Huyết Thước Trừng Gia - Chương 20: Đào Cột Gỗ Lim Phá Bùa
Gió bấc rít từng cơn điên loạn qua bãi bồi ven sông Đáy, quất thẳng những hạt mưa buốt giá vào vách nứa xiêu vẹo của căn chòi rách. Đất trời Chàng Sơn…
Nội dung chương
Gió bấc rít từng cơn điên loạn qua bãi bồi ven sông Đáy, quất thẳng những hạt mưa buốt giá vào vách nứa xiêu vẹo của căn chòi rách. Đất trời Chàng Sơn chìm trong một màu đen đặc quánh, thỉnh thoảng lại bị xé toạc bởi những tia chớp sáng lóa rạch ngang đỉnh núi.
Lý Văn Canh quỳ gối trên nền đất nhớp nháp, đôi bàn tay gầy guộc run rẩy vuốt lại mái tóc bết dính nước mưa trên trán bé Thảo. Hơi thở của đứa trẻ lúc này mỏng mảnh như tơ vò, từng đợt nóng sốt hầm hập phả ra từ lồng ngực bé nhỏ gầy trơ xương sườn. Con bé vẫn nằm mê man, đôi môi nứt nẻ thỉnh thoảng lại mấp máy gọi mẹ trong cơn mê sảng triền miên.
Lão Canh với tay lấy dải vải gai thô dài vốn dùng để buộc bó nứa, trải rộng trên mặt đất. Lão cẩn thận nhấc thân hình nhẹ bẫng của đứa nhỏ đặt lên lưng mình, rồi vòng từng đoạn dây gai qua ngực, qua hông, thắt những nút bện thật chặt để cố định thân hình con bé vào tấm lưng còng đầy ghẻ lở. Da thịt tàn tạ của lão rát bỏng khi sợi dây siết mạnh vào những vết loét chưa kịp lên da non, nhưng lão chỉ cắn chặt quai hàm, không phát ra một tiếng rên rỉ.
Bên hông lão, bọc đồ nghề thợ mộc gồm chiếc đục thép sắc lẹm, búa gỗ lim nặng trịch và cây Huyết thước mun đen được bọc kín trong lớp vải dầu dày, buộc ghì chặt vào thắt lưng thô. Lão vớ lấy cây gậy trúc già dựng ở góc cột, chống mạnh mũi gậy xuống nền đất để lấy điểm tựa, từ từ nâng thân hình còng rạp đứng thẳng dậy. Chiếc chân teo tóp gãy gập rung lên bần bật dưới sức nặng của hai mạng người cùng bọc công cụ bằng sắt thép.
Lão khẽ nghiêng đầu, áp gò má nhăn nheo lạnh ngắt vào vòm má nóng hổi của đứa trẻ, cất giọng khàn đục át cả tiếng gió gầm:
- Cố giữ lấy một hơi thở, con ơi. Lão Canh đưa mày về lại cái nơi bắt đầu mối oan nghiệt này.
Lão đưa tay đẩy tung tấm liếp nứa đã mục rỗng. Gió bão bên ngoài lập tức chực chờ ùa vào, thốc tung vạt áo tơi lá rách bươm của lão thợ mộc mù, tạt một luồng mưa buốt lạnh thấu xương vào mặt. Lý Văn Canh hít một hơi dài đầy mùi bùn non tanh nồng của dòng sông đang mùa trở dạ, rồi dứt khoát bước một chân qua bậu cửa chòi.
Bàn chân trần nứt nẻ lún sâu xuống bùn lầy nhão nhoét của bãi bồi. Sông Đáy đêm nay cuộn sóng ầm ào, nước từ thượng nguồn đổ về va đập liên hồi vào những triền đá hộc, phát ra âm thanh gầm rú tựa như bầy trâu điên lồng lộn dưới đáy vực. Lão Canh không nhìn thấy gì, đôi tròng mắt đục ngầu chỉ cảm nhận được luồng sáng chói lòa mỗi khi sấm sét giáng xuống mặt đất, kèm theo hơi ẩm lạnh buốt đặc trưng của những cơn bão dữ cuối năm.
Lão lần mò bước đi dựa vào cảm giác của lòng bàn chân và tiếng lạo xạo của mũi gậy trúc cắm vào sỏi đá. Mỗi bước tiến về phía trước là một cực hình tàn nhẫn đối với cái chân khoèo tàn phế. Lão phải dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể lên chiếc chân lành lặn còn lại, dùng mũi gậy găm sâu vào đất trơn trượt để kéo chiếc chân gãy lê lết theo sau. Bùn đất lạnh ngắt ngập qua mắt cá, bám chặt lấy gót chân như muốn lôi tuột hai ông cháu xuống đáy sông sâu.
