Huyết Thước Trừng Gia - Chương 6: Bức Tượng Vỡ Dưới Chân Tượng Tổ
Gió đêm rít qua những rặng tre bao quanh làng Chàng Sơn như tiếng rên rỉ nghẹn ngào của những linh hồn lạc lối. Nước mưa trên triền đê quai đá chảy tràn…
Nội dung chương
Gió đêm rít qua những rặng tre bao quanh làng Chàng Sơn như tiếng rên rỉ nghẹn ngào của những linh hồn lạc lối. Nước mưa trên triền đê quai đá chảy tràn xuống con đường đất dẫn vào trung tâm làng, biến mặt đường thành một bãi bùn nhão nhoét, tanh nồng mùi rêu mục và rơm rạ rữa nát. Giữa bãi lầy ấy, một bóng đen dị dạng đang chật vật cào từng tấc đất để nhích về phía trước.
Lý Văn Canh không còn cảm nhận được cái lạnh thấu xương của đợt mưa cuối năm. Cơn đau dữ dội từ hai ống chân nát vụn giờ đây đã biến thành những đợt giật buốt tận tủy sống, mỗi lần thân người trườn lên là một lần xương gãy cọ xát vào thịt da rách toạc. Máu từ đùi và đầu gối rỉ ra, hòa cùng nước mưa nhớp nháp, để lại một vệt sẫm dài dằng dặc phía sau lưng người thợ già. Mười đầu ngón tay ông bấu chặt vào rễ tre trồi lên mặt đường, móng tay bật ngược, đất cát nhét đầy vào kẽ thịt buốt rát.
Canh nghiến răng ken két, môi dưới đã bị cắn rách tả tơi từ lúc nào. Đôi mắt từng tinh anh, từng nhìn thấu thớ gỗ tim lim để tạc nên những đường nét xuất thần, giờ đây phủ một màng đỏ ngầu sọc máu. Trước mắt ông, rặng thị cổ thụ đầu làng hiện ra lờ mờ trong sương đêm. Ngay sau rặng thị ấy là mái ngói mũi hài rêu phong u uất của ngôi đình cổ Chàng Sơn - nơi ngự trị của thánh Lỗ Ban và cụ tổ dòng họ Lý.
Cánh cổng đình bằng gỗ lim tứ thiết khép hờ để đón gió đêm, kêu kẽo kẹt từng hồi não nuột. Canh dùng hai cùi chỏ tì mạnh lên bậc thềm đá xanh rêu phủ, dồn hết chút tàn lực cuối cùng đẩy thân hình tàn phế qua ngưỡng cửa cao ba tấc. Tiếng kim loại va chạm lách cách vang lên từ chiếc đãy da cũ kỹ thắt ngang lưng ông - nơi chứa bộ đồ nghề đục, chàng, và cây búa gỗ sến chuôi tiện đã gắn bó suốt nửa đời thợ.
Bên trong đại đình, không khí đặc quánh mùi trầm hương cũ mục, mùi gỗ mít hun khói và hơi ẩm của nền gạch thất đọng nước hàng trăm năm. Không một bóng người. Ngọn đèn dầu lạc trên ban thờ chính leo lét như hạt đỗ xanh, hắt những bóng đen méo mó lên các hàng cột cái to hai người ôm. Cả gian đình chìm trong sự tĩnh lặng thê lương, cách biệt hoàn toàn với màn mưa bão bên ngoài.
Canh nằm vật ra nền gạch Bát Tràng, lồng ngực phập phồng dữ dội, từng ngụm khí tanh nồng phả ra từ cuống họng khô khốc. Ông hít sâu một hơi, mùi hương án quen thuộc xộc vào cánh mũi khiến ruột gan ông quặn thắt. Đây là nơi ông từng dập đầu thụ giáo, nơi ông nhận cây thước tầm đầu tiên trong đời thợ mộc, và cũng là nơi ông dâng trọn tâm huyết của tuổi thanh xuân để phụng thờ thần thánh.
