Huyết Thước Trừng Gia - Chương 15: Bé Thảo Cô Bé Ăn Mày Đói Lả Gõ Cửa Xin Cơm
Gió bấc rít từng hồi qua rặng tre Chàng Sơn, quất những vệt mưa phùn lạnh buốt vào vách nứa xiêu vẹo của căn chòi mé sông Đáy. Mùa đông năm Canh Tuất…
Nội dung chương
Gió bấc rít từng hồi qua rặng tre Chàng Sơn, quất những vệt mưa phùn lạnh buốt vào vách nứa xiêu vẹo của căn chòi mé sông Đáy. Mùa đông năm Canh Tuất buông xuống vùng đồng bằng Bắc Bộ một màn giá rét thấu xương. Nước sông Đáy hạ thấp, để lộ những doi bùn xám xịt lởm chởm vỏ hến cào rách da thịt những kẻ khốn cùng phải mò mẫm mưu sinh. Đêm đã sang canh ba, bóng tối đặc quánh trùm lên bãi bồi hoang vắng, chỉ có tiếng nước chảy xiết va vào các chân cọc gỗ mục phát ra những thanh âm lục bục buồn bã.
Lý Văn Canh nằm co quắp trên ổ rơm ướt át, chiếc mền vải thô rách tơi bời không đủ che kín đôi cẳng chân cằn cỗi gầy trơ xương. Khớp gối bên phải của lão biến dạng sau trận đòn của lính cơ phủ huyện hai mươi năm trước, mỗi khi trở trời lại nhức nhối như có hàng trăm mũi dùi sắt nung đỏ dùi thẳng vào tủy xương. Mười đầu ngón tay lão, nơi từng cắn rách để lấy máu tươi vẽ bùa chú Lỗ Ban hại người, nay lở loét sâu hoắm, máu hòa cùng nước dịch rỉ ra bết dính vào sợi rơm khô. Nghiệp lực bùa hắc ám cùng lời nguyền Ngũ Tuyệt gặm nhấm thân xác lão từng ngày, biến người thợ mộc cự phách của làng nghề năm xưa thành một phế nhân mù lòa, cô độc, ghẻ lở đầy mình.
Lão cắn chặt hai hàm răng ê buốt, lắng nghe tiếng rên rỉ của gió. Đôi tai của một người mất đi ánh sáng từ mười năm trước trở nên thính nhạy đến mức có thể phân biệt được tiếng hạt mưa rơi trên lá chuối khô khác với tiếng nước nhỏ giọt xuống vũng bùn cạnh bậu cửa. Nhưng đêm nay, giữa tiếng mưa ràn rạt và tiếng sóng vỗ ì oạp, lão bỗng bắt được một âm thanh khác lạ.
Đó là tiếng bước chân lẹp xẹp dẫm trên bùn nhão ngoài lối mòn dẫn từ triền đê xuống mé nước. Bước chân rất nhẹ, ngập ngừng, trượt ngã rồi lại lồm cồm gượng dậy.
Lão Canh nằm im bất động, nín thở. Ở cái xó hẻo lánh này, ngoài những con chuột đồng đói ăn hay vài kẻ trộm cắp lén lút lội sông trốn lính lệ, xưa nay chưa từng có ai bén mảng tới. Người làng Chàng Sơn coi lão như một thứ dịch hạch tà ma, từ lâu đã xa lánh, coi như lão đã chết rấp dưới đáy bùn từ hai thập kỷ trước.
"Cộc... Cộc..."
Tiếng gõ ngập ngừng đập vào tấm liếp nứa đan bằng tre mục. Lực gõ yếu ớt đến mức gần như bị tiếng gió rít át đi, nhưng trong căn chòi rỗng tuếch, nó dội thẳng vào màng nhĩ lão Canh thành những nhịp đập khô khốc, run rẩy.
Lão không lên tiếng. Bàn tay chai sần lần tìm chiếc gậy tre vót nhọn dựng ở đầu giường nứa. Lão nghĩ đến bọn cướp đêm chuyên rình rập những kẻ cô quả, hoặc lũ du côn ngoài chợ phiên tìm chỗ trú chân. Nhưng tấm thân tàn phế của lão chẳng còn lấy nửa hạt gạo trắng, hòm gỗ trống rỗng, manh chiếu rách nát, có gì để kẻ khác nhòm ngó cướp đoạt.
"Cộc... cộc..."
Tiếng đập cửa lại vang lên lần thứ hai, lần này dồn dập hơn một chút nhưng lại kèm theo tiếng thở dốc đứt quãng.
