Huyết Thước Trừng Gia - Chương 24: Huyết Thước Trừng Gia Chuộc Tội
Cơn cuồng phong gầm thét suốt đêm rốt cuộc cũng chịu buông tha cho dải đất ven sông Đáy. Khi tiếng sấm cuối cùng chìm hẳn vào rặng núi Chàng Sơn xa mờ,…
Nội dung chương
Cơn cuồng phong gầm thét suốt đêm rốt cuộc cũng chịu buông tha cho dải đất ven sông Đáy. Khi tiếng sấm cuối cùng chìm hẳn vào rặng núi Chàng Sơn xa mờ, bức màn mưa xám xịt bắt đầu rách toạc ra từng mảng lớn, nhường chỗ cho ánh bình minh từ từ nhô lên nơi chân trời phía đông. Những tia nắng đầu tiên mang sắc hồng tươi tắn rọi qua lớp sương sớm dày đặc, quét qua những ngọn tre cong vút bị gió bão vặn gãy, rồi chầm chậm trải dài trên mặt đất ẩm ướt của làng nghề mộc cổ kính.
Ánh sáng rạng đông luồn qua những khoảng trống hoác trên mái ngói âm dương đã sụp đổ của dinh thự họ Hoàng. Tòa nhà năm gian từng một thời uy nghi lộng lẫy, nay chỉ còn trơ trọi những mảng tường gạch xây mộc bong tróc và đống xà gồ gãy vụn ngổn ngang trên nền gạch Bát Tràng. Giữa gian nhà chính, cây cột cái gỗ lim mười hai trụ đứng sừng sững, thân cột chằng chịt vết nứt toác, miệng hốc yểm bị bẩy tung toang hoác phơi bày ruột gỗ màu nâu xám. Mùi hôi thối nồng nặc của hắc khí đêm qua đã bị luồng gió sớm xua tan, chỉ thoang thoảng mùi gỗ mục ẩm ướt quyện với mùi bùn đất phù sa ngai ngái bốc lên từ lòng sông.
Nơi góc thềm hiên gian giữa, ánh nắng chiếu rọi vào hai bóng người đang nương tựa vào nhau. Lão Canh ngồi tựa lưng vào chân bệ đá, hai cánh tay gầy guộc khẳng khiu quàng chặt lấy thân hình nhỏ bé của đứa trẻ vô tội. Thân thể lão lạnh toát, cứng đờ tựa một pho tượng đá cổ đặt bên bờ rào, nhưng nét mặt lão lại toát lên vẻ an nhiên kỳ lạ. Đôi mắt mù lòa nhắm nghiền, khóe miệng nhếch lên một đường cong thanh thản, gột sạch mọi nét dữ dằn, căm hận từng hằn sâu suốt hai mươi năm ròng rã.
Một hơi thở ấm áp phả nhẹ vào vạt áo tơi tả của người thợ già.
Bé Thảo cựa mình. Cơn mê sảng kéo dài suốt mấy ngày đêm bỗng chốc tan biến sạch trơn. Đứa nhỏ từ từ mở mắt, đôi con ngươi to tròn đen láy nhìn chằm chằm lên những vệt nắng vàng vọt đang nhảy múa trên xà nhà mục nát. Cơn sốt hầm hập thiêu đốt ruột gan nó đêm qua đã lùi xa, hơi lạnh buốt thấu xương nơi lồng ngực cũng không còn dấu vết. Da thịt non nớt trên mặt, trên cánh tay từng bị những nốt chốc lở đen ngòm cắn xé nay đã khô miệng, lớp vảy thâm sì rơi rụng lả tả, để lộ ra những mảng da non hồng hào lành lặn.
Đứa bé bảy tuổi ngơ ngác chớp mắt. Nó thấy mình được bao bọc trong một vòm ngực rộng lớn, tuy lạnh ngắt nhưng lại đem lại cảm giác an toàn kỳ lạ. Nó cựa quậy cánh tay nhỏ thó, nhấc đầu lên khỏi bờ vai gầy nham nhở của lão Canh.
