Huyết Thước Trừng Gia - Chương 12: Tiếng Kêu Thảm Thiết Trong Đêm Hoang Tàn

Trời rạng sáng sau một đêm mưa dầm, không khí ẩm mốc của đất bãi ven sông Đáy bốc lên nồng nặc. Từng làn gió lạnh từ núi Chàng Sơn thổi thốc qua triền đê…

Nội dung chương

Trời rạng sáng sau một đêm mưa dầm, không khí ẩm mốc của đất bãi ven sông Đáy bốc lên nồng nặc. Từng làn gió lạnh từ núi Chàng Sơn thổi thốc qua triền đê quai đá, quét qua ngọn của bãi sậy xám xịt rồi tạt thẳng vào sườn đồi nơi đặt khu dinh thự đồ sộ của quan tri huyện Hoàng Xuân Bột.

Tiếng trống khẩu nện từng hồi giòn giã từ phía cổng tam quan xé toạc sự tĩnh mịch của làng quê mộc cổ truyền. Từng tràng pháo tép đỏ lòm bắt đầu nổ đôm đốp, khói thuốc pháo cay nồng cuộn lên thành từng đám mây mỏng trôi lờ lững trên những tán xoan non. Hôm nay là ngày lành tháng tốt, giờ Thìn khắc ba, ngày lễ thượng lương đặt đòn dông cho tòa dinh thự năm gian hai tầng bề thế bậc nhất vùng.

Dưới chân lũy tre xanh cách khu dinh thự chừng hai trăm bước chân, Lý Văn Canh ngồi bệt trên nền đất ướt nhão. Hai cẳng chân gãy dập của ông được bọc sơ sài bằng những mảnh giẻ rách cáu bẩn, bết dính bùn đen và nước vàng rỉ ra từ các vết lở loét. Toàn bộ phần da thịt ở cánh tay phải và trên đỉnh đầu trụi tóc đang sưng tấy từng vệt đỏ ửng, những nốt mụn mủ to bằng hạt đỗ nứt toác dưới gió bấc buốt lạnh, cắn rỉa vào da thịt như hàng ngàn con kiến lửa bò dọc ống xương.

Canh không rên rỉ lấy một tiếng. Đôi bàn tay thô ráp chai sần của người thợ mộc bấu chặt vào gốc tre già, móng tay găm sâu vào lớp vỏ mốc thếch. Đôi mắt ông đã mờ đục đi nhiều sau đêm huyết chú, lòng trắng vằn lên những tia máu đỏ lòm, nhưng tia nhìn vẫn găm thẳng vào khoảng sân gạch Bát Tràng đỏ rực cờ hoa phía trước.

Bên trong khuôn viên dinh thự, phu phen và lính lệ áo nẹp đỏ đi lại tấp nập như mắc cửi. Khắp năm gian nhà mới dựng xong phần khung gỗ lim, mùi thơm ngai ngái của dầu thông và gỗ tươi bốc lên ngào ngạt. Trên khoảng sân rộng thênh thang, các hương lão, chánh tổng và lý trưởng của các làng lân cận lũ lượt kéo đến, tay bưng khay đồng đựng lễ vật, miệng không ngớt lời tâng bốc. Mười hai cây cột cái gỗ lim bóng loáng đứng sừng sững nâng đỡ bộ vì kèo chạm trổ tinh xảo, uy nghi lấn át cả những nếp nhà ngói cổ kính xung quanh.

Đây chính là công trình mà Canh cùng hàng chục thợ mộc tài hoa nhất đất Chàng Sơn đã đổ mồ hôi, rút cạn tinh lực suốt nửa năm ròng để đẽo gọt. Năm trăm lạng bạc tiền công mồ hôi nước mắt bị quỵt trắng trợn, đổi lại bằng những trận roi gậy tàn nhẫn và chín bậc đá nhục nhã mà Canh phải bò lết qua trong đêm mưa bão. Giờ đây, dinh thự ấy sắp sửa hoàn tất, nguy nga lộng lẫy trên xương máu của người nghèo khó.

Hoàng Xuân Bột bước ra từ hiên nhà sảnh chính.

Viên quan huyện trạc ngũ tuần béo núc ních, bụng phệ đẩy căng lớp áo gấm xanh thêu hình rồng bốn chân lấp lánh chỉ vàng. Khuôn mặt tròn xoe phúng phính thịt của ông ta đỏ gay vì hỉ sự, đôi mắt lươn ti hí híp lại giữa những ngấn mỡ khi nhìn ngắm từng thớ gỗ lim của ngôi nhà mới. Bột chống hai tay vào chiếc đai lưng nạm ngọc, cất tiếng cười hô hố vang dội cả một góc sân:

- Tốt! Khung nhà đứng vững chãi lắm! Đám thợ Chàng Sơn xưa nay vốn kiêu ngạo, nhưng dưới ngọn roi của quan huyện này thì gỗ đá cũng phải ngoan ngoãn uốn mình. Đợi lát nữa đòn dông gác lên mái, xem vùng Sơn Tây này còn dinh cơ của ai sánh được với cơ nghiệp của họ Hoàng ta!