- Ai ngoài đó? - Giọng Lý Văn Canh cất lên, khàn đặc và chát chúa sau nhiều ngày không trò chuyện cùng ai. Tiếng nói vỡ ra nơi cuống họng khô khát, nghe ghê rợn chẳng khác tiếng quạ kêu giữa đồng ma.
Đáp lại lời lão là một khoảng im lặng ngột ngạt của màn mưa. Rồi một giọng nói non nớt, the thé, run bần bật vì rét buốt cất lên qua khe liếp:
- Cụ... cụ ơi... Cho con... xin hớp nước... cứu con với...
Đó là tiếng của một đứa trẻ. Âm sắc non nớt, mỏng manh như sợi tơ nhện chực đứt giữa cơn giông bão. Tiếng kêu ấy không mang theo vẻ ranh mãnh của phường trộm cắp vặt, mà chứa đựng nỗi tuyệt vọng cùng cực của một kẻ sắp chết đuối níu lấy cọng rơm cuối cùng.
Lão Canh sững sờ. Đôi mắt mù lòa với hai tròng mắt trắng đục mở to nhìn vào khoảng không vô định. Một đứa trẻ con tìm đến bờ sông lúc nửa đêm mưa gió bấc để xin nước uống. Điều hoang đường ấy khiến lão thợ già run lên một chập. Lão chống hai khuỷu tay chai sạn xuống mặt đất ẩm, dùng chân lành kéo lê cái chân gãy teo tóp, nhích từng tấc một về phía cửa liếp.
Đất bùn lạnh ngắt thấm qua lớp vải quần mục nát làm lão run rẩy. Mười đầu ngón tay lở loét quẹt trên mặt đất buốt nhói, nhưng lão vẫn nghiến răng trườn tới. Bàn tay lão chạm vào then cài bằng tre đã mủn vì nước mưa. Lão giật mạnh chiếc then gỗ mục, đẩy cánh liếp sang một bên.
Một luồng gió bấc mang theo nước mưa lạnh buốt thốc thẳng vào trong chòi, quất rát rạt lên khuôn mặt nhăn nheo, đầy những nốt ghẻ lở của lão Canh. Lão nheo mắt theo thói quen vô thức dù chẳng còn nhìn thấy gì.
Bên ngoài ngưỡng cửa, một vật thể nhỏ bé ngã nhào vào khoảng trống, đổ vật xuống thềm đất nát ngay dưới chân lão. Tiếng thở hắt ra mệt lả hòa cùng tiếng răng va vào nhau lập cập phát ra từ khối hình hài ấy.
Lý Văn Canh run rẩy hạ bàn tay xuống, chạm phải một thân thể gầy guộc đến đáng sợ. Lớp da thịt trên cánh tay đứa trẻ lạnh ngắt như một thanh sắt ngâm dưới đáy giếng mùa đông, chỉ có lớp vải thô rách tơi tả, ướt sũng nước mưa đang dính chặt vào da thịt non nớt.
- Đứa nào... Mày là con nhà ai... - Lão Canh lắp bắp, những ngón tay tật nguyền của lão sờ soạng trên trán đứa trẻ. Trán nó lạnh toát, tóc bết chặt vào thái dương vì nước mưa và bùn đất.
- Cụ ơi... con đói... lạnh quá... - Đứa trẻ chỉ thốt ra được từng tiếng đứt quãng rồi lịm dần đi, đầu gục hẳn xuống bắp chân teo tóp của lão.
Lão Canh giật mình thu tay lại theo phản xạ của một kẻ đã quá quen với sự thù ghét và cô độc. Hai mươi năm qua, lão sống như một bóng ma ngoài rìa nhân thế, không dám mở lòng với bất kỳ ai, bởi lão biết bàn tay mình đã từng nhuốm máu tà thuật, từng phạm vào lời nguyền rợn người của cụ tổ Lý Hùng Lực. Bất kỳ ai đến gần lão đều có thể bị vạ lây từ đòn phản phệ ghê gớm đang giáng xuống thân xác này. Lão muốn xua đuổi đứa bé đi, muốn đóng sập cánh liếp lại để mặc cho mưa gió cuốn trôi tất cả. Nhưng khi bàn tay lão vô tình quẹt qua bàn chân của đứa nhỏ, một cảm giác dính nhớp và tanh nồng xộc vào khứu giác lão.
Đó là mùi máu tươi.