- Ông ơi... - Giọng con bé trong trẻo cất lên, vang khẽ giữa không gian tĩnh mịch của ngôi nhà hoang.
Không có tiếng trả lời.
Bé Thảo đưa bàn tay bé xíu, ngón tay hãy còn dính những vảy da khô, sờ lên gò má nhăn nheo của người thợ già. Làn da của lão lạnh buốt như phiến đá dưới đáy sông vào tiết tháng Chạp. Con bé ngây thơ vuốt ve chòm râu bạc trắng xơ xác lấm lem bùn đất và bụi dăm gỗ, rồi lại khẽ lay lay cánh tay lão:
- Ông Canh ơi... Trời sáng rồi. Hết mưa rồi ông ơi... Đứng dậy về chòi thôi ông...
Bàn tay lão Canh vẫn giữ nguyên tư thế che chở, không hề nhúc nhích. Gió sớm lùa qua bậc cửa, làm bay bay những sợi tóc bạc lơ thơ trên trán người thợ mộc đã đi qua trọn vẹn một kiếp nạn oan khiên. Bé Thảo ngơ ngác nhìn quanh, rồi lại cúi xuống nhìn hai hàng nước mắt đã khô cong trên má lão. Đứa trẻ nghèo khổ bấy lâu nay quen chịu đói rét bỗng cảm nhận được một sự im lặng vĩnh hằng vừa bao trùm lấy người đã cứu mạng mình. Nó không gào khóc, chỉ lặng lẽ nép sát đầu vào bờ ngực lạnh ngắt ấy, hai bàn tay nhỏ bé ôm chặt lấy cánh tay khẳng khiu của lão thợ già.
Từ ngoài cổng lớn trổ hình kỳ lân gãy sừng, tiếng bước chân bì bõm lội qua vũng bùn bỗng rộn lên.
- Mau lên! Đuốc cháy suốt đêm ở phía dinh thự quan huyện cũ! Có khói đen bốc lên nữa!
- Coi chừng có trộm cắp hay kẻ gian ẩn náu trong ấy! Bác cả đem theo đòn gánh, chú hai cầm theo ngọn giáo!
Tiếng hò hét, tiếng chó sủa ran từ đầu ngõ xua tan bầu không khí u tịch của buổi sớm mai. Đám đông người làng Chàng Sơn gồm hương lý, tuần đinh và những người thợ mộc cao niên mang theo gậy gộc, dao rựa hớt hải ùa vào sân gạch Bát Tràng. Dẫn đầu đám đông là cụ thợ cả Nguyễn Văn Ban, người nắm giữ hương hỏa của phường mộc và cai quản việc hương khói nơi đình làng thờ thánh Lỗ Ban.
Vừa bước qua ngưỡng cửa tam quan đổ nát, cụ Ban và đám tuần đinh bỗng khựng phắt lại. Trước mắt họ không phải là phường thảo khấu cướp bóc, mà là một khung cảnh bi tráng khiến tất thảy những kẻ hung hăng nhất cũng phải chết lặng buông thõng bàn tay cầm vũ khí.
Giữa gian chính điện ngập tràn ánh nắng ban mai, cây cột cái lim sừng sững trơ trọi với vết khoét sâu hoắm nơi tim gỗ. Dưới chân cột, chiếc bát sứt ngửa miệng và chiếc thuyền chúc mũi bằng gỗ mun từng bị yểm máu hai mươi năm trước nay đã vỡ vụn thành từng mảnh nhỏ, nằm lẫn lộn trong vũng máu đen sì đã khô quánh. Mũi đục thép và chiếc búa lim nặng trịch nằm trơ trọi trên gạch, lưỡi thép mẻ một đường dài vì va đập dữ dội với thớ gỗ lim đanh thép.
Và ngay bên cạnh bệ đá, lão thợ mộc Lý Văn Canh ngồi bất động, toàn thân khô kiệt như một cành củi mục, ôm trọn đứa bé ăn mày nhỏ thó trong lòng.
