Huyết Thước Trừng Gia - Chương 14: Lý Văn Canh Mù Lòa Cô Độc Ghẻ Lở Đầy Mình

Gió bấc từ đỉnh núi Chàng Sơn tràn xuống thung lũng, mang theo hơi lạnh buốt giá của mùa đông năm Canh Tuất quét dọc triền đê quai đá. Bên mép sông Đáy,…

Nội dung chương

Gió bấc từ đỉnh núi Chàng Sơn tràn xuống thung lũng, mang theo hơi lạnh buốt giá của mùa đông năm Canh Tuất quét dọc triền đê quai đá. Bên mép sông Đáy, bãi lau sậy xơ xác rạp mình rên rỉ dưới từng cơn rít gắt gao. Nước sông mùa cạn chảy lững lờ, đục ngầu phù sa đỏ quạch, vỗ từng đợt ì oạp vào chân những cọc tre cắm xiêu vẹo giữ đất. Giữa bãi bồi sình lầy quanh năm ngập ngụa mùi bùn tanh và xác rơm rạ rữa nát, một túp chòi rách nát trơ trọi đứng nép mình bên rặng dứa dại cằn cỗi.

Túp chòi ấy chắp vá bằng mấy tấm phên nứa gãy nát, mái lợp rơm mục lẫn lá chuối khô đã thủng lỗ chỗ, gió lùa tứ phía nghe hun hút buốt óc. Trong bóng tối nhờ nhợ của góc chòi, một đống giẻ rách bỗng cựa mình. Đó không phải là một đống giẻ bỏ đi, mà là một con người bằng xương bằng thịt đang oằn mình chống chọi với cơn co giật dữ dội xé toạc từng thớ gân cốt.

Lý Văn Canh nằm ngửa trên manh chiếu rách đẫm mùi ẩm mốc, ngực trơ xương sườn phập phồng gấp gáp từng nhịp nặng nề. Hai mươi năm trôi qua kể từ cái ngày gác đòn dông nhuốm máu ở dinh thự quan huyện Hoàng Xuân Bột, người thợ mộc tài hoa khét tiếng xứ Đoài năm xưa giờ đây đã bước sang tuổi bảy mươi. Nhưng đó không phải là một tuổi già thanh thản bên con cháu, mà là chuỗi ngày tồn tại của một phế nhân sống dở chết dở, bị đày đọa đến tột cùng bờ cõi nhân gian.

Hai mắt lão đã mù lòa hoàn toàn từ mười năm trước. Đôi con ngươi từng ngắm chuẩn từng đường mực, từng thớ gỗ hương gỗ trắc để đục nên những pho tượng Phật tuyệt mỹ, nay chỉ còn lại hai hốc mắt sâu hoắm, lòng đen đục ngầu như mắt cá ươn chết trôi, bao phủ bởi một lớp màng trắng bệch gớm ghiếc. Lão không còn nhìn thấy ánh sáng mặt trời rọi qua lũy tre Chàng Sơn, không thấy dòng sông Đáy đổi màu mỗi mùa lũ, chỉ có bóng tối dày đặc, đen đặc và lạnh lẽo bao trùm lấy tâm thức lão suốt ngày đêm.

Đôi chân từng sải bước vững chãi trên giàn giáo cao mấy trượng giờ đây teo tóp rúm ró. Sau trận đòn tàn độc của đám lính lệ năm xưa, xương bánh chè của lão vỡ vụn, các khớp nối dính liền lại thành những cục xương dị dạng gập ngược vào trong. Mỗi lần muốn di chuyển khỏi ổ rơm, lão phải dùng hai cùi chỏ chai sần tì sát xuống bùn đất, kéo lê phần thân dưới vô dụng từng tấc một, hệt như một con sâu đất bị giẫm nát nửa thân mình.

