Huyết Thước Trừng Gia - Chương 7: Lời Nguyền Ngũ Tuyệt Cắt Tóc Thề

Gió từ phía sông Đáy thốc ngược lên triền đê quai đá, rít từng hồi dài qua khe cửa bức bàn của gian đình cổ. Mưa ngoài trời trút xuống mái ngói mũi hài…

Nội dung chương

Gió từ phía sông Đáy thốc ngược lên triền đê quai đá, rít từng hồi dài qua khe cửa bức bàn của gian đình cổ. Mưa ngoài trời trút xuống mái ngói mũi hài rào rào, biến khoảng sân gạch rêu phong thành một bãi nước đùng đục. Dưới chân hương án thờ thánh Lỗ Ban, Lý Văn Canh nằm sấp trên nền đá hoa xám lạnh ngắt. Hai ống chân bị đập dập bởi đòn gậy của lũ lính huyện sưng phù tím ngắt, từng thớ thịt rách tươm dính bết vào lớp vải quần thô rách bươm. Cứ mỗi lần thân mình nhích đi một tấc, mảnh xương gãy bên trong lại nghiến vào da thịt đau buốt tận óc, khiến mồ hôi lạnh vã ra hòa cùng máu từ vết rách trên trán chảy tràn xuống hốc mắt.

Mùi trầm hương ẩm mốc quện với mùi máu tanh nồng đặc quánh trong không gian u tối. Trước mắt Canh, bức tượng thánh Lỗ Ban ngự trên bệ gỗ mít sơn son thếp vàng đứng sừng sững giữa làn khói mỏng. Nhưng thứ đập vào đáy mắt đỏ ngầu của ông lúc này không phải sự uy nghiêm che chở của vị tổ nghề, mà là chiếc rương gỗ bách nhỏ bé vừa được lôi ra từ hốc đá bí mật dưới chân bệ thờ họ Lý. Chiếc rương đã nằm ở đó qua mấy đời thợ mộc Chàng Sơn, phủ lớp bụi dày của mấy mươi năm hương tàn khói lạnh.

Canh run rẩy gạt lớp lụa đen rách mục sang một bên. Dưới đáy rương, cuốn sách bọc bằng da trâu khô cứng, viền mép khâu bằng gân thú đã ngả sang màu nâu đen xỉn quạnh, nằm im lìm tựa một phiến đá lạnh ngắt. Bìa sách không có tên họ hay niên hiệu vua chúa, mặt da trâu thô ráp chỉ hằn sâu bốn chữ Hán cổ viết bằng lối triện sắc nhọn: Lỗ Ban Yểm Sát.

Mười đầu ngón tay Canh bấu chặt vào gáy sách. Cơn nhức buốt từ chín bậc đá xanh trước cửa dinh thự tri huyện Hoàng Xuân Bột bỗng chốc dội về, giần giật nơi hai đầu gối nát vụn. Viên tri huyện béo phệ khoác áo gấm thêu rồng bốn chân nhổ bãi nước trầu đỏ lòm xuống mặt đá, tiếng cười khẩy the thé cùng tiếng gậy sắt quất xuống xương cẳng chân vỡ nát vẫn còn vang dội bên tai. Năm trăm lạng bạc mồ hôi nước mắt của cả phường thợ tan thành mây khói. Mẹ già cắn lưỡi uất nghẹn trong căn chòi rách bên mép nước sông Đáy, đôi mắt trắng dã nhìn trân trân lên nóc rạ mà không nhắm lại được. Tất cả dồn nén lại, biến thành một cục máu ứ nghẹn nơi cổ họng người thợ già.

Canh cắn răng lật mở tấm bìa da trâu nặng trịch. Tấm da cọ xát phát ra tiếng kêu ken két khô khốc, xộc lên một mùi tanh tưởi khác lạ, tựa như mùi máu phơi khô trộn lẫn với bột mai rùa và tro than gỗ lim.

