Huyết Thước Trừng Gia - Chương 17: Đứa Trẻ Vô Tội Thoi Thóp Vì Lời Nguyền

Ngọn lửa trong góc chòi bập bùng soi rọi đôi mắt trũng sâu của bé Thảo. Con bé he hé mở mi mắt bết dính bụi đường, ngơ ngác nhìn quanh mái lợp rơm rách…

Nội dung chương

Ngọn lửa trong góc chòi bập bùng soi rọi đôi mắt trũng sâu của bé Thảo. Con bé he hé mở mi mắt bết dính bụi đường, ngơ ngác nhìn quanh mái lợp rơm rách nát đang rung lên bần bật dưới từng đợt gió bấc từ mé sông Đáy thốc vào. Cơn đói cồn cào khiến bụng nó réo lên ùng ục, hai cánh mũi phập phồng hít lấy mùi khói củi ẩm ướt và hơi cháo hoa loãng bốc lên từ chiếc niêu đất sứt quai đặt cạnh bếp.

Lý Văn Canh run rẩy rút chiếc muôi gỗ mun đã mòn vẹt mép, múc một muỗng nước cháo còn bốc khói nghi ngút. Bàn tay tàn tật của lão khẽ run, từng giọt nước cháo sánh đặc rơi tí tách trở lại lòng niêu. Lão ghé miệng thổi phù phù cho bớt hơi nóng hôi hổi, rồi chầm chậm đưa chiếc muôi gỗ đến gần bờ môi tím tái, khô nẻ của đứa trẻ.

- Uống đi con... - Giọng lão Canh khàn đặc, nghẹn ứ nơi cổ họng - Cứ từ từ mà nuốt, kẻo bỏng ruột.

Đứa bé ăn mày ngửi thấy mùi gạo mới thì hai mắt sáng rực lên. Nó không kịp sợ hãi người đàn ông già nua mù lòa, mặt mày ghẻ lở gớm ghiếc trước mặt nữa. Hai bàn tay nhỏ xíu, đen nhẻm bùn đất của nó vội vàng chộp lấy cán muôi, run rẩy đưa lên miệng. Từng ngụm nước cháo ấm nóng trôi qua cuống họng khô cháy, làm rực lên chút hơi ấm mong manh trong lồng ngực gầy guộc trơ xương sườn. Con bé nuốt ừng ực, vừa nuốt vừa thở dốc, hai dòng nước mắt lăn dài trên đôi má nhem nhuốc, rửa trôi những vệt bùn khô thành hai vệt trắng bệch.

Lão Canh ngồi bất động, đôi tai lão lắng nghe từng tiếng nuốt vội vã của con bé, nghe cả tiếng hàm răng run cầm cập va vào gáo gỗ. Mỗi một nhịp thở gấp gáp của đứa trẻ bảy tuổi lại như một nhát đục nện thẳng vào lồng ngực lão. Bàn tay trái của lão vẫn nắm chặt chiếc khánh bạc chạm hình kỳ lân cùng chiếc bát sành sứt mẻ đặt bên cạnh manh chiếu rách.

Chiếc khánh bạc của dòng họ Hoàng Xuân Bột.

Vật gia bảo từng treo trên cổ những đứa con nhà quan quyền quý, kẻ ăn trên ngồi trốc, giờ đây nằm vất vưởng trên ngực một đứa bé rách rưới trôi dạt đến tận xó chòi hoang phế này.

- Đói lắm phải không? - Lão Canh thì thào, đưa bàn tay sần sùi cọ nhẹ vào mớ tóc rối bù như tổ quạ của con bé - Ăn thêm muỗng nữa. Trong niêu vẫn còn.

Bé Thảo húp sạch muỗng cháo thứ ba, hơi ấm bắt đầu lan dần ra tứ chi, nhưng hàm răng nó vẫn không ngừng va vào nhau lập cập. Nó rụt cổ lại trong manh áo vá chằng vá đụp mỏng manh, ngước nhìn ông lão mù lòa bằng đôi mắt trong veo nhưng đầy sợ hãi:

- Ông ơi... cháo ngon quá... Đã lâu lắm rồi con mới được húp nước cháo nóng thế này...

