Huyết Thước Trừng Gia - Chương 9: Máu Tươi Yếm Bát Sứt Ngửa Miệng
Gió mé sông Đáy thổi thốc qua những khe nứa rách toang của căn chòi hoang, rít lên từng hồi căm căm buốt giá. Đêm đã về khuya, bốn bề Chàng Sơn chìm lịm…
Nội dung chương
Gió mé sông Đáy thổi thốc qua những khe nứa rách toang của căn chòi hoang, rít lên từng hồi căm căm buốt giá. Đêm đã về khuya, bốn bề Chàng Sơn chìm lịm trong màu đen quánh đặc của sương muối và hơi nước bốc lên từ lòng sông lạnh lẽo. Dưới sàn đất nện ẩm mốc sặc mùi bùn tanh, Lý Văn Canh ngồi gập người bên chiếc chõng tre gãy một chân kê tạm bằng hòn gạch vồ.
Đầu ông trọc lốc, loang lổ máu khô quyện với những vảy ghẻ xám xịt vừa mới trồi lên sau lời nguyền Ngũ Tuyệt ở đình làng. Hai ống chân bị đánh gãy nát giập buốt buốt nhức nhối thấu tận tủy, mỗi lần nhích nhẹ thân xác là một cơn co giật truyền dọc sống lưng. Nhưng đôi mắt Canh không chớp. Ông nhìn chằm chằm vào ngọn đèn dầu lạc leo lét đặt trên mặt hòm đồ nghề đã tróc hết lớp sơn ta.
Bên cạnh ngọn đèn, hai thứ đồ vật nằm trơ trọi trên mặt ván gỗ mộc: một mẩu cành dâu rừng xù xì dài chừng nửa thước và một mảnh bát sành thô méo mó nhặt về từ đống rác chân đê.
Đó là hai thứ Canh đã chuẩn bị kỹ lưỡng từ trước, giấu kín dưới đáy rương đồ nghề thợ mộc suốt những ngày tháng ôm mối thù ngập xương tủy. Theo những lời chỉ dẫn rợn người trong cuốn cấm thư bọc da trâu của phái Lỗ Ban sát thuật, muốn bẻ gãy long mạch của một ngôi nhà năm gian bề thế, muốn tước đoạt sạch sành sanh phúc trạch ba đời của kẻ quyền quý, người thợ phải tự tay tạo tác nên cặp pháp vật nghịch thiên: chiếc thuyền chúc đâm mũi xuống âm ty và chiếc bát sứt ngửa miệng đòi nợ trời cao.
Canh hít một hơi sâu, nén chặt cơn đau quặn thắt nơi lồng ngực. Đôi bàn tay thô ráp, chai sần với những khớp xương to bè vươn ra, run rẩy chạm vào thanh gỗ dâu.
Gỗ dâu rừng Chàng Sơn vốn đanh chắc, thớ gỗ vàng sẫm có vân vặn xoắn kỳ dị. Dân gian truyền tụng gỗ dâu có tính trừ tà xua quỷ, nhưng khi dùng vào thuật yểm hắc ám của thợ mộc, tính chí dương của nó lại biến thành thứ vũ khí trấn áp sinh khí tàn bạo nhất. Khúc gỗ này do chính tay Canh chặt trộm từ một cây dâu cổ thụ mọc trên nấm mồ vô chủ ngoài bãi tha ma ven sông, vỏ xù xì bám đầy rêu mốc mục rỗng.
Canh với tay lấy con dao trổ chuôi sừng nai đặt sẵn trên góc hòm. Con dao này đã theo ông suốt ba mươi năm đi khắp các công trình xứ Đoài, từ đình chùa miếu mạo cho đến những nếp nhà ngói năm gian của các bậc đại gia vọng tộc. Năm xưa, cũng chính con dao sắc bén này, dưới sự điều khiển của những ngón tay tài hoa bậc nhất Chàng Sơn, đã từng từng nhát gọt giũa nên pho tượng Phật Di Lặc bằng gỗ hương cao ba thước đặt ở chùa Thầy. Khi ấy, từng nhát dao đưa đi thanh thoát tựa mây bay nước chảy, mang theo tất cả sự kính ngưỡng, từ bi và niềm thanh tịnh của một người thợ dâng trọn lòng thành cho đạo pháp. Tượng tạc xong, miệng Phật cười rạng rỡ, ánh mắt hiền từ soi rọi xuống trần gian, ai trông vào cũng thấy lòng nhẹ bẫng buông bỏ phiền não.
Giờ đây, đôi bàn tay ấy lại cầm dao để tiện một vật gieo rắc tai ương.
Canh đặt khúc gỗ dâu lên đầu gối đã teo tóp, lưỡi dao thép sáng loáng bập vào thớ gỗ đầu tiên.