Trang giấy bản đầu tiên lộ ra dưới ánh sáng leo lét của cây nến sáp ong đặt cạnh chân đế nến đồng. Nét chữ son đỏ au đã thâm lại theo năm tháng hiện lên rõ rệt. Những dòng chữ ghi chép không phải về cách dựng rường, gác xà, hạ lăng hay chạm trổ rồng bay phượng múa làm đẹp cho xóm làng. Từng dòng mực đỏ đặc quánh như máu người phơi sương, vạch ra những phép tắc quái dị, những hình vẽ kỳ quặc mô tả từng khớp mộng giấu vật hung hiểm.

Canh run rẩy lật qua từng tờ giấy bản thô ráp giòn rụm. Từng ngón nghề dựng nhà truyền thống của đất Chàng Sơn bỗng chốc bị lộn ngược thành những lưỡi dao giết người không để lại vết tích.

Trang thứ ba vẽ hình một chiếc quan tài bằng gỗ dâu thu nhỏ, đặt ngầm bên trong lòng mộng đuôi én của cây quá giang. Lời chú thích bên dưới ghi rành rọt: "Gia chủ bước vào gian giữa, đêm đêm nghe tiếng thở dài dưới xà gồ; trong vòng ba năm ắt có tang ba lượt, trẻ nhỏ gầy mòn thổ huyết mà chết".

Trang thứ tư vẽ một chiếc đinh sắt bị uốn cong hình lưỡi câu, đóng ngập vào đầu kèo hiên: "Đinh câu hướng ra ngõ, hút cạn sinh khí khách qua đường, chủ nhà phát tài nhanh chóng nhưng mắt mù tai điếc, chết rét giữa mùa hè".

Ngón tay thô ráp chai sạn của Canh dừng lại ở trang thứ bảy. Một bức vẽ kỳ lạ hiện ra choáng ngợp trước mắt ông: một chiếc thuyền nan nhỏ được đẽo gọt vụng về, mũi thuyền cắm chúc xuống dưới đất, đuôi thuyền vểnh ngược lên trời, đặt ngay ngắn dưới chân cột cái đối diện thẳng ra cổng chính. Kèm theo đó là hình một chiếc bát sành mẻ miệng, ngửa mặt lên trời đón lấy bóng tối, chôn sâu vào tim gỗ nơi tiếp giáp giữa chân cột và chân tảng đá xanh.

Đôi mắt Canh mở lớn, tia máu đỏ vằn vện giật liên hồi. Hơi thở ông dồn dập, phả từng luồng hơi nóng hổi lên mặt giấy da trâu.

"Huyết Thước Thuyền Chúc Bát Ngửa chi thuật."

Dòng chữ son viết bằng mực pha máu đen đặc đập thẳng vào nhãn quan Canh. Những dòng chữ giải nghĩa sắc lẻm như từng nhát đục nện thẳng vào tim ông:

"Thuyền là chở của, chở phúc, chở mệnh của cả một tông tộc. Đẽo thuyền chúc mũi đâm thẳng ra cổng lớn, ấy là xua đuổi toàn bộ kim ngân tài bảo ra dòng sông Đáy trôi tuột ra biển cả. Bạc vàng nghìn lạng cũng hóa tro bụi, điền trang trăm mẫu cũng thành đất hoang. Con cháu đời sau sinh ra ắt mang nghiệp phiêu bạt, nam dạt phương Bắc làm trộm cướp, nữ trôi phương Nam làm kỹ nữ, tài sản tiêu tán sạch sành sanh trong vòng hai mươi năm, không tích lại nổi một đồng tiền kẽm."

Canh siết chặt nắm tay. Khuôn mặt gầy guộc đen đúa của ông co giật dữ dội.

Hai mươi năm. Đúng hai mươi năm cho một dinh thự mười hai trụ lim lộng lẫy kia sụp đổ. Hoàng Xuân Bột cướp năm trăm lạng bạc mồ hôi của phường thợ để dựng nên cái cơ ngơi nguy nga bề thế ấy, hắn dùng roi vọt và quyền thế tri huyện đè bẹp những người dân thấp cổ bé họng. Hắn muốn con cháu họ Hoàng đời đời vinh hoa, ngồi mát ăn bát vàng trên mồ hôi và xương tủy của dân lành.