Gã thầy phong thủy râu dê mặc áo đạo bào màu xám tro, tay cầm la bàn bát quái liền khom lưng bước lên nịnh bợ:

- Quan lớn anh minh! Giờ lành đã điểm, sao Thiên Đức chiếu thẳng vào gian chính, mười hai trụ lim vững như bàn thạch, long mạch tụ khí nghìn năm. Cơ nghiệp của ngài đời đời vinh hiển, con cháu ắt đỗ đạt trạng nguyên, hưởng trọn lộc trời!

Hoàng Xuân Bột vuốt chòm râu mép, gật đầu đầy đắc ý. Ông ta vung tay áo gấm ra hiệu cho đám gia nhân:

- Bày tiệc tế thần Lỗ Ban! Thắp hương án, kéo đòn dông lên!

Tiếng chiêng đồng vang lên một hồi dài chát chúa. Bốn tên lính lệ lực lưỡng lực lưỡng khiêng một con lợn quay vàng rụm đặt lên hương án kê ngay trước cột cái gian giữa. Khói trầm hương nghi ngút tỏa ra từ đỉnh đồng cổ, quyện vào không khí ẩm ướt buổi sớm mai.

Lý Văn Canh ngồi dưới bóng rặng tre, nhìn thấy rõ từng cử động của Hoàng Xuân Bột. Ông nhìn thấy cây cột cái gian giữa - nơi chính tay ông đêm qua đã đục một hốc sâu vào tận tim gỗ, chôn vào đó chiếc bát sành sứt mẻ ngửa miệng và con thuyền gỗ dâu chúc mũi ra phía ngoài cổng chính. Vết trám bằng keo da trâu và mùn cưa lim khô cứng dưới lớp tro bếp và dầu thông trông tiệp màu hoàn toàn với thớ gỗ nguyên khối. Không một ai trong đám lính lệ hay lũ thợ mộc phát hiện ra dấu vết của một nhát đục tàn sát đã được găm vào huyết mạch ngôi nhà.

Canh nhếch khóe môi nứt nẻ, để lộ hàm răng dính đầy vệt máu khô. Một nụ cười gằn tàn nhẫn kéo giật cơ mặt biến dạng của ông.

- Uống đi, cười đi, Hoàng Xuân Bột... - Canh thì thào trong cổ họng, giọng khàn đặc như tiếng cưa rỉ nghiến trên đá cuội. - Cười cho thỏa cái ngày đại phúc của dòng giống nhà mày. Bát ngửa hứng sạch vận khí, thuyền chúc chở hết phúc phần ra sông Đáy. Càng tráng lệ bao nhiêu, lúc sụp đổ càng tan xương nát thịt bấy nhiêu.

Cơn đau buốt từ hai cẳng chân gãy truyền thẳng lên đỉnh đầu, hòa cùng sự ngứa ngáy dữ dội của những mảng da đầu đang nứt rỉ nước vàng. Lời nguyền Ngũ Tuyệt đang bắt đầu rút cạn từng ngày tuổi thọ của Canh. Không vợ, không con, không của cải, không danh tiếng, chết không toàn thây - cái giá ấy ông đã chấp nhận ngay từ giây phút cắn rách ngón tay rỏ máu vào lòng bát sứt. Ông không cần sống thọ, ông chỉ cần cái thân xác tàn phế lở loét này tồn tại đủ lâu để tận mắt chứng kiến dòng dõi họ Hoàng chịu cảnh mạt rệp lưu đày.

Trên mái nhà dinh thự, nhóm thợ mộc mười người thắt đai đỏ đang đứng chênh vênh trên các xà ngang. Cây đòn dông bằng gỗ lim già, dài hơn ba trượng, thẳng tắp và được bọc kín bằng một dải lụa điều màu đỏ tươi, bắt đầu được kéo dần lên cao bằng hệ thống dây thừng và ròng rọc bằng gỗ nghiến.

"Hò he... kéo lên! Hò he... thượng lương đại cát!"