Thế nhưng, sự tàn phế của đôi mắt và đôi chân vẫn chưa phải là thứ hình phạt khủng khiếp nhất mà cõi u minh giáng xuống đầu kẻ phạm vào cấm thuật. Toàn bộ lớp da thịt trên người Lý Văn Canh đang rữa ra trong từng ngày từng khắc. Từ cổ, ngực, lưng cho đến bắp đùi, từng mảng ghẻ lở loét to bằng bàn tay kết thành những lớp vảy xám xịt dày cộp. Dưới lớp vảy nứt toác vì gió lạnh, dịch vàng tanh tưởi rỉ ra từng giọt, hòa lẫn với máu ứ bết chặt vào manh áo vải gai nát tươm.

Cơn ngứa ngáy bên trong da thịt lão không giống bất kỳ chứng bệnh ghẻ lở thông thường nào của cõi nhân gian. Nó âm ỉ, nhức nhối từ tận tủy xương, râm ran bò khắp mạch máu. Lão cảm thấy hàng vạn con mạt gỗ li ti mang theo mùn cưa và tà khí đang bò lổm ngổm trong ống chân, đục khoét từng khớp xương, róc rỉa từng sợi gân.

Canh nghiến chặt hai hàm răng đã rụng gần hết, phát ra tiếng ken két ghê rợn. Lão giơ đôi bàn tay gầy trơ xương, móng tay cáu bẩn đất cát cào cấu điên cuồng lên ngực mình. Móng tay xé toạc lớp da non, bóc từng mảng vảy máu khô khốc, nhưng sự đau đớn thể xác ấy chẳng thể nào dập tắt được cơn ngứa buốt thấu tim gan đang trỗi dậy từ bên trong.

- Cụ tổ ơi... Cụ tổ Lý Hùng Lực ơi... - Canh thều thào qua bờ môi nứt nẻ rỉ máu, giọng khản đặc đắng nghét. - Con biết tội rồi... Con đã nếm trọn chén đắng của lời thề Ngũ Tuyệt rồi...

Lời thề khắc trên tấm bia đá đen đặt nơi hậu cung đình làng Chàng Sơn năm nào lại dội về trong tai lão Canh, văng vẳng bên tiếng gió gầm rú: "Cắt tóc thề với trời đất tổ nghề: Không vợ, không con, không của, không danh, không thọ. Dùng nghề mộc mưu hại sinh mạng, ắt chịu vạn kiếp đày đọa, huyết nhục tiêu tan."

Năm xưa, khi nhìn thấy cơ nghiệp trăm năm của tổ tiên thợ mộc Chàng Sơn bị viên quan huyện giẫm đạp dưới gót giày, khi năm trăm lạng bạc mồ hôi nước mắt của anh em bạn thợ bị cướp trắng trợn, lòng hận thù ngùn ngụt đã che mờ lý trí của người thợ cả. Canh đã bất chấp lời răn đe của cụ tổ sáng lập dòng họ Lý, bất chấp đạo lý thánh Lỗ Ban truyền dạy, dám cắn rách ngón tay lấy máu tươi luyện bùa hắc ám, yểm chiếc bát sứt ngửa miệng hứng trọn phúc lộc và chiếc thuyền dâu chúc mũi dìm tài vận họ Hoàng xuống dòng sông Đáy.

Lão đã trả thù được. Hai mươi năm qua, tin tức về sự suy tàn của nhà họ Hoàng vẫn lọt vào tai lão qua những câu chuyện rì rầm của đám người đi bẻ ngô ven bãi bồi. Hoàng Xuân Bột chết bất đắc kỳ tử vì chứng thổ huyết ngay giữa sân dinh thự. Đám con trai của quan huyện cờ bạc, nghiện ngập, tranh giành đất đai rồi lần lượt chết rũ tù hoặc bỏ mạng nơi đất khách quê người. Ruộng sâu cuốc bẫm tiêu tán sạch sành sanh. Dinh thự bề thế với mười hai cột cái lim uy nghi sụp đổ từng mảng, ngói âm dương vỡ vụn, biến thành một phế tích hoang tàn rêu phong rợn ngắt.

Dòng họ Hoàng Xuân Bột đã tuyệt diệt, không còn lấy một mụn con cháu nối dõi tông đường.