- Trời đất ơi... Bác Canh! - Cụ Ban thảng thốt kêu lên một tiếng, cây gậy tre trên tay run rẩy chạm xuống nền gạch kêu "cộc" một tiếng khô khốc.
Đám thợ mộc phía sau nhìn thấy cây cột cái bị khai mở thì sắc mặt ai nấy đều biến đổi kinh hoàng. Những người làm nghề mộc đất Chàng Sơn vốn quá hiểu các quy tắc cấm kỵ chốn rừng thiêng và xưởng thợ. Nhìn vết đục xiên góc ba mươi độ bẩy tung miếng nêm quả trám, nhìn những mảnh vụn của vật yểm rải rác dưới đất, họ lập tức hiểu rõ chuyện gì vừa diễn ra trong đêm bão bùng này.
- Lời thề Ngũ Tuyệt... - Một người thợ già trạc tuổi lão Canh run giọng thầm thì, hai mắt mở trừng trừng vì kinh hãi. - Bác Canh đã tự tay phá bùa... Bác ấy đem tính mạng mình ra đền mạng cho trời đất rồi!
Cụ Ban chậm rãi bước từng bước nặng nề qua những mảnh ngói vỡ, tiến lại gần thềm hiên. Đám tuần đinh im bặt, lẳng lặng cúi đầu, dạt sang hai bên nhường lối. Cụ Ban quỳ một chân xuống nền gạch lạnh, đưa ngón tay run rẩy đặt lên mạch cổ của lão Canh. Mạch đã ngừng đập tự bao giờ. Hơi thở đã dứt hẳn, thân xác lão đã cứng lại nhưng gương mặt lại nhuốm một vẻ thoát tục, an nhiên đến lạ lùng.
Bé Thảo ngước đôi mắt tròn xoe nhìn cụ Ban, giọng lí nhí van lơn:
- Cụ ơi... Ông Canh ngủ kỹ quá... Cụ gọi ông dậy giúp cháu với... Ông Canh cho cháu bánh đúc, ông bế cháu cả đêm...
Những lời nói ngây ngô của đứa trẻ như xé toạc cõi lòng của những người thợ mộc đứng xung quanh. Cụ Ban run run đưa tay xoa nhẹ lên mái tóc rối bù của bé Thảo, khóe mắt già nua ứa ra hai giọt lệ đục ngầu:
- Cháu ngoan... Ông của cháu không ngủ... Ông của cháu vừa làm xong nhát đục vĩ đại nhất của một đời thợ mộc rồi.
Cụ Ban nhìn kỹ vào đứa trẻ. Đôi mắt lươn xếch nhẹ, vầng trán rộng cùng khuôn cằm vuông vức của con bé rõ ràng mang những đường nét không thể lẫn vào đâu được của dòng dõi quan huyện Hoàng Xuân Bột năm xưa. Người làng Chàng Sơn ai nấy đều nhận ra điều đó. Hai mươi năm trước, chính viên quan huyện ác bá ấy đã quỵt năm trăm lạng bạc tiền công, sai lính đánh gãy chân lão Canh, bắt lão bò qua chín bậc đá trước dinh thự này, đẩy lão vào con đường thù hận mù quáng. Để rồi hôm nay, chính đứa cháu nội duy nhất còn sót lại của kẻ thù lại được cứu sống bằng hơi thở tàn và mạng sống của người thợ già tàn phế.
- Oan nghiệt... Thật là oan nghiệt chồng chất, mà đức độ cũng cao dày khôn xiết! - Cụ Ban ngửa mặt lên trời than một tiếng dài, hai vai rung lên bần bật.
Mấy người thợ trẻ tiến lại gần định đỡ thi hài lão Canh nằm xuống tấm chiếu rách mà tuần đinh vừa mang tới. Khi họ cẩn thận gỡ hai cánh tay cứng đờ của lão thợ già ra khỏi người bé Thảo, một người thợ bỗng thốt lên ngạc nhiên:
- Cụ Ban ơi, nhìn này! Trong tay bác Canh có vật lạ!