"Xoẹt!"
Một dải phoi gỗ mỏng manh cuộn tròn rơi xuống nền đất nện. Âm thanh khô khốc vang lên rành rọt giữa gian chòi vắng lặng. Canh nghiến chặt răng, cơ hàm bạnh ra gồ ghề.
Ông không tạc một con thuyền lướt sóng chở đầy châu báu hay thuyền rồng trôi xuôi dòng sông Đáy. Thứ ông đang tạc là một chiếc thuyền tang. Chiếc thuyền chỉ dài bằng gang tay, thân hẹp và sâu hoắm, hai mép thuyền mỏng tang và sắc lẹm. Canh dồn lực vào cổ tay, mũi dao trổ lướt đi từng đường dứt khoát. Từng vệt phoi gỗ bắn ra tung tóe, rơi lả tả như những mảnh xương vụn.
Mỗi nhát đục, mỗi đường gọt, Canh lại thì thầm nhắc lại từng tội ác của viên tri huyện Hoàng Xuân Bột:
- Một nhát này cho năm trăm lạng bạc mồ hôi nước mắt của phường thợ!
Mũi thuyền dần dần lộ rõ. Nó không cong vút kiêu hãnh vươn lên đón gió như những con thuyền buôn xuôi ngược bến Chàng Sơn, mà uốn cong quặp xuống một góc sắc nhọn, chúc thẳng đáy mũi xuống phía dưới. Đó là thế thuyền đắm, thế thuyền chìm đáy vực.
- Một nhát này cho chín bậc đá trước cổng huyện đường!
Lưỡi dao khoét sâu vào lòng thuyền, nạo vét sạch những thớ gỗ mềm bên trong, tạo thành một khoang thuyền rỗng tuếch, trơ trọi và đói khát. Thuyền không có buồm, không có chèo, không có cả chỗ cho người cầm lái. Nó chỉ mang hình hài của một khúc gỗ trôi sông vô định, mang theo lời nguyền của sự sụp đổ và tiêu tán. Khi chôn sâu vào tim cột cái gỗ lim, mũi thuyền cắm xuống đất sẽ hút toàn bộ tài lộc, ruộng đất, bổng lộc của quan huyện Hoàng dốc sạch xuống lòng đất lạnh, không một đồng tiền nào có thể tích tụ lại trong ngôi dinh thự nguy nga kia.
- Và nhát này... cho tính mạng của mẹ tao!
Canh ấn mạnh chuôi dao, mũi thép gọt phăng một mấu gỗ sần sùi ở đuôi thuyền. Một giọt mồ hôi lạnh toát từ trán ông rơi xuống, thấm ngay vào thân gỗ dâu chưa kịp lau chùi. Thớ gỗ vàng sẫm khẽ giật mình sẫm lại, như vừa nuốt trọn giọt mồ hôi cay đắng của người thợ già tàn tật.
Sau gần hai canh giờ tỉ mẩn từng thớ gỗ, chiếc thuyền chúc đã thành hình. Canh đưa tay miết dọc thân thuyền. Gỗ dâu nhẵn bóng nhưng lạnh ngắt như chạm vào tảng băng trôi giữa mùa đông. Mũi thuyền quặp xuống đất một cách hung hãn, tàn nhẫn, mang theo một vẻ tà dị khó tả bằng lời.
Canh đặt chiếc thuyền gỗ dâu sang bên cạnh đĩa đèn dầu, rồi đưa tay cầm lấy mảnh bát sành mẻ.
Mảnh sành này là đáy của một chiếc bát ăn mày vỡ, men da lươn màu nâu xỉn đã mòn vẹt vì năm tháng cọ xát với sỏi đá đầu đường xó chợ. Xung quanh vành bát lởm chởm những vết sứt mẻ nham nhở, để lộ ra cốt gốm màu xám đục thô kệch.
Canh với tay lấy một hòn đá mài nhẵn thó ở góc liếp cửa. Ông đổ một chút nước lạnh từ chiếc gáo dừa lên mặt đá, rồi bắt đầu đặt mép bát sành tì mạnh xuống.
"Kèn kẹt... kèn kẹt..."
Tiếng sành miết vào đá nhám vang lên chói tai, rợn người. Từng vệt bọt nước sẫm màu bùn đất sủi lên quanh mép hòn đá mài. Canh không mài cho chiếc bát tròn trịa, trơn láng. Ông mài cho những cạnh vỡ trở nên sắc bén, biến từng vết mẻ lởm chởm thành những chiếc răng nanh nhọn hoắt hướng thẳng lên trời.
