đời người cho ông biết mùi nguy hiểm đang lởn vởn quanh nụ cười của viên tri huyện. Kẻ ác đức như Hoàng Xuân Bột chẳng bao giờ hào phóng đem lại điều lành cho người lương thiện.
Nụ cười trên môi viên tri huyện chợt tắt ngấm. Hắn nheo mắt lươn, từng nếp thịt trên mặt giật giật, giọng trầm xuống đầy đe dọa:
- Lý Văn Canh! Ngươi chớ có rượu mời không uống lại muốn uống rượu phạt! Ngươi nghĩ bản quan cất công đích thân đến cái chòi dột nát này để nghe ngươi chối từ sao? Toàn bộ mười hai cây lim ngàn năm bản quan đã cho kết bè xuôi sông Đáy về cập bến làng Chàng Sơn trưa nay. Khế ước đã lập sẵn, tiền công trọn gói năm trăm lạng bạc trắng ròng!
Năm trăm lạng bạc!
Tiếng xì xào kinh ngạc nổi lên từ đám thợ phụ đang nép trong xưởng. Năm trăm lạng bạc ròng là một gia tài khổng lồ, đủ để mua nửa cánh đồng làng Chàng Sơn, đủ để cả phường thợ họ Lý ấm no sung túc suốt ba đời. Nhưng số tiền lớn bỗng nhiên đặt vào tay kẻ nghèo khó luôn đi kèm với cái thòng lọng vô hình.
Hoàng Xuân Bột bước sát lại gần Canh, phả hơi thở nồng nặc mùi thuốc phiện và rượu tăm vào mặt ông lão:
- Tiền bạc bản quan không thiếu. Bản quan trả giá cao gấp ba lần thợ kinh kỳ, nhưng luật lệ của bản quan cũng nghiêm khắc vô cùng. Ngươi nhận tờ khế này, lĩnh trước một trăm lạng tiền cọc mua sắm dụng cụ, tuyển chọn năm mươi tay thợ giỏi nhất vùng phụ việc. Đúng kỳ hạn một năm sau, dinh thự phải hoàn thành để bản quan làm lễ khánh thành mừng ngũ tuần đại khánh. Nếu công trình hoàn tất mỹ mãn, bốn trăm lạng còn lại trao tận tay, bản quan còn thưởng thêm biển vàng khen ngợi dòng họ. Nhược bằng chậm trễ một ngày, hoặc để xảy ra sai sót mục nát một mộng gỗ...
Hắn dừng lại, chiếc quạt the trong tay gõ mạnh lên mặt bàn gỗ chát chúa:
- Thì bản quan sẽ khép ngươi vào tội lừa quan trục lợi, chém đầu bêu giữa chợ phiên Chàng Sơn, tịch thu toàn bộ gia sản phường thợ họ Lý sung công! Tờ khế này, ngươi ký hay để bản quan bảo lính ấn tay ngươi vào mực đỏ?
Toán lính lệ đồng loạt rút gươm ra khỏi vỏ nửa tấc, tiếng kim loại cọ vào nhau rợn người. Ánh thép lạnh lẽo phản chiếu dưới ánh nắng ban trưa.
Lý Văn Canh siết chặt hai bàn tay thô ráp đến mức các khớp ngón trắng bệch. Ông nhìn ra ngoài bờ sông Đáy, nơi những người thợ mộc nghèo cùng gia đình họ đang trông chờ vào những phiên chợ để đong từng bát gạo. Nếu ông từ chối, Hoàng Xuân Bột chắc chắn sẽ viện cớ gieo họa cho cả họ tộc, đẩy phường thợ Chàng Sơn vào cảnh lầm than ngục tù. Đường lui của ông đã bị viên tri huyện chặn đứng ngay từ bước đầu tiên.
- Thảo dân xin tuân mệnh quan lớn.
Canh cúi đầu, giọng nói trầm đục kìm nén sự phẫn uất.
Tên nha dịch lập tức đem nghiên mực đỏ và tờ khế ước tới. Canh nhúng ngón tay cái vào nghiên mực đỏ thẫm như máu tươi, ấn mạnh dấu vân tay xuống góc dưới của tờ khế ước năm trăm lạng bạc.