Mưa mỗi lúc một nặng hạt, quất xối xả vào tấm lưng gầy guộc. Đứa trẻ sau lưng bắt đầu co giật từng cơn vì lạnh, hai cánh tay nhỏ xíu vô thức quặp chặt lấy cổ lão Canh, mười đầu ngón tay bấu sâu vào lớp da thịt lở loét. Vết thương cũ rách toạc ra, máu tanh rỉ lẫn vào nước mưa chảy ròng ròng xuống bụng lão, nhưng lão thợ mộc già vẫn ghì chặt bàn tay giữ bọc đục lim bên sườn, bước từng bước nặng nề hướng về phía con đê quai Chàng Sơn.
Con đê quai đá sừng sững chắn giữa bãi sông và lối dẫn vào làng. Muốn đi đến phế tích dinh thự mười hai cột lim, lão buộc phải vượt qua con dốc dựng đứng lát đầy đá hộc trơn như bôi mỡ này. Gió trên mặt đê thổi thốc từ cánh đồng lúa mênh mông tạt ngang qua, mang theo sức mạnh cuồng bạo có thể hất tung bất kỳ thứ gì cản đường.
Lão Canh cắm mạnh đầu gậy trúc vào một khe đá, rướn người trèo lên bậc dốc đầu tiên. Đôi bàn chân tòe ngón bấu chặt vào mặt rêu xanh trơn tuột. Đột nhiên, một luồng gió giật cực mạnh quét ngang qua sườn đê, xé toạc nửa vạt áo tơi còn sót lại trên vai lão. Chiếc chân teo tóp mất đà, trượt dài trên phiến đá hộc.
Lão Canh ngã nhào về phía trước. Theo bản năng của một người thợ cả đời bảo vệ những tác phẩm quý giá, lão gập cong sống lưng, dùng toàn bộ bả vai và ngực mình đập mạnh xuống nền đá sắc nhọn để che chắn cho thân thể bé Thảo nằm phía sau.
Rầm!
Khối thịt xương già nua va chạm chát chúa vào đá tảng. Cơn đau thấu tận tim gan bùng lên từ khớp gối tàn phế và xương sườn rạn nứt. Máu tươi ứa ra từ khóe miệng lão Canh, mặn chát và nóng hổi. Dưới sức ép của cú ngã, bé Thảo giật mình thét lên một tiếng khóc nghẹn ngào rồi lại lịm đi, đầu ngả ngoẹo sang một bên vai lão.
Lão Canh nằm rạp dưới mặt đá buốt giá, lồng ngực phập phồng đứt quãng. Nước mưa xối xả gội sạch những giọt máu vừa trào ra khỏi môi lão. Lão Canh nghiến răng, trừng đôi mắt mù lòa lên bầu trời đen kịt, nơi sấm sét vẫn rền rĩ từng hồi rung chuyển núi non Chàng Sơn.
Hai mươi năm trước, cũng trên con đường dẫn vào làng này, lão từng bị đám lính lệ kéo lê xềnh xệch sau khi bị bẻ gãy chân ngay trước cửa công đường. Năm ấy, lòng lão tràn ngập sự phẫn uất, cay đắng và ý chí báo thù hừng hực. Lão đã gào khóc nguyền rủa dòng họ Hoàng Xuân, đem cả tính mạng, dòng dõi và linh hồn của mình ra đánh đổi lấy sự trừng phạt tàn khốc nhất của thánh Lỗ Ban.
Nhưng giờ đây, khi nằm sõng soài trên mặt đá trơn trượt giữa cơn giông bão, mang trên lưng giọt máu cuối cùng của kẻ thù năm xưa, lão nhận ra sự báo thù ấy chẳng hề đem lại cho lão một ngày thanh thản. Hai mươi năm qua, cái chết của những kẻ họ Hoàng không làm chân lão lành lại, không làm mắt lão sáng ra, càng không xua tan được nỗi cô độc lạnh lẽo trong căn chòi rách. Lão chỉ tạo ra một chuỗi oan khiên vô tận, để rồi đêm nay, một đứa trẻ vô tội bảy tuổi phải trả giá bằng tính mạng cho sự tàn độc của ông nội nó và sự thù hận mù quáng của chính lão.
- Không được gục... Canh ơi... mày chưa được phép chết...
