Huyết Thước Trừng Gia - Chương 21: Bóng Ma Viên Tri Huyện Hoàng Xuân Bột Giáng Xuống Đòn Phản Phệ
Gió bấc quất ràn rạt qua đầu hồi, rít lên từng hồi ghê rợn qua những khe gạch vỡ nát. Lý Văn Canh dừng chân trước cổng vòm dinh thự họ Hoàng, lắng nghe…
Nội dung chương
Gió bấc quất ràn rạt qua đầu hồi, rít lên từng hồi ghê rợn qua những khe gạch vỡ nát. Lý Văn Canh dừng chân trước cổng vòm dinh thự họ Hoàng, lắng nghe tiếng nước mưa xối xả đập vào tấm cánh cửa gỗ lim trĩu nặng đang nghiêng ngả. Mùi bùn non tanh tưởi dạt vào từ sông Đáy hòa cùng mùi ẩm mốc của xó nhà hoang lâu năm, xộc thẳng vào cánh mũi nứt nẻ của lão già mù.
Lão đưa tay quờ quạng phía trước. Những ngón tay thô ráp, chai sần cọ sát vào lớp gỗ mục của cánh cổng bên tả. Dưới lớp rêu trơn nhẫy, đầu ngón tay lão chạm phải những đường chạm nổi hình mây cuộn và móng vuốt sắc nhọn. Đó là dấu tích phù điêu kỳ lân vờn ngọc mà chính tay lão đã cầm đục tiện tỉ mỉ ròng rã suốt hai tháng trời của mùa thu hai mươi năm trước. Nay một nửa đầu con thú thiêng đã mủn ra thành mùn cưa, vữa nát dưới móng vuốt của thời gian và oán khí. Chốt then cài bằng đồng xưa kia bóng loáng giờ rỉ sét ken chặt, gãy gập ép sát vào trụ đá nứt toác.
Lão Canh hít sâu một hơi buốt giá, ghì chặt thân hình bé Thảo trên lưng. Dải vải thô buộc ngang ngực lão đã ướt đẫm nước mưa, thít chặt lấy lồng ngực gầy trơ xương. Đứa trẻ sau lưng lão thở từng cơn yếu ớt, trán nóng rực áp vào gáy lão, nhưng hai bàn tay con bé buông thõng xuống lại lạnh ngắt như hai dải thịt đông.
- Đừng sợ, cháu nhỏ... Đến nơi rồi... - Lão lẩm bẩm trong kẽ răng, giọng khàn đặc lẫn vào tiếng gió gầm.
Lão nghiêng vai lách qua khe hẹp giữa cánh cổng gãy và trụ gạch đổ. Đầu gậy trúc gõ cộc cộc xuống nền sân, dẫn đường cho đôi chân tật nguyền bước vào.
Khoảng sân trước từng là niềm kiêu hãnh của viên tri huyện Hoàng Xuân Bột. Năm gian dinh thự nguy nga năm ấy nhìn ra một khoảng sân rộng thênh thang lát toàn gạch Bát Tràng tráng men da lươn phẳng lì, nơi lũ lính lệ thường bồng súng đứng gác, nơi người thợ nghèo bước vào phải cúi đầu sát đất. Giờ đây, mũi gậy của lão Canh chỉ chạm phải những mảnh gạch vỡ vụn, lỗ chỗ những hố nước sâu hoắm. Cỏ gai và cây dại mọc cao ngang thắt lưng, thân cành rậm rạp đan chéo vào nhau như những cánh tay ma quỷ níu chặt lấy vạt áo tơi rách mướp của lão.
Bên mé hữu của sân, tiếng nước róc rách chảy qua một góc bể cạn. Hòn non bộ tạc bằng đá tai mèo chở từ núi non xa xôi về, từng được bài trí theo thế "tam sơn tụ đỉnh", giờ đổ sụp thành một đống đá vụn chìm trong bèo tấm và xác chuột chết trôi. Không còn bóng dáng của những chậu hoa trà, khóm mẫu đơn quý tộc, mùi hôi thối bốc lên từ lòng hồ cạn khiến cơn buồn nôn dội ngược lên cuống họng lão thợ già.
Lão Canh cẩn trọng dò từng bước. Đôi bàn chân trần chai sạn của lão quen thuộc với từng góc sân, từng thớ gạch của mảnh đất này hơn bất kỳ kẻ nào. Mỗi tấc đất nơi đây đều thấm mồ hôi của hàng chục thợ mộc Chàng Sơn bỏ công xây cất, và cũng thấm cả máu uất hận của chính lão ngày bị quan huyện quỵt công.