Canh đọc tiếp xuống bên dưới, nơi hình vẽ chiếc bát sứt ngửa miệng được tô đậm bằng thứ mực đen kỳ quái:

"Bát là đồ đựng cơm nuôi sống con người. Bát sứt miệng ngửa lên hứng trời, ấy là hình tượng kẻ ăn mày ngửa tay xin miếng cơm thừa canh cặn nơi góc chợ. Yểm bát sứt vào tim cột cái gỗ lim, đâm thủng long mạch của ngôi nhà, biến toàn bộ phúc trạch thành nỗi nhục nhã ê chề. Kẻ trong nhà ấy, dù đương thời làm quan to chức trọng, quyền thế khuynh đảo một vùng, thì ba đời sau ắt đoạn tuyệt hương hỏa danh giá. Con cháu họ Hoàng sẽ phải mặc áo rách tả tơi, chân trần dẫm đạp trên đá sỏi, lê la đầu đường xó chợ ngửa nón rách xin từng hạt cơm ba thí của thiên hạ mà sống qua ngày. Chết rấp bờ rấp bụi, không hòm không ván, không kẻ đưa ma, thây phơi cho diều quạ rỉa thịt."

Một cơn rùng mình lạnh toát chạy dọc sống lưng Canh. Sự tàn độc của cấm thuật vượt xa tất cả những gì một người thợ mộc bình thường có thể tưởng tượng. Suốt năm mươi năm cầm đục, cầm cưa, Canh chỉ biết dùng thước Lỗ Ban đo cung đăng khoa, nghênh phúc, tài lộc để cầu bình an cho gia chủ. Đôi bàn tay ông từng tỉ mẩn đẽo gọt từng cánh hoa sen, từng nét mày từ bi của đức Phật Di Lặc bằng gỗ hương cao ba thước để dân làng Chàng Sơn chiêm bái. Chưa từng một lần ông nghĩ rằng, cây thước và mũi đục của người thợ lại có thể biến thành thứ khí giới hủy diệt cả một dòng họ độc địa đến bực này.

Nhưng ngay khi ngọn lửa căm hờn vừa dâng lên làm Canh thỏa mãn, ngón tay ông vô tình lật sang mặt sau của trang giấy da trâu.

Một luồng gió lạnh từ ngoài cửa đình thổi thốc vào, khiến ngọn nến sáp chao đảo mạnh, ngọn lửa đỏ quạch bốc lên một làn khói đen khét lẹt. Trang giấy phía sau không vẽ thêm hình thù hung khí nào, mà chỉ có một dòng chữ cảnh báo viết bằng mực chu sa đỏ thắm như máu tươi vừa rỏ xuống:

"Lỗ Ban cấm thuật, nghịch chuyển càn khôn, trời đất khôn dung, quỷ thần kinh sợ. Kẻ nào dùng Huyết Thước yểm sát, mượn sức u minh để diệt tông tộc người khác, ắt phải ký kết huyết khế đoạn mệnh cùng quỷ thần Lỗ Ban."

Mắt Canh dại đi. Ông chống hai cùi chỏ nát máu xuống nền gạch, dí sát khuôn mặt vào từng dòng chữ nhỏ li ti khắc sâu dưới mép giấy:

"Muốn bùa linh nghiệm ngàn năm, phải dùng máu tươi đầu ngón tay trỏ của chính người thợ tiện mà điểm nhãn cho thuyền chúc, nhỏ máu vào lòng bát sứt. Nhưng máu rỉ ra bao nhiêu, nghiệp báo quàng vào thân bấy nhiêu. Kẻ thi triển ắt phải chịu đòn phản phệ tàn khốc nhất của trời đất: thân xác lở loét ghẻ lở, mụn độc mọc khắp ngũ tạng, thịt nát xương mòn. Hai mắt dần mờ đục cho đến khi mù lòa vĩnh viễn, sống kiếp tăm tối cô độc nơi xó chòi rách nát. Lời nguyền Ngũ Tuyệt sẽ khóa chặt lấy số mệnh: Không vợ, không con, không của, không danh, không thọ. Dòng máu họ Lý đến đời người thi triển là dứt hẳn, tuyệt tự tuyệt tôn, chết rũ bên bờ sông không người chôn cất, muôn kiếp làm cô hồn dã quỷ chịu nghiệp lực thiêu đốt."

