Huyết Thước Trừng Gia - Chương 16: Cháu Nội Duy Nhất Còn Sống Sót Của Viên Quan Huyện

Tiếng lách cách giòn đanh của chiếc bát sành va vào nền đất nện kéo Lý Văn Canh bừng tỉnh khỏi cơn chấn động. Lão thợ mộc mù vội rụt tay lại, lồng ngực…

Nội dung chương

Tiếng lách cách giòn đanh của chiếc bát sành va vào nền đất nện kéo Lý Văn Canh bừng tỉnh khỏi cơn chấn động.

Lão thợ mộc mù vội rụt tay lại, lồng ngực phập phồng kịch liệt. Đầu ngón tay lão tê dại, những vết lở loét do nghiệp lực rỉ máu rát bỏng như vừa chạm vào thanh sắt nung đỏ. Lão lắng tai nghe ngóng. Ngoài tiếng gió bấc gầm rú qua các khe nứa và tiếng sóng sông Đáy đập dữ dội vào chân đê, gian chòi chỉ có tiếng thở khò khè, đứt quãng của đứa trẻ ăn mày.

Con bé vẫn nằm co quắp trên đống rơm khô. Cơ thể gầy guộc của nó thỉnh thoảng lại co giật từng chập vì cái lạnh ngấm sâu vào tận xương tủy. Cơn sốt hâm hấp bắt đầu bốc lên từ vầng trán trũng sâu của đứa nhỏ, biến da dẻ nó thành một lớp màng khô khốc, nóng ran giữa buốt giá mùa đông.

Lão Canh hít một hơi dài khí lạnh để trấn tĩnh lại thần trí. Lão lần tay trên mặt đất, cẩn thận nhấc chiếc bát sứt cất sang một góc khuất sát vách nứa. Dù lòng dạ còn đang rối bời trước vết sứt kỳ quái mang hình con thuyền chúc mũi, lão vẫn hiểu rõ một điều: nếu cứ để mặc đứa bé này trong manh áo ướt sũng, nó sẽ tắt thở trước khi trời sáng.

Lão lần mò đến bên bếp lửa tàn, dùng hai cùi chỏ tì xuống đất để nhích từng bước nặng nề. Chân gãy năm xưa bị quan phủ sai lính bẻ nát nay cứng đờ, mỗi lần cử động lại kéo theo cơn đau nhức buốt óc. Lão quờ quạng nhặt thêm mấy cành củi gòn mục ném vào đống tro, cúi sát mặt xuống thổi phù phù. Đốm than đỏ le lói bùng lên, soi rọi không gian chật hẹp, ẩm thấp đầy mùi bùn nước và mùi ẩm mốc.

Dưới đáy một chiếc hũ sành sứt vò đặt cạnh góc cột, lão tìm thấy chiếc lọ con đựng thứ dầu tràm đặc quánh mà đám thuyền chài ven sông từng ba thí cho lão vụ đông năm ngoái. Thứ dầu cay nồng này là thứ duy nhất giúp lão xoa dịu những vết ghẻ lở trên da thịt mỗi khi gió lạnh tràn về.

Lão Canh lê người trở lại bên đống rơm. Lão đưa bàn tay thô ráp, sần sùi lên trán đứa bé. Hơi nóng hầm hập phả vào lòng bàn tay lão. Đứa nhỏ cựa mình rên rỉ, hai hàm răng va vào nhau lập cập phát ra những âm thanh vô nghĩa.

- Ấm rồi, đừng sợ... Có lửa rồi...

Lão thợ già lẩm bẩm dỗ dành, giọng khàn đặc như tiếng cưa gỗ cùn. Lão đổ vài giọt dầu tràm vào lòng bàn tay, xoa hai bàn tay tật nguyền vào nhau cho nóng lên rồi áp vào hai bên thái dương đứa trẻ. Đứa bé khẽ giật mình, hơi thở dồn dập hơn nhưng cơ thể dần giãn ra dưới sức nóng của dầu tràm.

Lão Canh lần tay xuống cổ áo nó, toan cởi bớt lớp vải gai thô rách nát sũng nước mưa để lau khô ngực và bụng. Lớp áo ngoài đã mủn ra từng mảnh, bết chặt vào làn da bọc xương. Khi những ngón tay gầy guộc của lão vừa luồn qua cổ áo đứa trẻ, đầu ngón tay trỏ bỗng vấp phải một sợi dây nhỏ.

Đó là một sợi chỉ ngũ sắc xe tròn, do lâu ngày dầm mưa dãi nắng và cáu bẩn nên đã chuyển sang màu nâu sẫm, khô cứng lại như một sợi gân bò. Sợi dây được đeo tròng qua cổ đứa bé, luồn sâu vào tận đáy yếm rách.

Ở đầu mối sợi dây, một vật dẹp bằng kim loại mát lạnh cọ nhẹ vào mu bàn tay lão.

Lý Văn Canh dừng tay lại. Cảm giác sắc bén của một người thợ thủ công suốt nửa thế kỷ gắn liền với gỗ, đá, đồng, bạc lập tức trỗi dậy trong huyết quản. Lão không cần nhìn bằng mắt. Mười đầu ngón tay của lão, dù đã rụng mất vài đốt móng và chằng chịt sẹo lở, vẫn là mười chiếc thước đo tinh vi nhất vùng Chàng Sơn.