Mũi gậy trúc bỗng khựng lại khi va vào một gờ đá xanh nhô cao.
Lão Canh dừng bước, buồng tim trong lồng ngực thắt lại thành một khối buốt nhói.
Chín bậc đá.
Đó là chín bậc thềm đá xanh nguyên khối dẫn lên đại sảnh năm gian của tòa dinh thự. Hai mươi năm trước, viên tri huyện Hoàng Xuân Bột mặc áo gấm thêu rồng bốn chân đứng trên đỉnh chín bậc thềm này, tay cầm chén rượu sen thơm phức, mắt lươn ti hí nhìn xuống đám thợ Chàng Sơn đang đòi năm trăm lạng bạc tiền công xây cất. Khi lão Canh bước lên bậc thứ năm để phân trần lẽ phải, mười tên lính lệ vung gậy gỗ lim lao vào đánh đập lão tơi bời. Chúng đập nát đầu gối bên hữu của lão, bẻ quặt mắt cá chân lão, rồi đạp lão lăn lông lốc xuống chân thềm.
"Bò lên đây! Mày muốn lấy bạc thì bò qua chín bậc đá này lạy tao chín lạy, tao thí cho vài đồng kẽm mua thuốc bó xương!"
Tiếng cười the thé ngạo mạn của tên quan tham ngày nào bỗng dội về trong tai lão Canh rõ mồn một, át cả tiếng sấm rền ngoài bãi sông. Hôm ấy, máu của lão Canh nhuộm đỏ chín bậc đá xanh. Lão đã không bò lên để lạy, mà lết thân tàn trở về bờ sông Đáy, nuôi dưỡng mối hận thù ngút trời dẫn đến lời nguyền Ngũ Tuyệt đoạt mạng cả một dòng họ.
Bàn chân khoèo của lão run rẩy đặt lên bậc đá thứ nhất.
Lớp rêu phong bám dày biến mặt đá thành một bẫy trượt nguy hiểm. Lão Canh cắn chặt môi dưới đến bật máu, dồn hết trọng lượng cơ thể vào chiếc chân lành lặn bên tả và cây gậy trúc. Lão nhấc chiếc chân gãy đã co quắp hai mươi năm, giẫm mạnh xuống phiến đá trơn nhẫy. Cơn đau buốt từ khớp xương cũ trồi lên nhức nhối, nhưng lão không dừng lại. Lão bước lên bậc thứ hai, bậc thứ ba, rồi bậc thứ tư.
Mỗi một bậc đá trôi qua dưới bàn chân tàn tật là một khúc ruột uất hận của quá khứ dội ngược về. Nhưng đêm nay, lão không bò lê để van xin cơm thừa canh cặn. Lão bước lên với tư thế của một kẻ gieo nghiệp quay về chuộc tội, mang theo sinh mạng của chính dòng máu kẻ thù trên lưng.
Khi chạm đến bậc đá thứ chín, lão Canh thở dốc, hai lá phổi ran lên từng đợt khò khè. Gió rít qua hàng hiên tạt những giọt mưa lạnh buốt vào mặt lão.
Lão cẩn thận quỳ một gối xuống thềm hiên rộng, nơi có mái ngói âm dương che bớt cơn mưa rừng xối xả. Lão tháo dải vải thô buộc ngang ngực, nhẹ nhàng nhấc bé Thảo ra khỏi lưng mình. Thân thể đứa trẻ nhẹ bẫng, mỏng manh như một chiếc lá khô mục. Lão đặt con bé nằm xuống một góc thềm gạch Bát Tràng tương đối khô ráo, nơi bức tường gạch xây mộc còn che chắn được luồng gió bấc.
Lão cởi chiếc áo tơi tơi tả quấn chặt quanh người con bé, rồi lấy tấm vải dầu bọc đồ nghề phủ thêm một lớp bên ngoài để giữ lại chút hơi ấm tàn tạ.
- Bé Thảo... nghe ông gọi không? - Lão Canh áp bàn tay sần sùi lên vầng trán nóng hổi của đứa trẻ.
Bé Thảo hé đôi mắt lờ đờ, đồng tử đục ngầu vì cơn sốt mê man. Đôi môi con bé nứt nẻ, mấp máy run rẩy:
- Ông ơi... tối quá... chung quanh toàn người đứng nhìn con... Họ khóc... họ đòi kéo chân con xuống...