- Cụ tổ ơi... Thánh sư ơi... - Giọng Canh khàn đặc, đục ngầu như tiếng đá mài trên sắt vụn. - Con đã về đây... Thằng Canh tàn phế của họ Lý đã về đây...
Ông ngửa mặt lên trần đình, nước mắt hòa lẫn máu trên trán chảy tràn qua sống mũi, rớt xuống nền gạch. Không có tiếng đáp từ hư không. Chỉ có tiếng thằn lằn tắc lưỡi trên xà cò và tiếng gió lùa qua khe cửa sổ con tiện. Sự im lặng của gian đình như một lời kết án tàn nhẫn giáng xuống thân xác tả tơi của người thợ già.
Canh cố gượng hai cánh tay run rẩy, nâng nửa thân trên lên rồi khó nhọc lê lết từng bước về phía góc tả gian đình. Nơi ấy, trên chiếc đôn gỗ gụ chạm hoa sen tinh xảo, một pho tượng đứng sừng sững trong bóng tối mờ ảo.
Đó là tượng Phật Di Lặc bằng gỗ hương đỏ cao ba thước.
Mười năm trước, chính đôi bàn tay tài hoa này đã dành trọn ba năm ròng rã ăn chay nằm đất để tạc nên pho tượng ấy. Từng đường đục uốn lượn mềm mại như dải lụa, nụ cười từ bi hỷ xả của Đức Phật được gọt giũa tỉ mỉ đến mức người trong vùng đồn rằng tượng biết thở, biết tỏa ra mùi hương thanh tịnh mỗi độ rằm. Dân làng Chàng Sơn từng tự hào xem bức tượng là đỉnh cao nghề mộc của xứ Đoài, là minh chứng cho sự tài hoa và lòng thiện lương của người thợ họ Lý.
Nhưng lúc này, đối diện với gương mặt tròn đầy, nụ cười an nhiên bất biến của pho tượng, tâm can Canh như bị ngàn mũi dao cào xé.
- Ngài cười cái gì? - Canh gầm lên một tiếng xé lòng, hai mắt trợn trừng, những sợi gân xanh trên trán giật liên hồi. - Ngài cười nỗi oan ức của con? Ngài cười cái chết cắn lưỡi uất nghẹn của mẹ già bảy mươi tuổi bên bến sông Đáy? Hay ngài cười cho sự ngu xuẩn của thằng thợ mộc này tin vào lòng thiện lương giữa cõi đời lang sói?
Pho tượng gỗ hương vẫn đứng yên, đôi mắt từ bi rủ xuống nhìn kẻ khốn cùng dưới đất, nụ cười khoan dung như hóa thành một sự mỉa mai sắc nhọn cắm thẳng vào linh hồn người thợ tàn phế. Suốt năm mươi năm qua, Canh đã sống một đời thanh bần. Ông giữ đôi tay sạch sẽ, không ăn bớt một tấc gỗ của ai, không nhận tiền gian lận, dốc hết tâm lực dựng nhà cho kẻ quyền thế, tạc tượng cho đình chùa.
Đổi lại được gì?
Một lời quỵt trắng năm trăm lạng bạc! Hai ống chân bị gậy sắt đập nát vụn! Chín bậc đá nhục hình trước dinh thự mười hai trụ! Một bãi nước trầu nhổ thẳng vào vũng máu! Và cái chết không nhắm được mắt của người mẹ nghèo nơi căn chòi rách!
- Thần Phật ở đâu khi chúng nó bẻ gãy chân con? - Tiếng thét của Canh dội vào các vách gỗ lim, vang rền khắp gian đình u uất. - Thánh sư ở đâu khi mẹ con phải cắn lưỡi vì uất hận? Lòng từ bi... sự nhẫn nhịn... rốt cuộc đổi lấy cái gì ngoài sự diệt tộc?