Lão Canh đặt chiếc muôi gỗ xuống cạnh bếp, ngón tay lão lần tìm mép áo rách của mình, siết chặt lấy thớ vải thô để kìm nén cơn chấn động đang cuộn trào trong huyết quản:

- Cha mẹ con đâu? Sao lại để một đứa bé thế này lang bạt đầu đường xó chợ?

Nghe lão hỏi, khóe mắt bé Thảo đỏ hoe. Con bé co hai chân lại, ôm lấy đầu gối, cằm tì lên lớp vải rách lộ ra làn da tím tái vì sương muối ven sông. Giọng nói trẻ con non nớt cất lên, lẫn trong tiếng mưa đêm đập vào bờ đất nhão nhoét ngoài bến nước:

- Cha con... chết rồi ông ạ. Mẹ con bảo ngày xưa nhà con ở dinh thự to lắm, có nhiều cột gỗ lim to bằng hai người ôm, có sân gạch đỏ au bóng loáng. Nhưng từ khi con chưa đẻ ra, ông nội con đã đột ngột hộc máu chết giữa sân. Mọi người bảo ông nội bị ma bắt, bị quỷ đòi nợ máu...

Ngực lão Canh giật thót. Bàn tay lão bấu chặt vào ống chân gãy gập tàn phế của mình. Đó là cái chết của Hoàng Xuân Bột hai mươi năm trước, cái chết bất đắc kỳ tử giữa ban ngày ban mặt, ngay dưới chân cây cột cái gỗ lim mười hai trụ mà lão đã tự tay yểm bùa Ngũ Tuyệt.

Bé Thảo không hề hay biết người đàn ông mù lòa ngồi đối diện chính là căn nguyên của mọi thảm cảnh ấy. Nó sụt sịt mũi, tiếp tục kể bằng giọng ngây ngô đến xé lòng:

- Sau khi ông nội chết, cửa nhà bắt đầu lụn bại. Cha con bảo cây cột lim trong nhà cứ đêm đêm lại rỉ ra chất nước đỏ lòm như máu tươi, ngửi tanh nồng nặc. Cha sợ quá, không dám ở trong nhà, suốt ngày bỏ đi hút thuốc phiện. Bao nhiêu ruộng đất màu mỡ, trâu bò, lúa gạo ở Chàng Sơn đều bị cha đem bán sạch để đổi lấy những bàn đèn khói đen kịt. Đến cả mấy chục bức hoành phi, cánh cửa gỗ chạm trổ kỳ lân mẹ con giữ lại, cha cũng cạy đem đi gán nợ...

Con bé dừng lại, đưa bàn tay run rẩy gạt giọt nước mũi đang chảy xuống môi. Lão Canh vẫn ngồi im phăng phắc như một pho tượng đá đóng rêu ven đê. Lão không dám thở mạnh, chỉ có cơ mặt giật giật từng hồi theo từng lời con bé thốt ra.

- Rồi một đêm mùa đông ba năm trước... - Bé Thảo nấc lên từng tiếng nghẹn ngào - Mấy người đòi nợ kéo đến, họ mang theo gậy gộc đập phá tan tành những gì còn sót lại trong dinh thự. Cha con lúc ấy gầy trơ xương, nằm liệt bên góc bàn đèn sùi bọt mép. Họ lôi cha con ném ra ngoài đường cái giữa trời mưa phùn gió bấc. Mẹ con quỳ lạy van xin rách cả trán, nhưng họ không tha. Sáng hôm sau tỉnh dậy, cha con đã cứng đờ bên rãnh nước đầu làng, miệng vẫn còn ngậm chặt cái tẩu thuốc rỗng không...

Từng lời kể của đứa trẻ rơi tọt vào không gian u tối của căn chòi lá, nặng trĩu và buốt giá. Lời nguyền Lỗ Ban năm ấy lão gieo xuống: tán gia bại sản, tuyệt tự tuyệt tôn. Chiếc thuyền nan chúc mũi cắm sâu xuống đáy bùn đã thực sự kéo phăng toàn bộ vinh hoa, phú quý, sinh khí của dòng họ quan huyện xuống cõi chết. Con trai của kẻ thủ ác đã chết rấp chết vùi trong vũng bùn ô nhục của nha phiến, đúng như những gì tà thuật hung hiểm nhất từng định đoạt.