- Không có ai kéo cháu cả. Cứ nằm yên ở đây. Ông đi lấy lại vía cho cháu. - Lão Canh vỗ nhẹ lên vai con bé, giọng lão run rẩy nhưng chứa đầy vẻ dứt khoát.
Lão đứng dậy, tay trái cầm chắc cây gậy trúc, tay phải thọc vào thắt lưng kiểm tra lại chiếc đục thép và cây búa gỗ lim nặng trịch. Đồ nghề của người thợ mộc Chàng Sơn vẫn nằm ngay ngắn bên hông lão, sẵn sàng cho cuộc đối đầu cuối cùng.
Lão quay mặt về phía năm gian nhà lớn.
Cánh cửa bức bàn bằng gỗ gụ chạm hoa văn tứ quý ở gian giữa đã gãy sụp tự bao giờ, chỉ còn trơ lại khung cửa đen ngòm như một cái miệng quái vật há hốc giữa đêm mưa. Lão Canh chống gậy, bước qua bậu cửa đá cao hơn gang tay để tiến vào bên trong.
Một mùi xú khí xộc thẳng vào mặt lão. Đó là thứ mùi tổng hòa của ẩm mốc, phân dơi, rơm rác thối rữa và tử khí tích tụ suốt hai mươi năm. Không gian bên trong tĩnh lặng đến rợn người, chỉ có tiếng nước dột từ mái nhà rơi tõng tã xuống sàn gạch hoang phế.
Lão Canh đưa mắt nhìn quanh theo thói quen, dẫu trước mắt lão chỉ là một màn đêm đen kịt. Nhưng đối với một người thợ mộc đã tự tay đo từng tấc đất, bổ từng nhát búa dựng nên ngôi nhà này, đôi mắt lão nằm ở đôi bàn tay và trí nhớ. Tòa dinh thự này gồm năm gian hai tầng, xây theo lối tiền kẻ hậu bẩy, vì kèo chạm trổ tinh vi. Gian giữa là nơi đặt bàn thờ tổ tiên họ Hoàng và sập gụ mạ vàng của viên quan huyện, hai gian bên là nơi tiếp khách và phòng ngủ của các bà vợ bé.
Lão Canh lê bước gậy trên sàn gạch vụn, tiến sâu vào gian giữa. Lão vung gậy chạm phải những mảnh ván mục nát nằm la liệt dưới chân. Đó là xác của chiếc sập gụ từng trị giá hàng trăm lạng bạc, nay đã bị mọt nghiền nát thành bột vụn. Phía trên cao, bức hoành phi sơn son thiếp vàng khắc bốn chữ "Hoàng Tộc Xương Thịnh" thuở nào ắt hẳn đã rơi xuống đất vỡ tan tành. Toàn bộ xà ngang, vì kèo, rui mè của gian nhà đều đã mục rỗng dưới tác động của lời nguyền năm xưa. Ngôi nhà đang chết dần từng ngày, từng thớ gỗ oằn mình rên rỉ dưới sức nặng của mái ngói âm dương sắp sụp đổ.
Thế nhưng, khi lão Canh tiến gần hơn về phía trung tâm của gian giữa, lão bỗng nhận thấy một điều kỳ quái đến lạnh gáy.
Tiếng gió rít qua mái ngói dột dường như bị bẻ gãy khi chạm đến khu vực này. Không khí quanh đây đặc quánh lại, lạnh buốt thấu xương tủy, lạnh hơn cả cơn gió bấc ngoài trời.
Lão Canh vươn cánh tay khẳng khiu ra phía trước. Bàn tay lão chạm vào thân một cây cột cái khổng lồ.
Lão giật thót mình.
Mười hai trụ lim chống đỡ toàn bộ tòa dinh thự năm xưa vẫn đứng sừng sững giữa cảnh hoang tàn đổ nát. Xung quanh chúng, rui mè đã mục, vách gỗ đã mủn, tường gạch đã nứt toác, nhưng mười hai cây cột lim này không hề suy suyển dù chỉ một phân. Chúng đứng sừng sững giữa bóng tối như mười hai bóng ma khổng lồ đang canh giữ một nấm mồ tập thể.
Lão Canh áp lòng bàn tay vào thân cột.
Bình thường, gỗ lim cổ thụ mùa đông tuy lạnh nhưng thớ gỗ luôn đanh chắc, khô ráo và tỏa ra mùi thơm ngai ngái đặc trưng của núi rừng xứ Đoài. Nhưng cây cột này hoàn toàn khác lạ. Mặt gỗ không hề khô ráo mà nhầy nhụa một lớp chất lỏng nhớp nháp.