Mọi ánh mắt lập tức dồn về phía bàn tay phải của lão Canh. Bàn tay chai sạn, da thịt lở loét vì nghiệp lực bùa chú bấy lâu nay đang nắm chặt lại thành một nắm đấm kiên định. Những ngón tay khẳng khiu co quắp vì cái chết lạnh giá, như muốn giữ kín một báu vật cuối cùng của đời mình.
Cụ Ban bước lại gần, cẩn trọng dùng hai bàn tay già nua nhẹ nhàng tách từng ngón tay cứng đờ của người bạn đồng môn năm xưa. Lớp da tay lão Canh đã lạnh ngắt, nhưng từng khớp ngón tay vẫn dẻo dai một cách lạ thường.
Khi bàn tay người thợ già mở ra hoàn toàn dưới ánh nắng rực rỡ của buổi sớm, tất cả những người có mặt trong gian nhà đổ nát đều sững sờ.
Nằm gọn trong lòng bàn tay đầy vết sẹo ấy không phải là một mũi đục sắt sắc nhọn nung nấu hận thù, cũng không phải là lá bùa hắc ám nhuốm máu tươi đoạt mạng kẻ khác. Nằm tĩnh lặng giữa lòng bàn tay lão Canh là một mẩu gỗ hương đỏ au chỉ dài bằng nửa ngón tay trỏ. Mẩu gỗ nhỏ bé ấy đã được đẽo gọt vô cùng tinh xảo thành hình một chiếc thuyền tí hon.
Khác hẳn với chiếc thuyền mun chúi mũi cắm xuống đất đen năm xưa dùng để trù ếm cho gia đình kẻ thù khuynh gia bại sản, mũi của chiếc thuyền gỗ hương này lại vểnh cao, thanh thoát uốn cong hướng thẳng lên vòm trời xanh thẳm. Từng đường bào, từng nhát gọt trên mạn thuyền mịn màng như lụa, không vương một gợn dăm nhỏ. Nơi mũi thuyền chúc ngược lên trời, lão Canh đã dùng chút hơi tàn cuối cùng cùng chiếc móng tay rướm máu khắc nên một bông hoa sen nở rộ, đón trọn lấy những tia nắng ban mai vàng rực đang chiếu thẳng vào gian nhà.
Đây chính là "Thuyền Hướng Thiên" - vật phẩm cầu an tuyệt đỉnh mà chỉ những bậc đại sư nghề mộc Chàng Sơn thấu triệt đạo lý trời đất mới có thể tạo tác. Chiếc thuyền ấy mang ý niệm giải thoát, chở che cho linh hồn đứa trẻ vượt qua bể khổ trần gian, gột rửa đi mọi oán thù truyền kiếp của thế hệ trước để bắt đầu một cuộc đời mới thanh sạch, an lành.
Hóa ra, trong những hơi thở cuối cùng khi nằm gục bên chân cột lim, người thợ già mù lòa ấy đã không dùng chút tàn lực để oán thán số phận nghiệt ngã, cũng không dùng nó để nguyền rủa kẻ đã đày đọa đời mình. Lão đã dùng từng giọt sinh khí sót lại để tạc nên lời chúc phúc thuần khiết nhất cho đứa cháu nội của kẻ thù.
Cụ Ban run run nâng chiếc thuyền gỗ hương nhỏ bé lên cao. Mùi hương trầm tự nhiên từ thớ gỗ tỏa ra thơm ngát, lấn át hoàn toàn mùi ẩm mốc của gian nhà hoang tàn.