- Thế còn mẹ con? - Lão Canh cất giọng, âm thanh khàn đặc như tiếng hai thanh củi khô cọ vào nhau.

- Cha chết rồi, chủ nợ đến dỡ sạch ngói âm dương trên mái dinh thự đem bán. Họ đuổi hai mẹ con con đi. Mẹ con bế con đi ăn xin, từ tỉnh Đông dạt sang tỉnh Đoài. Mẹ bảo phải đi thật xa, trốn khỏi cái đất Chàng Sơn đầy ma quỷ oán hận này thì con mới sống sót được. Nhưng đi đến đâu người ta cũng xua đuổi. Người ta bảo nhìn mặt con giống quân cướp ngày, giống dòng giống quan tham bóc lột dân nghèo nên không ai cho ăn. Có lần mẹ con vào xin một bát cơm nguội ở chợ phiên, người ta thả chó ra cắn rách cả bắp chân mẹ...

Bé Thảo đưa ngón tay gầy gò chỉ vào chiếc bát sành sứt mẻ nằm chỏng chơ trên nền đất:

- Mẹ con chỉ còn mỗi chiếc bát sứt này để ngửa tay xin ăn. Mùa đông năm ngoái rét lắm ông ơi. Mẹ con bị ho ra máu, nằm co ro dưới mái hiên một ngôi chùa rách bên bờ đê. Trước khi nhắm mắt, mẹ tháo chiếc khánh bạc trên cổ đeo vào cho con. Mẹ dặn con phải giữ lấy chiếc bát sứt và miếng bạc, đó là vật duy nhất chứng minh con là con người, không phải giống súc vật chết đường chết chợ. Mẹ bảo... nếu đói quá thì tìm đường lần về quê nội Chàng Sơn, biết đâu còn có người thương tình nhớ lại chút ân nghĩa ngày xưa mà ba thí cho nắm cơm...

Lão Canh nghe đến đó thì lồng ngực quặn thắt lại, đau đớn như có ngàn mũi kim châm. Ân nghĩa ư? Dòng họ Hoàng Xuân Bột ở đất Chàng Sơn này làm gì có ân nghĩa với ai ngoài máu và nước mắt của hàng trăm người thợ mộc nghèo khổ? Quan huyện đã vắt kiệt mồ hôi, quỵt sạch tiền công, sai lính bẻ gãy chân lão, bắt lão bò qua chín bậc đá xanh nhục nhã. Mối thù ấy ngút trời, dân làng Chàng Sơn căm hận họ Hoàng đến tận xương tủy. Người mẹ tội nghiệp kia tha hương cầu thực, trước lúc chết vẫn ngây thơ tin rằng mảnh đất chôn nhau cắt rốn của tổ tiên sẽ mở rộng vòng tay dung thứ cho đứa con thơ dại của mình.

Nhưng người đàn bà ấy đâu biết rằng, chính vùng đất này là nơi đã khai sinh ra lời nguyền ác độc nhất, giam cầm số phận của con bé từ lúc nó chưa thành hình trong bụng mẹ.

- Mẹ chết rồi, một mình con bơ vơ... - Giọng Thảo nhỏ dần, đôi mắt con bé đờ đẫn nhìn vào đốm than đỏ le lói trong bếp - Con cứ đi, vừa đi vừa xin ăn. Người ta đánh, người ta đuổi... Con cứ lần theo con sông này mà đi. Mấy hôm trước trời rét quá, tuyết rơi trên núi cao gió thổi buốt thấu xương, con nằm lả ở chân đê bên kia sông Đáy. Bụng đói cồn cào, hai chân sưng vù không bước nổi nữa. Con tưởng con đã chết như mẹ con rồi...

Lão Canh khẽ giật mình, giọng run run:

- Con nằm lả bên chân đê? Thế sao con lần được sang bến đò này giữa đêm hôm mưa gió?

Bé Thảo chớp chớp mắt, vẻ mặt lộ rõ nét hoang mang của một đứa trẻ vừa bước qua ranh giới giữa cõi âm và cõi dương:

- Con không biết nữa... Lúc con nằm thiếp đi trong bụi cỏ may, rét buốt làm toàn thân con cứng đờ. Trong cơn mê sảng, con nhìn thấy một bóng người kỳ lạ lắm...