Nhưng cái giá mà Lý Văn Canh phải trả cho sự hả hê tàn độc ấy là cả một đời chìm trong địa ngục trần gian. Bùa Lỗ Ban là con dao hai lưỡi sắc lẹm, cắm mũi dao vào tim kẻ thù bao nhiêu phân thì chuôi dao quay lại nghiền nát lục phủ ngũ tạng của kẻ gieo ngải bấy nhiêu phần. Lão Canh không vợ, không con cái đỡ đần khi ốm đau tàn phế. Lão sống cô độc như một bóng ma bờ bụi, tài sản trên đời gói gọn trong một manh chiếu rách và chiếc gáo dừa nứt dùng để múc nước sông uống qua ngày. Danh tiếng người thợ mộc đệ nhất xứ Đoài chìm sâu vào quên lãng, người đời chỉ nhìn thấy một lão ăn mày mù lòa gớm ghiếc, ai nấy đều xua đuổi như xua đuổi một ổ dịch hạch.

Canh co ro cuộn tròn thân thể gầy guộc lại để tìm kiếm chút hơi ấm sót lại trên ổ rơm rạ, nhưng hơi ẩm từ mặt đất sình lầy cứ ngấm qua lớp chiếu nát xông thẳng vào da thịt. Đêm nay là đêm rằm tháng Chạp.

Mặt trăng tròn vành vạnh trôi lơ lửng trên nền trời đông xám xịt, tỏa xuống bãi sông thứ ánh sáng lạnh lẽo như vôi bột. Khi bóng trăng lên tới đỉnh ngọn núi Chàng Sơn, một luồng hàn khí kỳ dị từ lòng đất bỗng chạy dọc sống lưng lão Canh, xộc thẳng lên mười đầu ngón tay.

- Á... a...

Một tiếng thét nghẹn ứ bật ra từ cuống họng lão thợ già. Canh giơ hai bàn tay run rẩy lên trước ngực. Đôi bàn tay từng múa chàng múa đục tinh diệu phi thường giờ đây biến dạng, các ngón tay co quắp như móng vuốt chim ưng.

Ngay tại đầu mười ngón tay, đặc biệt là ngón tay trỏ bên phải - ngón tay năm xưa lão đã tự dùng răng cắn đứt để lấy huyết tươi hòa vào mực tàu vẽ bùa - những vết sẹo cũ bỗng nứt toác ra một cách kỳ bí. Không cần vật sắc nhọn cứa vào, lớp da dày cộm tự động rách toạc thành một đường sâu hoắm. Máu tươi đỏ thẫm ứa ra, trào qua kẽ ngón tay, nhỏ tong tỏng xuống manh chiếu rách.

Cứ đến ngày rằm hàng tháng, đúng vào canh ba khi khí âm thịnh nhất, đòn phản phệ của huyết chú lại trỗi dậy đòi nợ. Máu từ đầu ngón tay lão không ngừng rỉ ra, mang theo một mùi tanh nồng khác thường, hệt như thứ mùi máu tanh tưởi bốc lên từ lòng cột gỗ lim của dinh thự đổ nát năm nào.

Từng giọt máu rơi xuống rơm khô kêu "tí tách", nhịp nhàng và ghê rợn như tiếng giọt huyết năm xưa Canh nhỏ vào chén rượu mừng của Hoàng Xuân Bột. Mỗi giọt máu rơi xuống, tim Canh lại thắt lại một cơn đau đớn cùng cực, toàn thân lão run lên bần bật như bị rút cạn chút sinh lực còm cõi còn sót lại. Mười đầu ngón tay buốt nhói như đang bị kẹp chặt vào đe sắt nung đỏ, từng thớ thịt giật liên hồi.