Tiếng hô vang của cánh thợ phụng sự công việc nặng nhọc vang lên đều đặn. Cây đòn dông nhích từng gang tay qua các hàng cột quân, cột con, rồi từ từ tiến sát đến đỉnh chóp của hàng cột cái năm gian. Mọi ánh mắt dưới sân đều ngước nhìn lên theo từng chuyển động của thân gỗ đỏ rực. Hoàng Xuân Bột đứng chắp tay sau lưng, hai mắt lồi ra vì căng thẳng và thỏa mãn.

Gã thầy phong thủy bước tới bên hương án, rót đầy một chén rượu nếp cái hoa vàng vào chiếc chén ngọc bịt bạc, hai tay cung kính dâng lên trước mặt quan huyện:

- Xin quan lớn nâng chén rượu chúc phúc. Khi đòn dông sập khít vào ngàm nóc, xin quan cạn chén để định yên long mạch, nghìn năm không dời!

Hoàng Xuân Bột đón lấy chén rượu ngọc, giơ cao ngang trán, cất giọng sang sảng quát lớn:

- Trời đất chứng giám, thánh Lỗ Ban phù hộ, đòn dông an vị, phúc trạch vô biên! Đặt ngàm!

Trên đỉnh nóc, người thợ cả vung chiếc vồ gỗ lim lớn gõ mạnh ba tiếng vào đầu đòn dông:

"Cắc! Cắc! Cắc!"

Cây đòn dông sập mạnh xuống mộng kép nối liền đỉnh hai cột cái gian giữa, ăn khớp hoàn hảo vào khung mái ngói âm dương vừa được gác thử vài hàng ngói phía trên. Ngay lúc mối mộng gỗ lim va chạm vào nhau, toàn bộ khung nhà năm gian phát ra một tiếng "rắc" trầm đục, truyền một chấn động vô hình chạy dọc từ xà nóc xuống tận chân tảng đá xanh bên dưới nền đất.

Đúng vào khoảnh khắc mối mộng đóng chặt, một luồng gió xoáy lạnh toát từ dưới sông Đáy bất thần thổi thốc qua cổng tam quan, cuốn theo bụi mù và xác pháo đỏ bay rợp trời. Đám lính lệ rùng mình co rúm vai lại, ngọn nến trên hương án chao đảo muốn tắt.

Hoàng Xuân Bột không để ý đến luồng gió lạnh. Ông ta vẫn ngửa mặt lên trời, đôi mắt ti hí nhìn chằm chằm vào điểm nối giữa đòn dông và đỉnh cột cái gian giữa, nụ cười kiêu hãnh nở bung trên khuôn mặt phúng phính. Ông ta hạ chén rượu xuống ngang miệng, chuẩn bị nuốt cạn ngụm rượu mừng công để kết thúc đại lễ.

Nhưng ngay trên đầu ông ta, tại vị trí giao nhau giữa thân cột cái và kẻ chuyền gian giữa, một vết rạn nhỏ li ti trên thớ gỗ lim đột nhiên nứt ra.

Từ kẽ nứt ấy, nơi sâu bên trong tim cột đang giam giữ giọt máu huyết chú của Lý Văn Canh cùng chiếc thuyền gỗ dâu âm hàn, một giọt chất lỏng màu đỏ sẫm đặc quánh rỉ ra. Giọt nước đỏ không chảy dọc theo thân cột mà ngưng tụ lại nơi chóp gỗ nhô ra ngay phía trên đầu quan huyện, trĩu nặng dần rồi buông mình rơi thẳng xuống.

"Tõm."

Tiếng giọt nước rơi rất khẽ, lọt thỏm giữa tiếng reo hò của quan khách và tiếng trống mõ vang rền. Giọt chất lỏng đỏ sẫm rơi trúng ngay vào giữa chén rượu nếp sóng sánh trên tay Hoàng Xuân Bột.

Nước rượu trong chén lập tức gợn lên một vòng sóng nhỏ, rồi một vệt màu đỏ bầm loang nhanh ra xung quanh, biến chén rượu trắng đục thành một màu nhờ nhờ như nước rửa huyết tươi.

Hoàng Xuân Bột hơi khựng lại. Đôi mắt lươn liếc nhìn xuống chén rượu ngọc trên tay.

- Ơ kìa, nước gì thế này? - Bột lẩm bẩm, nheo mắt nhìn vệt đỏ đang chìm dần xuống đáy chén.

Gã thầy phong thủy đứng bên cạnh cũng liếc mắt nhìn, thấy sắc mặt quan huyện có phần nghi ngại liền nhanh nhảu xun xoe:

- Bẩm quan lớn, trời vừa dứt mưa đêm, đòn dông lại quấn dải lụa điều đỏ thắm. Chắc hẳn nước mưa còn đọng trên mái rui mè thấm qua lụa đỏ mà nhỏ xuống đấy thôi! Đây là hồng phúc trên nóc nhà rỏ xuống chén ngọc, trời ban lộc đỏ đầu xuân, đại cát đại lợi! Quan lớn mau uống cạn để đón lấy vận may nghìn năm!