Lão quỳ sụp xuống bùn, dùng những đầu ngón tay sần sùi sờ nắn bàn chân trần của đứa trẻ. Bàn chân bé xíu, chỉ dài bằng một nửa bàn tay lão, nhưng nát bươm vì đá nhọn và gai cào. Máu từ các kẽ ngón chân và gót chân rỉ ra, hòa cùng bùn đất trơn nhẫy bên triền đê. Đứa bé này đã đi bộ chân trần một quãng đường rất dài, vượt qua những con đê đá lởm chởm trong đêm tối mịt mùng để lết được tới bãi bồi này. Nếu để nó nằm lại ngoài trời thêm một khắc đồng hồ nữa, hơi ấm cuối cùng trong lồng ngực non nớt kia chắc chắn sẽ bị cơn gió bấc đêm nay cướp đi hoàn toàn.
Lão Canh hít một hơi sâu, lồng ngực gầy guộc phập phồng sau lớp áo rách. Lương tâm của một con người, thứ mà lão tưởng chừng đã chết rụi cùng với hận thù sau ngày dinh thự họ Hoàng sụp đổ, bỗng cựa mình nhức nhối. Lão không thể trơ mắt để một đứa trẻ chết cóng ngay trước ngưỡng cửa chòi của mình.
Gắng gượng dùng chút sức tàn nơi đôi vai rộng năm xưa từng vác những súc gỗ lim ngàn cân, lão Canh cúi gập người, luồn hai cánh tay run rẩy dưới nách đứa bé, dùng hết bình sinh nhấc bổng nó lên. Thân thể đứa trẻ nhẹ bẫng, xương sườn nhô ra từng nấc dưới lớp áo rách, chứng tỏ nó đã nhịn đói từ rất nhiều ngày qua. Lão lùi từng bước một, kéo đứa bé vào sâu trong góc chòi khô ráo nhất, đặt nó nằm lên đống rơm khô mục nát của mình.
Gió bên ngoài lại giật từng cơn rách nát. Cánh liếp nứa va đập vào vách tre chan chát. Lão Canh vội vàng bò ra, kéo cánh liếp lại rồi dùng đoạn dây thừng mục buộc chặt then cài để ngăn bớt những đợt gió lùa buốt giá.
Căn chòi chìm trong bóng tối mù mịt. Lão Canh lần mò tới góc bếp đất, nơi có vài cành tre khô và nhúm bổi mà lão đã gom góp từ buổi trưa. Bằng đôi bàn tay quen với bóng tối của mười năm mù lòa, lão mò mẫm tìm chiếc bùi nhùi và hòn đá lửa. Tiếng đá đánh vào sắt vang lên lách tách khô khốc giữa đêm đông. Một tia lửa lóe lên, bắt vào lớp xơ dừa khô. Lão chụm miệng thổi nhè nhẹ, từng làn khói khét lẹt bốc lên, rồi ngọn lửa vàng vọt bùng cháy, xua bớt cái giá lạnh chết chóc đang bao trùm lấy túp chòi rách.
Ánh lửa bập bùng soi rõ thân hình tàn tạ của lão thợ già và đứa bé ăn mày đang nằm co quắp trên ổ rơm. Đó là một bé gái chừng sáu bảy tuổi, khuôn mặt nhỏ nhắn bầm tím vì giá rét, hai hốc mắt sâu hoắm, đôi môi nứt nẻ rớm máu. Bộ quần áo vải thô trên người nó rách nát từng mảng lớn, bùn đất bám chặt vào ống quần, để lộ đôi ống chân gầy khẳng khiu đầy những vết sẹo cũ mới chồng chéo lên nhau.
Lão Canh lấy vò sành múc một bát nước mưa đặt lên bếp lò, đun cho nước âm ấm lại. Trong góc chòi chỉ còn lại một nắm gạo tấm mốc meo mà lão nhặt nhạnh được từ bến thuyền vài hôm trước. Lão gạt sạch bụi bặm, thả nắm gạo vào chiếc nồi đất sứt quai, quấy đều thành một thứ nước cháo loãng lèo tèo vài hạt gạo trắng.
Mùi cháo loãng bốc khói nghi ngút làm đứa bé khẽ cựa mình. Nó mở hé đôi mắt to tròn nhưng đờ đẫn, nhìn chằm chằm vào đốm lửa đang reo tí tách trên bếp than.
- Uống đi con... hớp lấy tí nước ấm cho lại người... - Lão Canh lần mò bưng bát nước cháo nóng tới bên ổ rơm, giọng lão đã bớt đi vẻ gắt gỏng, thay vào đó là sự ngập ngừng vụng về của một kẻ suốt đời cô độc.