Bàn tay thô ráp chai sạn của Canh run rẩy thò vào đãy da. Ngón tay ông chạm vào chiếc búa gỗ sến nặng trịch chuôi bọc da trâu - vật tùy thân suốt ba mươi năm qua. Bàn tay từng nâng niu từng thớ gỗ hương quý giá giờ đây siết chặt cán búa đến trắng bệch các khớp xương. Hận thù đen đặc trào dâng, bóp nghẹt chút lý trí cuối cùng. Tâm tính chính đạo, lòng kính sợ thần linh xây đắp suốt nửa thế kỷ qua hoàn toàn sụp đổ trong một cái chớp mắt, để lại một khoảng trống hoác hoang tàn đầy nọc độc.
- Đập tan nụ cười của ngài! Đập tan sự giả dối của cõi đời này!
Canh quỳ rạp trên hai đầu gối dập nát, vặn mình lấy hết sức bình sinh, vung chiếc búa gỗ sến giáng thẳng vào giữa khuôn mặt từ bi của pho tượng Phật Di Lặc.
"Rầm!"
Một tiếng nổ chát chúa vang lên giữa gian đình tĩnh mịch.
Mũi búa nặng nề cày sâu vào trán pho tượng. Khối gỗ hương già nứt toác ra một đường dài từ đỉnh đầu xuống tận cằm. Không dừng lại ở đó, Canh gầm thét như một con thú dữ cùng đường, đôi mắt long sòng sọc vệt máu. Ông vung búa liên tiếp, nện xuống điên cuồng như trút toàn bộ nỗi uất hận thấu trời vào từng thớ gỗ.
"Rầm! Rắc! Rắc!"
Tiếng gỗ vỡ xé toạc màn đêm. Những mảnh vụn gỗ hương đỏ như máu văng tung tóe khắp nền gạch Bát Tràng. Mùi hương trầm ngọt ngào vốn có của pho tượng bỗng bốc lên một mùi hăng hắc lạ lùng, quánh đặc lại như mùi máu khô. Khuôn mặt tròn đầy của Đức Phật vỡ vụn thành trăm mảnh, cánh tay bưng đĩnh vàng gãy lìa, thân tượng sụp đổ tan tành dưới sức đập tàn nhẫn của người đã từng sinh ra nó.
Canh buông rơi chiếc búa. Cán búa đập xuống nền gạch kêu "keng" một tiếng khô khốc.
Ông chống hai tay xuống đống gỗ vụn sắc nhọn, để mặc cho những mảnh gỗ găm sâu vào lòng bàn tay ứa máu. Lồng ngực ông nghẹn ứ, từng giọt nước mắt mặn chát rơi lã chã xuống những mảnh gỗ vỡ nát dưới chân. Sự giận dữ qua đi, để lại một sự trống rỗng lạnh buốt thấu xương. Bức tượng tuyệt tác đời ông đã nát. Bàn tay tài hoa của ông đã vấy máu và sự hủy diệt. Con đường thợ mộc chân chính của Lý Văn Canh đã hoàn toàn đứt đoạn từ giây phút này.
Giữa sự im lìm chết chóc vừa trở lại, một tiếng "cách" khô khốc vang lên từ phía sau hương án cụ tổ Lý Hùng Lực.
Canh giật mình ngước lên. Một mảnh gỗ hương vỡ văng rất mạnh vừa nãy đã bay chệch hướng, đập thẳng vào góc bệ thờ bằng gỗ lim chạm hoa văn mây lửa của cụ tổ họ Lý. Cú va chạm cực mạnh khiến mộng gỗ cổ xưa bị trượt ra ngoài, làm bung một tấm ván mỏng được ngụy trang vô cùng tinh xảo bên hông bệ thờ.
Sau tấm ván vừa bung ra là một hốc tối đen ngòm, phủ đầy mạng nhện và bụi xám tích tụ cả trăm năm.