Chiếc bát này đại diện cho sự khốn cùng tột bực của nhân gian. Kẻ giàu sang ăn bát ngọc chén ngà, kẻ no đủ dùng bát đàn tráng men trắng. Còn dòng dõi họ Hoàng sau này, dưới tác động của chiếc bát sứt ngửa miệng, sẽ chỉ có thể bưng chiếc bát vỡ này đi ăn xin từng hạt cơm thừa canh cặn của thiên hạ. Miệng bát ngửa lên đón gió, nhưng đáy bát lại thủng một lỗ nhỏ li ti do chính tay Canh dùng dùi sắt nung đỏ đục thủng từ trước. Cơm rót vào bao nhiêu cũng lọt qua lỗ thủng trôi tuột ra ngoài, vĩnh viễn không bao giờ no bụng, muôn đời gặm nhấm sự đói khát cùng cực.
"Kèn kẹt... roẹt..."
Cánh tay gầy guộc đầy gân xanh của Canh miết mạnh từng nhịp. Đôi mắt trũng sâu của ông dán chặt vào mặt sành. Trong ánh sáng leo lét của ngọn đèn bấc, khuôn mặt đen đúa, hốc hác của người thợ tiện xứ Đoài phủ một lớp bóng nhờn mồ hôi và bụi đá. Ông không cảm thấy mỏi mệt. Nỗi thù hận đã biến thành một thứ sức lực ma quái nâng đỡ tấm thân tàn phế của ông vượt qua cơn đau đớn thể xác.
Cuối cùng, mép bát đã được mài xong. Chiếc bát sứt ngửa miệng trơ trọi trên nền đất, mép răng cưa nhọn hoắt phản chiếu ánh lửa đỏ quạch.
Canh đặt chiếc bát sứt nằm ngửa ngay phía trước mũi chiếc thuyền gỗ dâu. Hai vật yểm nằm cạnh nhau tạo thành một chỉnh thể hoàn chỉnh của cấm thuật Lỗ Ban: Thuyền Chúc Bát Ngửa. Thuyền dốc tài sản xuống âm ty, bát ngửa miệng hứng gió đói nghèo đày con cháu vào ngõ cụt.
Canh ngả lưng dựa vào cột chòi xiêu vẹo, thở dốc từng hơi nặng nhọc. Hai bắp đùi ông run lên bần bật, vết thương ở xương ống chân lại rỉ ra một vệt dịch vàng dính bết vào manh chiếu rách. Nhưng trên khóe miệng khô nứt nẻ của người thợ già bỗng nở một nụ cười méo mó, lạnh lùng.
Phần xác của hai món pháp vật đã xong. Đường nét hình hài của chúng chuẩn xác đến từng phân từng ly, đúng theo quy thức hiểm độc nhất mà tiền nhân cấm kỵ. Không một tay thợ nào ở đất Chàng Sơn này, ngoài Lý Văn Canh, có thể tạo ra một cặp vật yểm tinh xảo và hoàn hảo về mặt phong thủy sát phạt đến nhường này.
Đúng lúc ấy, ngoài trời bỗng nhiên lặng gió.
Mây đen trên bầu trời mé núi Chàng Sơn tản ra, để lộ vầng trăng khuyết mỏng dính như lưỡi liềm lạnh buốt treo lơ lửng trên tầng không. Ánh trăng mờ đục rọi xuyên qua những kẽ hở lớn trên vách nứa mục nát của căn chòi rách, chiếu thẳng xuống sàn đất nện ngay vị trí hai món pháp vật đang nằm.
Ánh trăng trắng bệch quét qua mép bát sành mẻ và thân thuyền gỗ dâu chúc mũi, hắt bóng của chúng lên nền đất ẩm.
Lý Văn Canh vô tình cúi nhìn xuống vệt bóng đen đổ dài trước mặt.
Toàn thân ông bỗng chốc cứng đờ lại. Hơi thở nghẹn ứ nơi cuống họng.
Dưới ánh trăng mờ mịt rọi xiên qua kẽ liếp, bóng của mũi thuyền gỗ cắm chúc xuống đất cùng vành răng cưa nhô cao của chiếc bát sứt ngửa miệng không hề rời rạc riêng rẽ. Chúng đan xen, chồng lấn lên nhau một cách kỳ dị đến rợn gáy. Chiếc bóng đen ngòm in trên mặt đất tạo thành hình hài một đứa trẻ gầy trơ xương, hai bờ vai khẳng khiu rụt lại vì giá lạnh, chiếc đầu to quá khổ cúi gục xuống, và một cánh tay khô quắt như que củi đang run rẩy giơ chiếc bát vỡ ngửa ra phía trước để cầu xin từng hạt cơm ba thí.
Hình bóng đứa trẻ ăn mày hiện lên rành rọt trên mặt đất ẩm mốc, bất động nhưng tỏa ra một nỗi bi thảm, thê lương đến tột cùng của nhân gian.