Đứa bé run rẩy cố gượng ngồi dậy, nhưng hai cánh tay non nớt không đỡ nổi sức nặng của cơ thể gầy mòn. Nó lại ngã vật xuống rơm, đôi môi mấp máy phát ra những âm thanh không rõ tiếng. Lão Canh thở dài, đưa bàn tay sần sùi luồn qua sau gáy đỡ đầu nó lên, cẩn thận kề miệng bát vào làn môi khô nẻ của đứa trẻ.
Thấy hơi ấm của cháo, đứa bé như kẻ chết đuối vớ được cọc, nuốt lấy nuốt để từng ngụm nước cháo loãng. Nước cháo nóng làm cổ họng nó bỏng rát, nó ho sặc sụa vài tiếng, nhưng hai bàn tay bé xíu vẫn bấu chặt lấy cổ tay lão thợ mộc như sợ lão sẽ giật bát cháo lại. Lão Canh kiên nhẫn nghiêng bát, để từng giọt cháo trôi dần vào bụng đứa trẻ đói khát.
Sau khi nuốt cạn bát cháo loãng, đứa bé thở hắt ra một hơi dài, sắc mặt bầm tím dần chuyển sang màu hồng nhạt. Hơi ấm của lửa và thức ăn dường như đã níu giữ được sinh mệnh mỏng manh của nó lại với cõi đời. Nó ngước nhìn lão Canh, nhìn gương mặt gầy guộc đen đúa đầy sẹo và đôi mắt mù lòa vô hồn của ông lão, rồi bỗng nép sâu hơn vào đống rơm khô, giọng lí nhí:
- Con... con cảm ơn ông...
Lão Canh đặt chiếc bát đất xuống nền đất ẩm, dùng mu bàn tay lau đi vệt cháo dính trên cằm đứa nhỏ. Lão không nhìn thấy gương mặt nó, nhưng cảm nhận được sự run rẩy đầy sợ hãi của một con thú nhỏ bị săn đuổi.
- Mày từ đâu dạt về đây? - Lão Canh trầm giọng hỏi, bàn tay kéo góc chăn rách phủ lên người đứa bé - Đêm hôm mưa gió bấc thế này, ba mẹ mày đâu mà để mày lội đê một mình?
Đứa bé im lặng một lúc lâu. Lão chỉ nghe thấy tiếng nấc nghẹn ngào cố kìm nén trong lồng ngực gầy guộc của nó.
- Mẹ con chết rồi... - Giọng đứa trẻ run lên, vỡ vụn giữa tiếng gió rít - Mẹ con chết đói ở bến đò từ tháng trước. Ba con đi phu cho Tây từ năm ngoái cũng không thấy về. Con đi xin ăn... người ta đuổi đánh, chó cắn... Con đói quá, thấy ánh đèn le lói mé sông nên lần xuống...
Từng lời nói của đứa trẻ ăn mày rơi vào khoảng không tĩnh mịch, nặng nề như những giọt chì nung. Lão Canh ngồi lặng đi bên bếp lửa tàn. Hai mươi năm trước, khi viên tri huyện Hoàng Xuân Bột nắm quyền sinh quyền sát ở vùng này, dân thợ mộc Chàng Sơn cũng từng chịu cảnh lầm than, đói khổ cùng cực như thế. Bao nhiêu gia đình ly tán, bao nhiêu đứa trẻ phải chết đói đầu đường xó chợ vì sưu cao thuế nặng và những trò bóc lột tàn nhẫn của quan huyện. Lòng hận thù năm ấy lại bùng lên như tro tàn gặp gió, khiến ngực lão nhói buốt. Lão đã dùng tà thuật Lỗ Ban để trừng phạt kẻ ác, để trả món nợ máu năm trăm lạng bạc. Lão tưởng rằng khi họ Hoàng sụp đổ thì thế gian này sẽ bớt đi những cảnh ngộ thảm thương.
Nhưng thế gian vẫn vậy. Kẻ ác đã đền tội, dinh thự nguy nga đã thành phế tích hoang tàn, nhưng những đứa trẻ đói lả, bơ vơ vẫn tiếp tục lang thang trên khắp các nẻo đường làng Chàng Sơn. Sự trả thù của lão rốt cuộc đã mang lại điều gì, ngoài một thân xác tật nguyền lở loét và nỗi cô đơn cùng cực nơi góc sông hoang vắng này?
- Đừng khóc nữa... - Lão Canh khẽ nói, bàn tay khô ráp vỗ nhè nhẹ lên vai đứa bé - Nằm yên đó cho ấm. Qua đêm nay rồi tính.