- Bóng người thế nào? - Lão Canh nghẹn thở, rướn người về phía trước.

- Người đó cao lớn, mặc chiếc áo nâu vá vai của thợ xẻ, râu tóc bạc phơ xõa xuống vai. Gương mặt người đó mờ mịt trong sương mù, con không nhìn rõ. Nhưng bàn tay người đó... bàn tay người đó cầm một chiếc thước gỗ màu đỏ thẫm như nhuộm máu, đầu thước có khắc những vạch đen kỳ dị. Và ngón tay trỏ của bàn tay ấy... bị cụt mất một đốt, sẹo lồi lên đỏ quạch...

Một tiếng sấm rền vang từ phía chân trời xa, dù đang giữa tiết đông buốt giá.

Toàn thân Lý Văn Canh run rẩy dữ dội. Lão giơ bàn tay trái của mình lên trước mặt trong bóng tối. Ngón tay trỏ của bàn tay lão sần sùi, đầu ngón tay đã bị cắt cụt mất một đốt - vết tích của đêm trăng rằm hai mươi năm trước, khi lão tự tay dùng đục phạt đứt ngón tay mình, lấy máu tươi hòa vào mực đỏ để vẽ bùa Lỗ Ban yểm vào cây cột lim.

Chiếc thước thợ mộc màu đỏ máu... Huyết thước Lỗ Ban.

Vật gia bảo mà lão từng đem ra thề độc trước bài vị sư tổ Lỗ Ban và cụ tổ Lý Hùng Lực để đổi lấy tà thuật báo thù.

- Người đó... làm gì con? - Giọng lão Canh lạc hẳn đi, nghe ma quái và run rẩy tột cùng.

- Người đó không nói một lời nào cả. - Bé Thảo ngây thơ kể tiếp, hai mắt mở to nhìn vào khoảng không vô định - Chiếc thước gỗ màu đỏ trong tay người đó cứ gõ nhịp từng tiếng cộc... cộc... xuống mặt đất lạnh ngắt. Người đó đưa bàn tay cụt ngón ra nắm lấy cổ tay con, kéo con đứng dậy khỏi bụi cỏ may. Bàn tay người đó lạnh ngắt như tảng băng trôi dưới sông Đáy, nhưng lại dắt con đi thoăn thoắt qua triền đê trơn trượt. Con cứ thế bước theo, tai chỉ nghe thấy tiếng gõ cộc... cộc... của chiếc thước gỗ dẫn đường. Đi mãi, đi mãi trong sương mù dày đặc... cho đến khi con nhìn thấy ánh đèn le lói hắt ra từ khe nứa của căn chòi này...

Con bé thở hắt ra một hơi, rồi nhìn lão Canh bằng ánh mắt đầy vẻ biết ơn:

- Vừa bước đến trước cửa chòi thì bóng người đó biến mất, con kiệt sức ngã gục xuống rồi đập cửa gọi ông... Ông ơi, người cụt ngón tay cầm thước đỏ ấy có phải là thần tiên đến cứu con không? Có phải thần linh thương con đói khát nên mới dắt con đến gặp ông để con xin được húp một muỗng cháo nóng thế này không ông?

Lý Văn Canh chết lặng.

Lão ngồi trơ trơ trên nền đất ẩm mốc, cảm giác như toàn bộ máu huyết trong người đang đông cứng lại thành băng. Từng thớ thịt, từng đường gân trên khuôn mặt biến dạng vì ghẻ lở của lão co giật liên hồi.

Thần tiên cứu mạng ư?

Không có vị thần tiên nào ở đây cả.

Đó là oan hồn của tà thuật Lỗ Ban. Đó là nghiệp chướng ngút trời của lời thề Ngũ Tuyệt mà lão đã trót đánh đổi hai mươi năm trước. Lời nguyền ấy sau khi dìm chết Hoàng Xuân Bột, sau khi nghiền nát cả dòng tộc quan huyện thành tro bụi, vẫn chưa chịu buông tha. Nó đã hóa thành bóng ma cầm Huyết thước, lang thang dọc bờ sông Đáy, tự tay dắt mối giọt máu cuối cùng còn sót lại của kẻ thù về nộp mạng ngay trước cửa chòi của kẻ yểm bùa.