- Lạy thánh Lỗ Ban... - Cụ Ban quỳ sụp xuống nền gạch vỡ, hai tay dâng cao chiếc thuyền gỗ, giọng nghẹn ngào trong nước mắt. - Bác Canh ơi... Cả đời bác chịu tiếng ác phạm vào lời thề Ngũ Tuyệt, chịu cảnh mù lòa ghẻ lở nơi xó chòi rách nát. Nhưng đến phút cuối cùng này, bác mới đích thực là người giữ trọn vẹn nhất cái tâm của người thợ mộc Chàng Sơn! Bác đã lấy ân báo oán, lấy đức bẻ gãy tà thuật!
Đám thợ mộc, tuần đinh và dân làng đồng loạt quỳ rạp xuống nền gạch Bát Tràng. Không ai bảo ai, những chiếc nón mê, những chiếc khăn xếp đều được cởi bỏ, đặt ngay ngắn trên mặt đất. Tiếng râm ran cầu nguyện vang lên trầm hùng giữa đống hoang tàn đổ nát của tòa dinh thự từng một thời gieo rắc bao nỗi kinh hoàng cho người dân nghèo khó.
Bé Thảo ngơ ngác nhìn chiếc thuyền gỗ nhỏ trên tay cụ Ban, rồi lại nhìn gương mặt mỉm cười thanh thản của lão Canh. Đứa trẻ đưa bàn tay nhỏ bé nhận lấy chiếc thuyền từ tay cụ thợ cả, ôm chặt vào lòng ngực ấm áp của mình như đón nhận một báu vật vô giá.
Buổi trưa hôm ấy, cả làng Chàng Sơn dường như ngừng hẳn tiếng đục đẽo thường nhật. Những xưởng mộc lớn nhỏ dọc theo bờ đê quai đá đều tắt lửa, buông búa, hạ cưa.
Một cỗ quan tài bằng gỗ dổi thơm phức do chính cụ Ban và những người thợ mộc giỏi nhất làng chung tay đóng vội trong buổi sáng được khiêng ra khỏi dinh thự hoang phế. Dân làng kéo đi thành một đoàn dài dằng dặc, lặng lẽ tiễn đưa người thợ già tài hoa bạc mệnh qua cây cầu đá cổ Chàng Sơn, hướng về phía bến sông Đáy.
Đi ngay sau cỗ áo quan là bé Thảo. Đứa trẻ được khoác lên mình một bộ quần áo vải nâu mới tinh do một người đàn bà góa trong làng may vội, đầu chít dải khăn xô trắng tinh khôi. Trên tay con bé, chiếc thuyền gỗ hương chúc mũi lên trời vẫn được ghì chặt trước ngực, lấp lánh ánh đỏ dưới ánh nắng trưa rực rỡ.
Trời đất sau cơn bão lớn trở nên trong veo lạ thường. Dòng sông Đáy đỏ nặng phù sa lững lờ trôi dưới chân triền đê quai đá, mặt nước phẳng lặng như một tấm gương khổng lồ phản chiếu mây trời lồng lộng.
Khi cỗ quan tài được hạ huyệt nơi gò đất cao rợp bóng tre xanh nhìn thẳng ra ngã ba sông, khói hương nghi ngút bốc lên từ những nén nhang trầm do hàng trăm bàn tay người thợ mộc cắm xuống đất. Khói hương mỏng manh, trắng nhờ, chầm chậm bay là là trên mặt cỏ non xanh mướt, rồi hòa vào làn gió sớm, lững lờ trôi ra giữa lòng sông Đáy mênh mông.
Những làn khói lặng lẽ tan biến vào làn nước đỏ nặng hạt phù sa, như mang theo tất cả những hận thù, ai oán, những đòn roi tàn bạo của viên quan huyện năm nào và những giọt máu yểm tà nghiệt ngã của người thợ già suốt hai mươi năm ròng trút sạch xuống đáy nước sâu thẳm.
Dòng sông Đáy vẫn ngàn năm trôi đi, rửa sạch mọi vết nhơ của lòng thù hận, chỉ để lại bên bờ những thớ gỗ thơm lành và tấm lòng bao dung rộng lớn như đất trời của người thợ mộc tài hoa làng Chàng Sơn.