Canh nín thở, đôi mắt đỏ ngầu nhìn trừng trừng vào hốc tối ấy. Trong khe hở vừa hé lộ, dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn dầu lạc, một chiếc hộp gỗ sơn then nhỏ bằng bàn tay đang nằm im lìm trên lớp vải lụa điều đã mục mủn thành tro.
Bằng trực giác nhạy bén của một người thợ mộc thượng thặng cả đời gắn bó với từng đường mộng xoi, Canh nhận ra ngay chất gỗ của chiếc hộp: đó là gỗ dâu cổ thụ nghìn năm bị sét đánh, loại gỗ chuyên dùng để trấn áp và phong ấn những thứ tà khí nặng nề nhất.
Canh khó nhọc dùng cùi chỏ kéo lê thân mình trên nền gạch lởm chởm mảnh vỡ gỗ hương, tiến sát lại gần bệ thờ cụ tổ.
Ông run rẩy đưa bàn tay đầy máu thò vào hốc tối, chạm vào chiếc hộp sơn then. Bề mặt chiếc hộp lạnh buốt như một khối băng ngâm dưới đáy giếng hoang, khiến các đầu ngón tay Canh tê dại. Trên nắp hộp không chạm trổ hoa sen hay chữ Phúc, Lộc, Thọ truyền thống, mà khắc chìm hình một chiếc thuyền ba ván đang chúc mũi cắm xuống bùn, bên cạnh là một chiếc bát sứt méo mó ngửa miệng hứng mưa.
Cả hai hình khắc đều được tô bằng một thứ chất lỏng màu đen pha ánh đỏ quạch, đã khô lại từ lâu - vết tích của máu chu sa pha mực đen cấm kỵ.
Canh nuốt một ngụm nước bọt đặc quánh, ngón tay run rẩy gạt chiếc then cài bằng đồng đã gỉ xanh.
Nắp hộp bật mở.
Bên trong chiếc hộp lót lụa đen rách nát chỉ có hai thứ: một cuộn giấy bản ngả màu vàng ố vì thời gian và một con dao trổ nhỏ bằng thép đen tuyền, mũi dao nhọn hoắt như răng nanh loài rắn độc.
Canh run rẩy rút cuộn giấy bản ra. Khi những nếp gấp giòn rụm được mở ra dưới ánh đèn le lói, từng dòng chữ Hán viết bằng máu đen hiện rõ mồn một trước mắt ông. Nét chữ sắc lẻm, cuồng bạo, chứa đựng một thứ oán khí ngút ngàn vượt qua hàng thế kỷ.
Đó là "Huyết Thước Yểm Thắng Lục" - bản mật tịch cấm kỵ nhất của dòng họ Lý, thứ mà cụ tổ Lý Hùng Lực năm xưa đã giấu kín dưới chân bệ thờ trước khi cắt tóc thề lập nên cấm giới Ngũ Tuyệt.
Mắt Canh dán chặt vào từng dòng chữ như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt:
"Đạo Lỗ Ban vốn dựng nhà an dân, định cõi thái bình. Nhưng lòng người hiểm độc hơn hùm beo, cường quyền tàn bạo hơn quỷ dữ. Khi thợ mộc bị dồn vào đường cùng không chốn dung thân, xương gãy máu rơi, nhà tan cửa nát, thì lấy máu nơi đầu ngón tay thuận mà hành Huyết Thước chi thuật.
Khắc hình thuyền chúc mũi ra cửa lớn: gia đạo tiêu tán, con cháu tha phương cầu thực, bạc vàng như nước sông trôi ra biển cả không ngày quay lại.
Yểm chiếc bát sứt ngửa miệng vào tim cột cái: dòng tộc đoạn tuyệt, đời đời làm ăn mày, cơm thừa canh cặn nuôi thân, chết đường chết chợ không manh chiếu rách đắp thây.