Lão biết rõ căn nguyên của hiện tượng quái gở này. Cây cột cái lim giữa dinh thự hoang tàn kia vẫn chưa mục nát hoàn toàn. Chiếc bát sứt ngửa miệng và chiếc thuyền dâu mang dải lụa điều thấm máu lão vẫn còn nằm im lìm trong hốc mộng dưới lòng đất. Sợi dây huyết chú vô hình nối giữa tim người thợ mộc và tâm cây cột lim vẫn chưa hề đứt đoạn. Ngôi nhà hoang ấy vẫn đang hút từng giọt sinh khí, từng giọt máu tươi của lão để duy trì lời nguyền diệt tộc.

Chừng nào cây cột cái chưa bị triệt hạ, chừng nào bùa chú chưa được giải phong, thì chừng ấy mười đầu ngón tay của lão Canh vẫn sẽ tiếp tục rỉ máu vào mỗi đêm trăng tròn, đày đọa lão sống dở chết dở cho đến khi giọt máu cuối cùng cạn kiệt.

Lão Canh gập đôi bàn tay đầy máu ép chặt vào ngực, cắn răng chịu đựng từng đợt co rút dữ dội. Mồ hôi lạnh vã ra như tắm trên vầng trán nhăn nheo hằn sâu những vết chân chim khắc khổ. Lão cố vươn cánh tay khẳng khiu lần mò trong bóng tối, chạm vào chiếc vò đất sứt miệng đặt ở góc chòi. Lão nghiêng vò, nhưng bên trong trống rỗng khô khốc, chỉ có mấy hạt bụi sạn lăn lạo xạo dưới đáy.

Khát. Một cơn khát cháy cổ họng thiêu đốt từ dạ dày bốc lên, hệ quả của việc mất máu và cơn sốt ghẻ lở hoành hành.

Lão Canh thở dốc, hai tay chống xuống mặt đất bùn nhão, lê lết thân mình về phía cửa chòi. Cánh liếp nứa xiêu vẹo khẽ đung đưa theo gió rít. Lão chui nửa thân mình ra ngoài bờ sông, hai đầu gối kéo lê trên đám sỏi đá nhọn hoắt ven mép nước, để lại một vệt máu đỏ nhờ nhờ hòa vào bùn lầy.

Bàn tay run rẩy của lão vục xuống mép nước sông Đáy lạnh như băng. Lão bụm lấy một vốc nước đục ngầu, đưa lên miệng nuốt ừng ực. Vị nước sông tanh nồng phù sa và lạnh buốt làm răng lão tê dại, nhưng nó tạm thời xoa dịu được ngọn lửa thiêu đốt nơi cuống họng.

Lão nằm sấp bên mép sông, ngửa mặt lên trời hít từng ngụm khí lạnh căm căm. Cách đó vài dặm về phía thượng lưu, nơi nền đất cao ráo của làng Chàng Sơn, phế tích dinh thự họ Hoàng sừng sững trong màn đêm mờ ảo. Dù đôi mắt đã mù lòa, nhưng bằng giác quan nhạy bén của một người thợ mộc cả đời gắn bó với gỗ lạt, lão Canh vẫn nghe thấy tiếng kẽo kẹt rợn người vọng lại theo chiều gió.

Đó là tiếng thân cây gỗ lim vặn mình. Nó phát ra đều đặn, rên xiết như tiếng một con thuyền nan đang oằn mình chống chọi với xoáy nước ngầm dưới đáy sông sâu. Tiếng rên xiết ấy là tiếng khóc than của những oan hồn nhà họ Hoàng đã bỏ mạng vì bùa ngải, và cũng là tiếng xiềng xích của nghiệp chướng đang trói chặt lấy linh hồn lão Canh.

Lão nhớ lại hai mươi năm trước, khi lão còn là một người đàn ông ngũ tuần vạm vỡ, hai vai rộng như phản gỗ, bàn tay cầm chiếc đục sắc bén vung lên thoăn thoắt. Lão từng tạc pho tượng Phật Di Lặc bằng gỗ hương cao ba thước, gương mặt Đức Phật từ bi hỷ xả, nụ cười bao dung độ lượng cứu rỗi chúng sinh, được các bậc túc nho và quan viên khắp trấn Sơn Tây ngợi ca nức nở. Khi ấy, lòng lão thanh tịnh, tâm lão hướng thiện, từng thớ gỗ qua tay lão đều mang lại sự ấm no, phúc đức cho xóm làng.