Canh trừng trừng nhìn chiếc bóng đen ấy. Lồng ngực ông thắt lại. Trong thoáng chốc, người thợ già cảm thấy một cơn ớn lạnh bò dọc từ gót chân lên tận đỉnh đầu trọc lóc lở loét. Đó chính là hình ảnh tương lai của dòng dõi họ Hoàng, số phận mà cấm thuật Lỗ Ban sẽ giáng xuống con cháu viên quan huyện tàn ác. Chúng sẽ không được chết thanh thản trên nệm ấm chăn êm của ngôi dinh thự mười hai cột cái, mà sẽ phải lang thang ngửa tay ăn mày đầu đường xó chợ, chết dần chết mòn trong đói rét và sự khinh bỉ của muôn người.
Tội ác của người cha, người ông sẽ đổ ụp lên đầu những đứa trẻ vô tội chưa từng sinh ra.
Bàn tay Canh khẽ giật lùi lại một tấc. Đạo lý làm người, lòng trắc ẩn của một người thợ mộc từng cả đời kính sợ thần linh trong chốc lát trỗi dậy cắn xé tâm can ông. Những nhát kéo đoạn tuyệt ngũ duyên ở đình làng vừa rồi đã biến ông thành một kẻ bất chấp tất cả, nhưng hình ảnh một đứa trẻ đói lả ăn mày in trên nền đất vẫn khiến lương tri sâu kín của ông rúng động.
Liệu sự thù hận này có đi quá xa?
Liệu việc đày đọa một dòng giống đến tận cùng ngõ cụt có khiến linh hồn ông phải trả giá bằng cả ngàn kiếp đọa đày nơi địa ngục?
Cơn gió độc ngoài sông Đáy lại thốc vào, cuốn theo mùi tanh nồng của bùn rữa và rong rêu thối rữa. Tiếng sóng vỗ vào triền đê quai đá nghe như tiếng gào khóc ai oán của mẹ già đêm hôm trước. Vệt máu khô trên trán Canh giật thót từng cơn, nhắc nhở ông về chín bậc đá oan khiên, về hai ống chân nát bấy và nụ cười ngạo mạn của Hoàng Xuân Bột.
Khuôn mặt Canh lại đanh thép trở lại. Đôi mắt vằn lên tia sáng đỏ rực đầy sát khí.
Không có gì phải hối tiếc. Kẻ gieo gió thì con cháu phải gặt bão. Hoàng Xuân Bột không tiếc thương mạng sống của mẹ con ông, thì cớ sao ông phải xót thương cho dòng giống nhà nó? Món nợ máu này, đất trời không phân xử, thì đôi tay thợ mộc của ông sẽ tự tay đòi lại trọn vẹn.
Canh cúi xuống, nâng niu chiếc thuyền gỗ dâu chúc mũi và chiếc bát sứt ngửa miệng bằng cả hai bàn tay thô ráp. Hai món vật yểm bằng gỗ và sành lúc này mới chỉ là phần xác vô tri vô giác. Dù hình dáng của chúng đã mang trọn vẹn phong thủy triệt hạ tàn độc, nhưng để chúng thực sự phát huy công năng bẻ gãy sinh khí, hút cạn tài lộc của ngôi dinh thự năm gian bề thế kia, người thi triển còn phải thực hiện bước quan trọng và kinh hoàng nhất: nạp hồn cho vật yểm bằng máu tươi rút ra từ chính thân xác mình.
Lý Văn Canh đưa ngón tay trỏ của bàn tay phải lên sát bờ môi khô khốc.
Móng tay ngón trỏ xù xì, chai sạn sau bao năm cầm thước cầm đục. Đây là ngón tay dẫn đường cho mọi nhát cưa, nhát chạm tinh xảo nhất đời ông, nơi tích tụ toàn bộ linh khí nghề nghiệp của người thợ tài hoa làng Chàng Sơn.
Chỉ cần một nhát cắn rách thịt da đến tận xương tủy, máu tươi từ ngón tay này sẽ nhỏ xuống, thức tỉnh oán khí ngủ say bên trong thớ gỗ dâu và lòng bát sành mẻ.
Tiếng gà rừng gáy le te từ phía núi Chàng Sơn vọng lại báo hiệu trời sắp chuyển canh năm. Màn đêm buốt giá bên bờ sông Đáy chuẩn bị khép lại nhường chỗ cho một buổi rạng đông đẫm máu. Lý Văn Canh hít một hơi dài tanh nồng mùi sương lạnh, hàm răng sắc nhọn ghì chặt vào đốt ngón tay trỏ, chuẩn bị cho nhát cắn định đoạt số phận của cả hai dòng họ.