Canh chết sững giữa gian đình vắng. Tiếng mưa gió bên ngoài như ngừng bặt, chỉ còn tiếng tim ông đập thình thịch từng hồi nặng nề trong lồng ngực gầy guộc.

Mù lòa. Ghẻ lở. Tuyệt tự tuyệt tôn. Không người chôn cất.

Từng chữ, từng câu như những mũi đinh nung đỏ xuyên thẳng vào óc người thợ già. Lời thề nguyền năm xưa của cụ tổ Lý Hùng Lực được lưu truyền trong gia phả bỗng chốc hiện về mồn một. Cụ tổ từng cắt tóc thề trước bàn thờ thánh Lỗ Ban, răn dạy con cháu muôn đời phải giữ tâm trong sạch, không bao giờ được chạm vào rương cấm thư này. Họ Lý là dòng dõi thợ mộc danh giá đất Chàng Sơn, bao đời lấy việc dựng nhà làm phúc, tạo mái ấm che mưa che nắng cho người đời. Nếu phạm vào cấm thuật, toàn bộ phước đức tổ tiên tích cóp hàng trăm năm qua sẽ tan thành tro bụi.

Bản thân ông sẽ biến thành một con quái vật gớm ghiếc, mù lòa, thân thể tanh hôi ghẻ lở, sống không bằng chết giữa trần gian. Không có một đứa con nối dõi, không có ai hương khói, dòng họ Lý của ông sẽ vĩnh viễn chấm dứt trên cõi đời này.

Kinh hoàng và ghê sợ bóp nghẹt lồng ngực Canh. Bàn tay ông run lên bần bật, toan đẩy cuốn sách da trâu ra xa. Một nỗi sợ hãi nguyên thủy trước quỷ thần và nghiệp báo trỗi dậy mãnh liệt, thôi thúc bản năng sống của một con người bình thường muốn tháo lui.

Nhưng đúng lúc ấy, một cơn nhói buốt dữ dội từ hai đầu gối nát vụn lại giật thắt lên.

Canh gục đầu xuống nền gạch trơn trượt. Mùi máu từ hai cẳng chân bốc lên nồng nặc. Ông nhớ lại khoảnh khắc bản thân phải dùng hai cùi chỏ kéo lê thân xác qua chín bậc đá xanh trước dinh thự quan huyện, từng bậc đá thấm đẫm vệt máu kéo dài như một con sâu bọ bị dẫm đạp. Ông nhớ lại ánh mắt thản nhiên độc ác của Hoàng Xuân Bột khi hắn nâng chén trà sen, miệng nhổ toẹt một bãi nước trầu vào mặt ông rồi ra lệnh cho lính đánh thêm mười gậy sắt.

Và trên hết, Canh nhớ đến gương mặt trắng bệch, tím tái của mẹ già bên bờ sông Đáy. Manh áo nâu sồng rách nát của bà bị lính huyện giẫm rách, thi thể lạnh ngắt của bà phải nằm trên đống rơm mục ẩm ướt trong căn chòi xiêu vẹo, đôi mắt mở trừng trừng vì uất hận không thể nhắm lại.

Lương thiện để làm gì khi mạng người nghèo khó bị coi như rơm rác?

Nhẫn nhục để làm gì khi cường quyền sẵn sàng bẻ gãy từng khúc xương của kẻ vô tội?

Phước đức tổ tiên có cứu được mẹ ông sống lại không? Có làm lành lại hai ống chân nát vụn của ông để tiếp tục cầm đục cầm cưa hay không?

Không. Không có gì cả.

Canh ngước nhìn lên bàn thờ thánh Lỗ Ban. Ánh nến hắt lên khuôn mặt gỗ mít sơn son của vị tổ nghề một vẻ lạnh lùng vô cảm. Tượng thánh ngồi đó, trầm mặc nhìn xuống nỗi oan khuất ngút trời của phường thợ nghèo Chàng Sơn qua bao nhiêu thế hệ mà chẳng hề lay động. Trời đất không có mắt, quan lại không có lòng nhân, chỉ có sức mạnh của thù hận mới có thể đòi lại món nợ máu này.