Lão thợ già lẩm bẩm trong miệng, hai bàn tay thô ráp cào cấu vào bùn đá, móng tay lật ngược bật máu. Lão chống hai khuỷu tay xuống dốc đê, dùng hết sức bình sinh nâng người dậy một lần nữa. Mũi gậy trúc lại cắm sâu vào thớ đất, chiếc chân lành run rẩy đạp mạnh, từng tấc, từng thước một, lão lê tấm thân tàn tật cùng đứa nhỏ trèo lên đến mặt đê quai.
Gió trên đỉnh đê gầm thét như muốn xé toạc không gian. Hàng tre đực chạy dọc theo mép đê oằn mình rạp sát xuống mặt đất, những thân tre cọ xát vào nhau phát ra chuỗi âm thanh ken két nhức óc.
Giữa tiếng cuồng phong gầm rú và tiếng sấm sét nổ vang trời, một âm thanh quái dị bắt đầu trỗi dậy. Gió luồn qua những mắt tre rỗng, rít lên từng hồi the thé, khi bổng khi trầm, lúc nghe như tiếng khóc than ai oán của người sống, lúc lại hệt như giọng cười sặc sụa man rợ của ma quỷ chốn cửu tuyền.
Trong sự hỗn loạn của bão tố, tai lão Canh giật thót khi nghe thấy một thanh âm quen thuộc đến rợn người vẳng lại từ phía rặng tre nghiêng ngả.
"Lý Văn Canh... Lý Văn Canh... Mày bò đi đâu đấy hử thằng thợ mộc hèn hạ?"
Tiếng gọi âm u, nhừa nhựa đặc sệt giọng hống hách năm nào của viên tri huyện Hoàng Xuân Bột dội thẳng vào màng nhĩ lão. Tiếng cười the thé, trịch thượng của kẻ từng mặc áo gấm thêu rồng bốn chân vang lên từng tràng dài man dại:
"Mày tưởng yểm được cả họ nhà tao là mày thắng sao? Nhìn lại thân xác ghẻ lở, mù lòa của mày xem! Mày giết con tao, giết cháu tao, rồi đêm nay mày cũng phải bỏ xác ngoài triền đê này thôi! Đưa con bé lại đây... Nó là máu mủ nhà tao, nó phải chết cùng với dòng họ Hoàng để bồi táng cho tao!"
Lão Canh khựng lại giữa đỉnh đê, tóc bạc ướt sũng bết chặt vào trán. Ngực lão nghẽn lại, từng mạch máu dưới thái dương đập liên hồi như muốn vỡ tung. Gió quất ràn rạt qua tai mang theo mùi hôi thối nồng nặc của bùn đất và xác động vật thối rữa dưới sông trôi dạt vào bờ. Bóng ma của lòng hận thù, nỗi sợ hãi tà thuật và tội lỗi dồn dập kéo về bủa vây lấy tâm trí lão.
Xung quanh rặng tre ngả nghiêng, tiếng gió rít càng lúc càng giống như tiếng hò reo của đám lính lệ năm xưa đang cầm gậy gộc vây quanh đánh đập lão, lẫn trong tiếng gầm thét đòi mạng của những hồn ma chết oan chết uổng của dòng họ Hoàng. Những bóng đen chập chờn lướt qua trong luồng ánh sáng le lói của sấm sét, như muốn nhào tới giật phăng đứa bé trên lưng lão xuống vực nước sâu.
Bé Thảo trên lưng lại run bắn lên, bàn tay nhỏ bé cào cấu vào vai lão, tiếng thở hắt ra nghẹn ứ:
- Tha cho con... Ông ơi lạnh quá... Ma bắt con đi mất...
Tiếng kêu thảng thốt của đứa trẻ như một nhát búa giáng thẳng vào cơn chấn động của lão thợ già. Đôi mắt mù lòa của lão Canh bỗng trừng lớn, toàn bộ sự do dự và sợ hãi tan biến sạch. Lão siết chặt bọc đục sắt bên hông, ngửa cổ lên trời thét vang một tiếng đanh thép, giọng gầm át cả tiếng sấm rền:
- Hoàng Xuân Bột! Hồn ma mày có về đây thì mở mắt ra mà nhìn! Nợ máu hai mươi năm trước, chính tay Lý Văn Canh này gieo xuống thì đêm nay chính tay tao sẽ nhổ bỏ! Tao không sợ mày, tao càng không sợ lũ tà ma quỷ quái do tao tạo ra! Mày muốn đòi mạng thì theo tao vào dinh thự, đừng hòng đụng vào một sợi tóc của đứa nhỏ này!