Hoàng Xuân Bột bật cười ha hả, tiếng cười the thé vang vọng khắp khúc sông. Hắn hài lòng vung tay áo, ném một túi bạc nặng trịch xuống bàn gỗ khiến mặt bàn rung lên bần bật:
- Rất tốt! Kẻ thức thời mới là trang tuấn kiệt. Ngày mai, mười hai thân lim ngàn năm sẽ được kéo lên bãi đất ven sông. Bản quan chờ xem đệ nhất bàn tay vàng đất Chàng Sơn trổ tài!
Nói đoạn, viên tri huyện ung dung quay gót bước lên kiệu. Đám lính lệ hò hét thu gươm dẹp đường, kéo theo bụi mù cuộn tròn trên con đường đá cổ, để lại sự ngột ngạt bao trùm cả xưởng mộc ven sông.
Đợi đoàn người của quan huyện đi khuất sau rặng tre làng, đám thợ phụ mới dám chạy lại quanh chiếc bàn xẻ gỗ. Nhìn túi bạc một trăm lạng sáng lóa, người thì trầm trồ thèm thuồng, kẻ lại thở dài lo lắng. Canh đứng chôn chân tại chỗ, ngón tay cái dính mực đỏ rực vẫn chưa kịp lau khô. Mùi mực tàu tanh tao quyện với mùi dăm bào gỗ hương tạo nên một thứ mùi vị quái đản, bức bối đến nghẹt thở.
Buổi chiều hôm ấy, Canh một mình bước qua cây cầu đá cổ, đi về phía đình làng Chàng Sơn. Đình làng cổ kính rêu phong nằm nép mình dưới bóng cây đa nghìn tuổi, nơi thờ thánh Lỗ Ban và cụ tổ Lý Hùng Lực - người đã khai sinh ra dòng họ mộc nức tiếng xứ Đoài này.
Canh bước qua bậc cửa đá cao, vào gian chính điện. Khói hương trầm mặc nghi ngút lan tỏa trong không gian u tịch. Trên bức hoành phi sơn son thiếp vàng, bốn chữ "Xảo Đoạt Thiên Công" sáng lấp lánh dưới ánh đèn dầu lạc. Phía dưới bàn thờ tổ nghề là tấm bia đá xanh ghi lại gia quy họ Lý, với lời nguyền Ngũ Tuyệt khắc sâu vào đá từ ba trăm năm trước do chính tay cụ tổ Lý Hùng Lực để lại.
Canh quỳ sụp xuống chiếu cói, chắp hai tay run rẩy trước bài vị của cụ tổ. Giọng ông thì thào trong bóng tối của ngôi đình:
- Lạy cụ tổ, con cháu họ Lý đời thứ chín Lý Văn Canh bái lạy. Nay viên tri huyện Hoàng Xuân Bột dùng quyền thế ép buộc phường thợ phải dựng dinh thự mười hai trụ. Con biết bụng dạ kẻ này xảo quyệt tàn độc, mồi bả năm trăm lạng bạc như thuốc độc bọc đường. Nhưng vì sự an nguy của cả phường thợ họ Lý, con không thể thoái thác...
Lời nguyền Ngũ Tuyệt của dòng họ Lý vang vọng lại trong tâm tưởng của người thợ già. Năm xưa, cụ tổ Lý Hùng Lực từng cắt tóc thề trước thần Lỗ Ban: kẻ làm nghề đục chạm họ Lý trọn đời giữ lòng ngay thẳng, dùng tài nghệ để tạo phúc dựng nhà cho người hiền đức; tuyệt đối không dùng ngón nghề để mưu hại đồng loại, không tham lam của cải bất minh. Kẻ nào phạm phải lời thề, rước lấy bùa hắc ám để hại người thì sẽ gánh chịu kiếp nạn Ngũ Tuyệt: không vợ, không con, không của, không danh, không thọ, chết trong cô độc bần hàn, tuyệt diệt tông môn.