Nghiệp lực không tha cho bất kỳ ai. Kẻ gieo gió thì gặt bão, nhưng cơn bão ấy hung tợn đến mức lôi cả một sinh linh bé bỏng, vô tội vào vòng xoáy nghiệt ngã của sự trừng phạt.

Con bé Thảo bảy tuổi này có tội tình gì?

Nó sinh ra khi dinh thự họ Hoàng đã trên bờ vực sụp đổ. Nó chưa từng được hưởng một ngày sung sướng trong nhung lụa của năm trăm lạng bạc cướp bóc năm xưa. Nó không sai lính đánh gãy chân lão Canh. Nó không ép lão phải bò qua chín bậc đá xanh trước sảnh đường nguy nga. Nó chỉ là một đứa trẻ đói ăn rách rưới, bàn chân nứt nẻ rỉ máu vì sỏi đá, phải ngửa chiếc bát sứt xin từng hạt cơm thừa để lay lắt sống qua ngày.

Vậy mà chính đôi bàn tay tài hoa bậc nhất làng mộc Chàng Sơn của lão, đôi bàn tay từng tạc tượng Phật Di Lặc từ bi cứu thế, lại là bàn tay đã gián tiếp bóp chết cha mẹ nó, đày đọa nó vào cảnh khốn cùng không lối thoát.

Bé Thảo khẽ nghiêng đầu, thấy ông lão cứ ngồi im bất động, hai giọt nước đục ngầu từ khóe mắt mù lòa rỉ ra, chảy dài qua những vết sẹo lở loét gớm ghiếc trên gò má. Đứa trẻ thấy vậy bèn rụt rè vươn bàn tay gầy trơ xương của mình ra, khẽ chạm vào mu bàn tay run rẩy của lão Canh:

- Ông ơi... ông sao thế? Sao ông lại khóc? Con ăn hết cháo của ông làm ông đói bụng phải không? Con... con không ăn nữa đâu... Mai con lại đi xin ăn tiếp...

Cái chạm tay non nớt, ấm áp ấy như một lưỡi dao sắc ngọt cứa thẳng vào tim Lý Văn Canh.

Lão giật thót người, muốn rụt tay lại để trốn tránh sự đụng chạm của dòng máu kẻ thù, nhưng bàn tay nhỏ bé của con bé Thảo lại siết nhẹ lấy ngón tay tật nguyền của lão. Đứa trẻ không hề ghê sợ những mụn mủ hôi hám trên da thịt lão, nó chỉ cảm nhận được đây là bàn tay duy nhất trên cõi đời này đã múc cho nó từng muỗng cháo nóng giữa đêm đông lạnh giá.

Ngoài trời, gió bấc lại rít lên từng hồi qua rặng tre ngà ven sông Đáy. Tiếng sóng nước vỗ ì oạp vào chân mố cầu đá cổ Chàng Sơn nghe như tiếng thở dài ai oán của dòng họ Lý qua bao đời giữ nghề mộc thanh bạch. Lão Canh ngồi đó, giữa bóng tối mịt mùng của đôi mắt mù lòa và sự bừng tỉnh muộn màng của lương tri.

Chiếc khánh bạc hình kỳ lân nằm im lìm bên cạnh chiếc bát sứt ngửa miệng. Bùa chú đã trọn vẹn, sự trả thù đã hoàn tất đến tàn nhẫn. Nhưng chiến thắng ấy giờ đây lại hiện hình thành một thân xác tàn tạ của đứa bé gái bảy tuổi đang run rẩy tựa đầu vào ống chân gãy của lão.

Lý Văn Canh từ từ cúi đầu xuống, hai bờ vai gầy guộc của người thợ già rung lên bần bật trong nỗi dằn vặt xé nát tâm can. Bàn tay cụt ngón của lão chầm chậm mở ra, rồi run rẩy phủ lên những ngón tay khẳng khiu của đứa cháu nội kẻ thù, trong khi ngoài hiên chòi, bóng tối của đêm đông dường như đang chùng xuống, đặc quánh lại như một vũng bùn đen ngập tràn tội lỗi.

Chương khác

Xem thêm