Lão Canh miết mạnh đầu ngón tay lên thớ gỗ, rồi đưa lên mũi ngửi.
Một mùi tanh nồng xộc thẳng vào đại não lão. Đó tuyệt đối không phải là mùi nước mưa ngấm rêu phong, cũng không phải mùi nhựa cây thông thường. Đó là mùi tanh tưởi, mặn chát của máu sống, thứ máu tanh tưởi của một sinh vật đang thối rữa nhưng vẫn chưa chết hẳn.
Chất nhựa dính dớp rỉ ra từ từng thớ gỗ lim, chảy ngoằn ngoèo thành từng vệt dài từ trên đỉnh kèo xuống tận chân tảng đá hoa sen.
- Huyết mộc... Bùa đã ăn sâu vào tủy lim rồi... - Lão Canh run rẩy thốt lên, toàn thân lão chấn động mãnh liệt.
Hai mươi năm trước, chính tại cây cột cái gian giữa này, lão Canh đã bí mật khoét một hốc rỗng ở tim cột trước khi dựng nhà. Lão cắn rách đầu ngón tay, dùng máu tươi của chính mình yểm chiếc bát sứt ngửa miệng để hứng cạn tài lộc của dòng họ Hoàng, và chiếc thuyền gỗ chúc mũi ra cửa để chở toàn bộ phúc đức của chúng trôi ra sông Đáy. Khi ấy, lão chỉ nghĩ đến sự trừng phạt, lão muốn kẻ ác phải tán gia bại sản, tuyệt tự tuyệt tôn.
Lão không ngờ rằng, lời nguyền Ngũ Tuyệt cùng tà thuật Lỗ Ban kết hợp với máu oán hận đã biến mười hai cây cột lim này thành một cỗ máy hút sinh khí khủng khiếp. Suốt hai mươi năm qua, trong khi con cháu họ Hoàng tha phương cầu thực, chết bờ chết bụi vì đói khát và bệnh tật, thì mười hai cây cột lim này đã âm thầm hút cạn từng giọt sinh mệnh, từng giọt máu của dòng họ đó để nuôi dưỡng tà khí. Càng nhiều người chết, cột lim càng đanh lại, thân gỗ càng rỉ ra thứ nhựa tanh tưởi như máu tươi để duy trì sự trừng phạt vĩnh cửu.
Cây cột cái đang thở.
Lão Canh áp tai vào lớp gỗ dính nhớp. Từ sâu bên trong lõi lim sâu thẳm, một âm thanh trầm đục, nhịp nhàng vọng ra.
Thình thịch... Thình thịch... Thình thịch...
Đó là nhịp đập của tim gỗ, hay chính là tiếng kêu oan khuất của những linh hồn họ Hoàng đã bị giam cầm trong cột lim suốt hai thập kỷ qua. Mỗi nhịp đập dội vào màng nhĩ lão Canh như một tiếng sét, nhắc nhở lão về món nợ máu khủng khiếp mà chính tay lão đã tạo tác nên.
Ở ngoài thềm hiên, tiếng rên rỉ của bé Thảo bỗng ré lên một hồi thảm thiết rồi lịm dần:
- Ông ơi... ngực con đau quá... Ai bóp nghẹt tim con rồi...
Lão Canh giật mình buông tay khỏi thân cột lim. Lão hiểu ra tất cả. Nhịp đập trong cột lim đang tăng tốc, tà khí đang chuẩn bị rút nốt giọt sinh khí cuối cùng của đứa cháu nội duy nhất còn sót lại của dòng họ Hoàng. Khi đứa trẻ này trút hơi thở cuối cùng, lời nguyền Ngũ Tuyệt sẽ hoàn tất trọn vẹn vòng quay của nó, và mười hai cây cột lim này sẽ vĩnh viễn hóa thành cột quỷ giữa cõi trần.
Thời gian của đứa trẻ chỉ còn tính bằng từng khắc.
Lão Canh nghiến chặt hàm răng lung lay, bàn tay gầy guộc run rẩy tháo chiếc bọc vải thô bên hông. Lão rút ra cây đục thép sắc lẹm và cây búa gỗ lim nặng trịch. Lưỡi thép vừa lộ ra ngoài không khí bỗng phát ra tiếng rung u uẩn, như ngửi thấy mùi máu tanh nồng đang rỉ ra từ thân cột.
Lão Canh đứng thẳng người lên trên chiếc chân què quặt, ngẩng đầu đối diện với bóng đen khổng lồ của cây cột cái giữa gian nhà hoang tàn, chuẩn bị giáng nhát đục sinh tử.