Đứa bé ngoan ngoãn gật đầu, vùi sâu người vào đống rơm khô. Nhưng hai bàn tay nó vẫn ôm khư khư trước ngực một vật gì đó giấu dưới lớp áo rách, quyết không buông ra dù thân thể đang run rẩy vì mệt lả.
Lão Canh toan đứng dậy đi nhóm thêm cành củi khô thì bàn tay lão vô tình quẹt trúng vật cứng mà đứa bé đang ôm trong lòng. Đó là một vật bằng sành thô ráp, mép cạnh sắc nhọn cọ vào lòng bàn tay lão.
- Cái gì đây? - Lão Canh hỏi, ngón tay lần theo vật thể lạ.
- Bát của con... - Đứa trẻ thì thào, giọng sợ hãi như sợ bị người ta cướp mất miếng cơm manh áo - Chiếc bát xin ăn mẹ con để lại trước khi mất. Mẹ bảo... mất bát là chết đói...
Lão Canh gật đầu, đưa tay gỡ chiếc bát ra khỏi ngực đứa bé:
- Đưa đây ông xem. Có sứt mẻ gì để ông kê lại, ôm thế này nhỡ lăn ra vỡ đâm vào người.
Đứa trẻ do dự một lát rồi từ từ buông tay. Lão Canh cầm lấy chiếc bát sành thô sơ. Nó nhẹ, nhẹ hơn những chiếc bát ăn cơm thông thường vì làm từ thứ đất sét pha tạp nung non lửa của những lò gốm rẻ tiền vùng ven sông. Nhưng khi mười đầu ngón tay tật nguyền của lão thợ già miết dọc theo vành bát, toàn thân lão bỗng khựng lại như bị sét đánh ngang tai.
Chiếc bát sành này không tròn trịa. Vành bát bị sứt một mảng lớn.
Đầu ngón tay lão Canh trượt qua mép sứt mẻ ấy. Cảm giác sắc lạnh của lớp men vỡ truyền thẳng vào da thịt lão. Đó không phải một vết vỡ ngẫu nhiên do va đập. Miệng bát bị mẻ một góc sâu chừng hai phân, uốn lượn thành một hình cánh cung méo mó, chếch nghiêng về một phía tạo thành hình một chiếc thuyền nan nhỏ chúc mũi xuống dưới, trong khi phần lòng bát lại trũng sâu, ngửa ngoác lên trời như miệng một con quái vật đang há họng đòi mồi.
Từng thớ gân trên mu bàn tay Lý Văn Canh giật thót liên hồi. Hơi thở của lão dồn dập, gấp gáp như người hụt hơi.
Hai mươi năm trước, trong đêm trăng rằm tháng Mười năm Canh Dần, trước khi cất nóc dinh thự mười hai cột cái lim của quan huyện Hoàng Xuân Bột, chính đôi bàn tay này của lão đã dùng chiếc đục bén ngọt khẽ gõ vỡ vành một chiếc bát sành cổ.
Vết nứt năm ấy... góc vỡ năm ấy... hình dáng chiếc bát sứt ngửa miệng tượng trưng cho sự tuyệt tự tuyệt tôn, cùng chiếc thuyền gỗ chúc mũi xuống đáy bùn chở hết sinh khí tiền tài dòng họ Hoàng đổ xuống sông sâu...
Tất cả những chi tiết rùng rợn của bùa yểm Lỗ Ban năm xưa đang hiện hình rõ mồn một dưới từng đầu ngón tay chai sạn của lão thợ mộc mù lòa.
Vết sứt trên chiếc bát xin ăn của đứa trẻ này... giống hệt vết sứt của chiếc bát quỷ ám mà lão đã tự tay chôn sâu vào tim cây cột cái gỗ lim của dinh thự họ Hoàng hai mươi năm về trước.
Chiếc bát sành trên tay Lý Văn Canh run lên bần bật, va vào chiếc đũa tre trên sàn đất phát ra những tiếng lách cách rợn người giữa màn đêm buốt giá.
Chương khác
- Chương 12: Tiếng Kêu Thảm Thiết Trong Đêm Hoang Tàn
- Chương 13: Hai Mươi Năm Sau Dòng Họ Quan Huyện Hoàng Tiêu Tán
- Chương 14: Lý Văn Canh Mù Lòa Cô Độc Ghẻ Lở Đầy Mình
- Chương 16: Cháu Nội Duy Nhất Còn Sống Sót Của Viên Quan Huyện
- Chương 17: Đứa Trẻ Vô Tội Thoi Thóp Vì Lời Nguyền
- Chương 18: Nghiệp Báo Hai Phương Giáng Xuống