Thế rồi lòng tham của kẻ quyền thế đã biến lão thành một con quỷ mang lòng thù hận. Lão đem tài nghệ mà tổ nghề truyền dạy để tạo ra một vật phẩm sát nhân tàn độc. Lão đã hủy diệt cả một dòng tộc, biến một gia đình hiển hách thành tro bụi ăn mày. Nhưng kết cục của kẻ trả thù thì sao? Lão đang nằm đây, bên bãi bồi hoang vắng, thân thể thối rữa, máu chảy đầm đìa, không chốn dung thân, không một người thân thích đoái hoài.

- Ha ha... ha ha ha...

Lý Văn Canh bỗng bật ra một tràng cười khàn đặc, chua xót đến xé lòng. Tiếng cười vỡ vụn giữa khoảng không gian tĩnh mịch của bãi sông, hòa cùng tiếng sóng vỗ ì oạp vào triền đê.

Lão cười cho sự ngông cuồng của chính mình năm xưa. Lão cười cho cái gọi là "công lý" mà lão từng tin tưởng khi cắn máu yểm bùa. Hận thù đã xong, kẻ ác đã đền tội, nhưng vết thương trong tâm can và nỗi đày ải trên thể xác lão thì vĩnh viễn không có thuốc nào chữa lành.

Gió bấc càng về khuya càng thổi mạnh hơn. Những hạt mưa phùn mùa đông bắt đầu lất phất rơi xuống mặt sông Đáy, kéo theo những đám mây đen kịt từ dãy núi Ba Vì che khuất ánh trăng rằm lạnh lẽo. Mặt nước sông nổi sóng lăn tăn, những giọt mưa buốt giá quất thẳng vào da thịt trần trụi của lão thợ già, làm những vết lở loét nhức nhối như bị xát muối hầm.

Canh cắn răng, lại dùng hai cùi chỏ tì xuống bùn đất, kéo lê thân xác rách rưới của mình ngược trở vào túp chòi rách. Máu từ mười đầu ngón tay vẫn rỉ ra từng giọt thẫm màu, để lại một vệt dài sẫm tối trên nền đất ẩm.

Lão co ro vùi mình vào đống rơm khô mục nát, kéo manh chiếu rách trùm kín từ đầu đến chân. Đôi bàn tay tàn phế ép chặt vào lồng ngực gầy guộc, nơi trái tim già nua đang đập những nhịp yếu ớt. Cơn đau buốt từ mười đầu ngón tay vẫn không ngừng xộc lên não tủy, như một lời nhắc nhở tàn khốc rằng bản án mà lão phải gánh chịu vẫn chưa đến hồi kết thúc.

Mưa mỗi lúc một nặng hạt hơn, gõ rào rào lên mái rơm lá nát của căn chòi. Tiếng gió gầm rú qua rặng tre Chàng Sơn nghe như tiếng thở dài ngao ngán của thánh Lỗ Ban nơi đền miếu xa xôi.

Trong cơn mê sảng vì rét buốt và mất máu, Lý Văn Canh lẩm bẩm những lời kinh sám hối ngắt quãng, hai hàm răng va vào nhau lập cập. Lão nằm im lìm trong bóng tối dày đặc, chờ đợi một cái chết giải thoát có thể đến bất cứ lúc nào, hoặc lại là một ngày mai đày ải ê chề khi ánh bình minh mùa đông ló dạng.

Nhưng số mệnh trớ trêu dường như vẫn chưa muốn buông tha cho kẻ gieo ngải. Giữa tiếng mưa rơi rả rích và tiếng gió rít qua khe nứa mục nát, một chuỗi âm thanh kỳ lạ, mỏng manh như hơi thở bỗng mơ hồ truyền đến từ phía con đường mòn lầy lội dẫn xuống bến sông.

Chương khác

Xem thêm