Tiếng thét dũng mãnh của người thợ cả Chàng Sơn xé tan màn mưa bão, đập dội vào vách núi xa xa.
Kỳ lạ thay, sau tiếng gầm ấy, tiếng gió rít qua mắt tre bỗng nhiên hạ bớt vẻ the thé man rợ, chỉ còn tiếng xào xạc dữ dội của cành lá bị vùi dập dưới cơn mưa dầm. Lão Canh không hề dừng lại để thở, lão vung mạnh cây gậy trúc dẫn đường, nghiến răng rảo bước thật nhanh trên triền đê quai đá.
Chiếc chân què quặt bước thấp bước cao, bùn đất bắn lên tận sống lưng, hòa lẫn với mồ hôi và máu đỏ. Mỗi lần trượt chân suýt ngã là một lần lão dùng hết sức tàn của đôi vai lực lưỡng gồng lên chống đỡ, quyết không để thân thể đứa trẻ va chạm thêm một lần nào nữa. Trong lòng lão lúc này chỉ còn một đích đến duy nhất, một ý niệm sống còn duy nhất: phải đến được nơi mười hai cây cột lim tọa lạc trước khi hơi thở sau lưng lão hoàn toàn tắt ngấm.
Rời khỏi triền đê quai, lão Canh rẽ vào con đường lát gạch cổ dẫn vào khu xóm Tây của làng Chàng Sơn. Đoạn đường này vắng ngắt như bãi tha ma, hai bên là những bức tường rêu phong đổ nát của những gia đình thợ mộc đã đóng chặt cửa cài then trốn bão. Nước mưa trên các mái ngói âm dương xối xuống như thác đổ, biến mặt đường gạch Bát Tràng thành một con suối cạn chảy xiết.
Lão thợ già cắm cúi lội nước, bàn chân chai sần cảm nhận rõ từng rãnh mạch vữa đã vỡ nát dưới lớp bùn non. Càng tiến sâu vào con ngõ cụt dẫn về dinh thự hoang phế, không khí xung quanh càng trở nên ngột ngạt, tanh nồng một cách kỳ quái. Mùi rêu phong mục rữa quyện lẫn với mùi gỗ lim ẩm ướt phảng phất trong làn gió bấc buốt giá.
Đó là mùi tử khí của một cơ ngơi từng nguy nga lộng lẫy bậc nhất vùng xứ Đoài, nay đã bị tà thuật gặm nhấm suốt hai mươi năm ròng rã.
Một ánh chớp xanh lè xé toạc bầu trời đêm, chiếu rọi khung cảnh hoang tàn rợn ngợp ngay trước mặt người thợ già.
Cách mũi gậy trúc của lão Canh chưa đầy năm bước chân, bóng đen khổng lồ của cổng vòm dinh thự họ Hoàng sừng sững hiện ra giữa màn mưa trắng xóa. Bức tường bao xây bằng gạch mộc năm xưa nay đã sụp đổ quá nửa, gạch đá ngổn ngang chìm trong cỏ dại ngập đến đầu gối.
Cánh cổng gỗ đồ sộ từng chạm trổ hình tượng kỳ lân vờn ngọc uy nghi nay đã gãy rời một bên bản lề rỉ sét, nghiêng ngả tựa vào trụ đá nứt toác. Đầu con kỳ lân bằng gỗ lim bị mục ruỗng phân nửa, hàm răng nhe ra dữ tợn trong bóng tối, rỉ xuống từng dòng nước mưa đen ngòm tanh tưởi tựa như máu ứ đọng từ cổ họng loài ác thú.
Phía sau cánh cổng gãy nát ấy, bóng dáng đen ngòm của ngôi nhà năm gian hai tầng với mười hai trụ lim đứng im lìm như một ngôi mộ khổng lồ giữa đêm giông bão, chờ đợi kẻ đã tạo ra nó bước vào để hoàn tất vòng quay định mệnh.
Chương khác
- Chương 17: Đứa Trẻ Vô Tội Thoi Thóp Vì Lời Nguyền
- Chương 18: Nghiệp Báo Hai Phương Giáng Xuống
- Chương 19: Lý Văn Canh Quyết Định Tìm Về Dinh Thự Hoang Phế
- Chương 21: Bóng Ma Viên Tri Huyện Hoàng Xuân Bột Giáng Xuống Đòn Phản Phệ
- Chương 22: Chấp Nhận Cái Chết Để Chuộc Lại Lương Tâm
- Chương 23: Cụ Tổ Lý Hùng Lực Đội Mồ Cho Hậu Thế