Nghe mấy lời nịnh bợ êm tai, nét nghi ngờ trên mặt Hoàng Xuân Bột lập tức tan biến. Ông ta cười sằng sặc, giơ cao chén rượu trước mặt đám quan viên làng nước:

- Hảo! Lộc trời ban thì quan huyện này xin nhận trọn!

Dứt lời, Hoàng Xuân Bột ngửa cổ, dốc ngược chén ngọc, nuốt ực một hơi cạn sạch thứ rượu nếp pha lẫn giọt huyết chú tanh nồng vào tận đáy họng.

Dòng rượu trôi qua cuống họng mang theo một vị tanh lợm lờ cùng cái lạnh buốt thấu xương kỳ dị xộc thẳng xuống dạ dày, khiến toàn thân viên quan huyện bỗng khẽ run rẩy một cái, da gà gai ốc nổi rần rần dưới lớp áo gấm thêu rồng. Nhưng men rượu cay nồng nhanh chóng bốc lên át đi sự lạnh lẽo ngắn ngủi đó, Bột quẳng mạnh chiếc chén ngọc xuống mâm đồng kêu "xoảng" một tiếng, lớn tiếng hô:

- Khai tiệc! Hôm nay không say không về!

Tiếng trống khẩu, tiếng pháo nổ lại thi nhau vang lên rầm rộ. Tiếng cười nói chúc tụng rộn rã át cả tiếng gió mùa đông đang rít từng hồi qua rặng tre Chàng Sơn.

Dưới gốc tre già ven triền đê, Lý Văn Canh đã chứng kiến toàn bộ sự việc.

Khi nhìn thấy Hoàng Xuân Bột ngửa cổ nuốt trọn giọt huyết chú từ tim cột rỏ xuống, đôi mắt mờ đục của Canh trừng trừng mở lớn, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau phát ra tiếng ken két ghê rợn.

- Uống rồi... Mày đã tự mồm nuốt trọn chén huyết nguyền vào bụng rồi... - Canh bật ra một tràng cười the thé, nghẹn ngào trong lồng ngực gầy guộc trơ xương sườn. - Mười hai cột cái lim đứng vững, nhưng hồn phách nhà mày đã bị giam vào ngục tối. Từ hôm nay, dòng họ Hoàng Xuân Bột các người sẽ cạn kiệt từng đồng tiền bát gạo, con cháu sẽ lưu lạc đầu đường xó chợ, bưng bát mẻ đi ăn xin khắp bốn phương trời!

Một cơn co giật dữ dội ập đến thân thể người thợ tàn phế. Canh ngã vật ra đám bùn đất nhão nhoét dưới gốc tre, hai bàn tay co quắp cào xới đất cát. Vết thương do ngón tay cắn rách mấy hôm trước bỗng buốt nhói lên như có que sắt nung đỏ chọc thẳng vào tim. Lớp da thịt lở loét trên người ông lại rỉ ra thứ nước nhờn hôi tanh, từng mảng vảy ghẻ nứt toác dưới gió lạnh, đau đớn đến mức khiến Canh cắn rách cả môi dưới, máu tươi túa ra nhuộm đỏ cằm.

Phản phệ của tà thuật đã chính thức phong ấn vận mệnh của cả hai người. Một kẻ ở đỉnh cao phú quý nhưng đã nuốt mầm diệt vong vào tủy não; một kẻ nằm rạp dưới bùn lầy, thân tàn ma dại, bước vào chuỗi ngày sống không bằng chết để trả giá cho sự báo thù tàn độc.

Canh dùng hai cùi chỏ rách rưới chống xuống đất, cắn răng kéo lê thân xác què quặt từng tấc một về phía bờ sông Đáy. Ông không nhìn lại ngôi dinh thự lộng lẫy kia thêm một lần nào nữa. Cây đòn dông đã gác, chiếc bát sứt đã ngửa miệng hứng trọn khí vận, chiếc thuyền dâu đã chúc mũi chở hết tài lộc xuôi dòng nước cuốn.

Màn sương mù xám chì từ đỉnh núi Chàng Sơn từ từ sà xuống, nuốt chửng thân hình còng queo của người thợ già vào khoảng không hoang vắng bên mép nước. Tiếng pháo nổ mừng khánh thành của quan huyện vẫn râm ran đằng xa, nhưng bánh xe bi kịch của một dòng họ đã bắt đầu quay, âm thầm mở ra một tấn thảm kịch kéo dài suốt hai mươi năm đằng đẵng.

Chương khác

Xem thêm