Canh cúi rạp đầu sát đất gạch lạnh buốt, dập đầu ba cái thật mạnh. Trán ông va vào gạch nghe vang dội. Ông ngẩng lên, nhìn ánh mắt nghiêm cẩn của tượng thánh Lỗ Ban trên bệ thờ, lòng nặng trĩu âu lo. Bản thân ông đã giữ mình thanh sạch suốt năm mươi năm qua, không vợ không con, chỉ biết lấy chiếc đục chiếc cưa làm bầu bạn, những mong gìn giữ trọn vẹn gia phong của tổ tiên. Nhưng thời thế nhiễu nhương, móng vuốt của quan lại phong kiến tham tàn đã vươn tới tận chốn thôn dã này, ép người lương thiện vào bước đường cùng.
Rời khỏi đình làng khi bóng hoàng hôn bắt đầu đổ dài trên mặt sông Đáy, Canh đi dọc theo triền đê quai đá ra bến sông. Tại bãi đất trống bằng phẳng nằm sát chân núi Chàng Sơn, nơi Hoàng Xuân Bột đã giải tỏa trắng hàng chục nóc nhà của dân nghèo để lấy đất dựng tư dinh, mười hai thân gỗ lim khổng lồ vừa được kéo từ dưới lòng sông lên bãi cỏ.
Mười hai thân gỗ lim đen nhánh, ướt sũng phù sa, to lớn dị thường, nằm song song như những con trăn khổng lồ đang nằm phục. Vỏ cây sần sùi bám đầy rêu xanh và bùn lầy của dòng sông Đáy. Đám thợ phụ đang dùng dây thừng và đòn bẩy để chằng néo cố định các thân gỗ.
Canh bước tới gần thân gỗ lim nằm ở vị trí trung tâm - khúc gỗ được định sẵn để làm cột cái của gian giữa dinh thự. Ông đưa bàn tay thô ráp vuốt dọc theo thân gỗ ẩm ướt. Thớ gỗ lim đanh chắc, rắn như đá tảng, tỏa ra một mùi nồng hắc đặc trưng của gỗ rừng rậm ngàn năm tuổi.
Một người thợ già trong phường, tóc đã điểm bạc, tiến lại gần Canh, thì thầm giọng lo ngại:
- Thợ cả Canh, mười hai cây lim này già lắm rồi, thớ gỗ xoắn tít lại. Trưa nay lúc kéo gỗ lên bờ, dây thừng đứt đôi suýt nữa đè gãy chân hai đứa thợ trẻ. Đất này trước đây là đất hương hỏa của mấy nhà dân nghèo bị quan huyện cướp trắng, âm khí nặng nề lắm. Nhận mối này, chúng ta như đi trên lưỡi dao cạo vậy.
Canh im lặng không đáp. Ông rút từ thắt lưng ra chiếc rìu con bằng thép bén ngót, chiếc rìu đã theo ông từ những ngày đầu học nghề. Canh hít một hơi sâu, vung rìu chém một nhát dứt khoát vào mắt gỗ lồi lên ở phần gốc cây cột cái để kiểm tra độ già của thớ gỗ.
"Phập!"
Lưỡi rìu sắc lẹm cắm sâu vào thân gỗ nửa tấc. Một âm thanh khô khốc vang lên giữa không gian vắng lặng của buổi chiều tà.
Canh giật chiếc rìu ra. Ngay tại vết cắt sâu hoắm, một dòng nhựa cây đỏ thẫm như máu từ từ rỉ ra, đặc quánh, trào qua lớp vỏ đen sì rồi nhỏ từng giọt xuống nền đất cát bến sông.
Cơn gió lạnh từ phía sông Đáy đột ngột thổi thốc lên triền đê, làm bụi cỏ khô rạp mình xào xạc. Dưới ánh hoàng hôn đỏ quạch như lửa cháy ở chân trời phía Tây, dòng nhựa đỏ sẫm của cây gỗ lim ngàn năm vẫn không ngừng tuôn chảy, bốc lên một mùi tanh nồng kỳ dị.
Lý Văn Canh đứng sững giữa bãi đất hoang tàn. Một cảm giác lạnh buốt chạy dọc sống lưng người thợ cả, mách bảo rằng nhát rìu đầu tiên này đã khơi mào cho một vòng xoáy ân oán nghiệt ngã, nơi máu và nước mắt sẽ thấm đẫm mười hai cây cột lim trước khi cơ ngơi của viên tri huyện kịp thành hình.