Nhưng luật trời đất chí công vô tư, tà thuật hại người ắt mang nghiệp chướng khôn cùng. Kẻ nào dùng thuật này, tức đã bước chân vào Lời Nguyền Ngũ Tuyệt: thân chịu phản phệ, mù lòa cô độc, ghẻ lở đầy mình, không vợ, không con, không của, không danh, không thọ. Muôn kiếp hóa thành quỷ sống chốn nhân gian, chết không đất chôn, đời đời kiếp kiếp gánh chịu đòn trừng phạt của Lỗ Ban tiên sư!"
Từng lời răn như những tia sét nện thẳng vào màng nhĩ Canh.
Bản mật tịch đã chỉ rõ con đường diệt tuyệt cả một gia tộc, nhưng cái giá phải trả là chính bản thân người thi triển sẽ phải gánh chịu toàn bộ sự báo ứng khủng khiếp nhất của trời đất. Mù lòa! Ghẻ lở! Cô độc! Không người nối dõi! Chết bờ chết bụi!
Lời nguyền Ngũ Tuyệt năm xưa cụ tổ thề từ bỏ, nay lại phơi bày trọn vẹn trước mắt ông lão tàn phế.
Canh nhìn xuống hai ống chân đã dập nát của mình, rồi nhìn lại những mảnh vỡ của bức tượng Phật Di Lặc nằm la liệt dưới chân hương án. Tiếng cười ngạo mạn của Hoàng Xuân Bột, ánh mắt lươn trâng tráo của viên tri huyện, bãi nước trầu đỏ lòm nhổ trên vũng máu chín bậc đá, và gương mặt tím tái không thể nhắm mắt của mẹ già bên bờ sông Đáy đồng loạt hiện về, xoay cuồng dữ dội trong tâm trí ông.
Lương tâm? Nhân quả? Phật pháp?
Những thứ đó có cứu được mẹ ông không? Có hàn gắn được đôi chân gãy nát này không? Có đòi lại được năm trăm lạng bạc mồ hôi nước mắt của phường thợ nghèo hay chỉ mang lại sự chà đạp tàn nhẫn của kẻ ác?
Canh ngửa đầu bật cười. Tiếng cười khàn đặc, the thé xé rách màn đêm tĩnh mịch của ngôi đình cổ. Tiếng cười man dại của một con người đã bước qua lằn ranh của sự sống và cái chết, buông bỏ hoàn toàn nhân tính để hóa thân thành quỷ dữ báo thù.
- Phản phệ? Mù lòa? Ghẻ lở? Đoạn tử tuyệt tôn? - Canh gằn từng tiếng qua kẽ răng rớm máu, đôi bàn tay gầy guộc run rẩy cầm lấy con dao trổ bằng thép đen. - Hoàng Xuân Bột... mày muốn họ Lý tao tuyệt diệt... Vậy thì tao sẽ kéo cả cửu tộc họ Hoàng nhà mày xuống đáy địa ngục cùng tao!
Canh gấp cuộn giấy bản lại, nhét cẩn thận vào ngực áo, áp sát vào lọn tóc thề của cụ tổ mà mẹ ông đã để lại. Ông nắm chặt con dao trổ sắc lạnh trong lòng bàn tay, cảm nhận hơi lạnh thấu xương của thép đen truyền thẳng vào huyết quản.
Bên ngoài, một tia chớp rạch ngang bầu trời Chàng Sơn, soi rõ khuôn mặt gầy guộc, vặn vẹo vì thù hận của người thợ già giữa đống gỗ vụn nát của bức tượng thần. Tiếng sấm rền vang sau rặng núi như tiếng thở dài vô tận của tổ tiên họ Lý trước sự trỗi dậy của một mối huyết thù kinh thiên động địa.
Lý Văn Canh chống con dao xuống nền gạch, xoay thân mình tàn tật hướng về phía cửa đình, đôi mắt ngập tràn sát khí nhìn xuyên qua màn mưa bão, ghim thẳng về hướng dinh thự mười hai trụ của quan tri huyện.