Nỗi kinh hoàng trong lòng Canh dần dần bị một ngọn lửa cuồng nộ đen tối thiêu rụi hoàn toàn. Nỗi sợ nghiệp báo biến thành sự hung hãn tột cùng của một kẻ đã mất đi tất cả, không còn gì để mất thêm nữa. Đôi mắt từng tinh anh của người thợ tiện tài hoa bỗng chốc vằn lên những tia sáng man dại, hoang dại như dã thú sa vào bẫy sập.

- Mù lòa thì sao? - Canh gằn giọng, từng từ rít qua kẽ răng rớm máu, giọng nói khàn đặc rung lên bần bật giữa không gian tĩnh mịch. - Ghẻ lở thì sao? Tuyệt tự tuyệt tôn thì sao?

Canh đưa bàn tay thô ráp, chai sạn lên trước mặt. Ngón tay trỏ của bàn tay phải - ngón tay từng nắn nót đo từng ly từng tấc trên thước tầm, từng dẫn đường cho những nhát đục tinh xảo nhất xứ Đoài - nay đang run rẩy nhưng đầy kiên quyết.

- Hoàng Xuân Bột... mày cướp bạc của tao, đánh gãy chân tao, bức chết mẹ tao... Mày muốn họ Hoàng nhà mày vinh hoa phú quý trên xương máu của phường thợ Chàng Sơn...

Canh cúi gập người xuống, hai bàn tay ghì chặt lấy trang cấm thư bọc da trâu, đôi mắt dán chặt vào hình vẽ chiếc thuyền chúc mũi và chiếc bát sứt ngửa miệng. Từng chi tiết về kích thước, quy cách đẽo gọt, thần chú dẫn huyết và phương vị đặt vào tim cột cái gỗ lim được ông khắc sâu vào từng nếp nhăn trong óc. Từng đường đục, từng thớ gỗ, từng góc mộng hiện lên rành rọt, chuẩn xác đến rợn người.

- Đời này tao thành quỷ, tao cũng phải kéo cả dòng giống nhà mày xuống đáy bùn nhơ cùng tao! Con cháu mày sẽ phải nếm trải nỗi nhục nhã của kẻ ăn mày, gặm nhấm sự đói rách cơ hàn gấp vạn lần những gì mẹ con tao phải chịu đựng đêm nay!

Canh lật tiếp sang trang cuối cùng của cuốn cấm thư. Ở đó, một hình vẽ kỳ dị mô tả nghi thức đoạn tuyệt huyết thống hiện ra: một chiếc kéo thợ tiện cắt đứt búi tóc đen đặt trên bát hương tổ, kèm theo lời thề từ bỏ ngũ duyên trước hương linh tiền nhân. Đó là cánh cửa không lối về, một khi đã cắt tóc lập thệ, người thợ sẽ vĩnh viễn bước vào cõi tà đạo, không còn đường quay lại làm người lương thiện.

Lý Văn Canh không hề chớp mắt. Bàn tay ông lướt qua con dao trổ bằng thép đen tuyền nằm lạnh ngắt dưới đáy rương gỗ. Hơi lạnh của kim loại truyền qua da thịt, thấm sâu vào từng đường gân thớ thịt, dập tắt đi chút do dự cuối cùng sót lại trong tâm can.

Canh ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào bát hương bằng đá xanh của cụ tổ Lý Hùng Lực đặt uy nghiêm trên hương án họ Lý. Trong bóng tối lờ mờ của ngôi đình cổ Chàng Sơn, ánh mắt người thợ già tàn phế rực lên một thứ sát khí đen ngòm, lạnh lẽo tựa nước đáy sông Đáy giữa đêm đông buốt giá. Mọi thứ đã được định đoạt. Con đường báo thù đẫm máu đã mở ra, và ông sẵn sàng dùng cả sinh mạng, cả dòng giống họ Lý của mình để bước qua cánh cửa địa ngục ấy.

Chương khác

Xem thêm