Lão nhẹ nhàng nhấc vật đó lên khỏi lồng ngực lép kẹp của đứa bé.

Vật thể nằm lọt thỏm trong lòng bàn tay lão. Nó nặng một cách bất thường so với kích thước nhỏ bé. Đó là thứ bạc ta nguyên chất, không hề pha tạp đồng hay chì, thứ bạc ròng mà chỉ có các bậc quyền quý, quan lại hàng tổng, hàng phủ mới đủ tiền đúc thành khánh bạc hộ mệnh cho con cháu đeo trừ tà.

Miếng khánh bạc có hình dáng một đám mây cuốn hình cánh cung, hai đầu uốn lượn mềm mại như cánh dơi ngậm khánh. Nhưng điều khiến cả thân mình lão Canh đông cứng lại chính là những đường chạm nổi trên bề mặt kim loại.

Lão run rẩy đưa ngón tay cái miết chậm rãi qua từng đường nét.

Đầu tiên là phần viền ngoài. Đường chỉ viền sắc lẹm, uốn lượn ba tầng hoa cúc dây - lối chạm lộng đặc trưng của thợ kim hoàn xứ Đoài, vốn chỉ phục vụ riêng cho các công trình dinh thự và nhà thờ tổ của những gia tộc quyền thế bậc nhất.

Tiếp đến là trung tâm của miếng khánh. Ngón tay lão sờ thấy một cái trán gồ lên kiêu hãnh, một chiếc sừng nhọn uốn cong về phía sau, hai hốc mắt tròn xoe lồi hẳn ra ngoài. Dưới mũi là một hàm răng sắc nhọn đang ngoạm chặt lấy một viên ngọc tròn lẳn.

Kỳ lân ngậm ngọc.

Toàn thân Lý Văn Canh giật bắn lên một cái, hơi thở nghẹn ứ nơi cổ họng.

Họa tiết này... thế uốn của râu lân này... góc nghiêng của viên ngọc này...

Lão không thể nào nhầm lẫn được. Hai mươi năm trước, chính đôi bàn tay này của lão đã thức trắng ròng rã ba tháng trời bên đục, bên búa để chạm trổ đồ án "Kỳ lân ngậm ngọc" lên toàn bộ hệ thống cánh cửa võng và cổng tam quan của dinh thự viên tri huyện Hoàng Xuân Bột. Từng cái vảy rồng, từng sợi râu lân, từng nét uốn lượn trên bờm thú đều do chính tay lão vẽ mẫu, gọt giũa từ một khối gỗ trắc đen bóng.

Thời ấy, viên tri huyện Hoàng Xuân Bột tâm đắc với mẫu vẽ ấy đến mức đã gọi riêng thợ kim hoàn nổi tiếng nhất phủ Quốc Oai về tận tư dinh, mang theo mười thỏi bạc ròng, bắt thợ rèn phải rập khuôn chính xác từng đường nét trên bản vẽ của lão Canh để đúc ra ba chiếc khánh bạc bản mệnh trao cho con cháu trong dòng tộc. Quan huyện từng hống hách vỗ đùi cười lớn giữa sân gạch Bát Tràng: "Mẫu kỳ lân của thầy thợ Canh quả là độc nhất vô nhị. Dòng họ Hoàng ta nhờ con kỳ lân ngậm ngọc này mà muôn đời phú quý, ngậm hết tinh hoa tài lộc của cả cái đất Chàng Sơn này!"

Lời nói trịch thượng năm nào dội về như tiếng sét đánh ngang tai giữa đêm mưa tầm tã.

Những thớ thịt trên gò má lão Canh giật giật liên hồi. Lão lật sấp miếng khánh bạc lại. Lòng bàn tay lão ướt đẫm mồ hôi lạnh, hòa lẫn với thứ dịch vàng tanh nồng từ các vết thương rỉ ra.

Mặt sau của miếng khánh phẳng lì, nhẵn thói do nhiều năm cọ xát vào da thịt người. Nhưng ở chính giữa, bốn ký tự được khắc chìm sâu hoắm, sắc nét như vết dao cứa vào mắt lão thợ già mù lòa.

Ngón tay trỏ của lão lần theo nét sổ dọc đầu tiên.

Nét ngang... nét sổ... bộ thảo đầu... chữ "Hoàng".

Tiếp tục dời xuống dưới. Nét phẩy... nét mác... bộ mịch... chữ "Tộc".

Bên cạnh là một chữ nét cong mềm mại: chữ "Chi".

Và chữ cuối cùng nằm sâu dưới đáy khánh bạc, nét khắc sâu nhất, vuông vức và dứt khoát: chữ "Bảo".

Hoàng Tộc Chi Bảo. Báu vật của dòng họ Hoàng.

- Không...

Lão Canh thốt lên một tiếng nghẹn ngào, cả cánh tay run bắn khiến miếng khánh bạc trượt khỏi ngón tay, đập nhẹ vào xương sườn đứa bé.

Lão bàng hoàng lùi giật lùi về phía sau, hai gót chân tì mạnh xuống nền đất ẩm làm tung tóe lớp bùn nhão. Lưng lão đập mạnh vào cây cột nứa xiêu vẹo của túp lều, làm cả mái rơm lá nát rung rinh, nước mưa từ khe hở trên mái nhỏ từng giọt lộp độp xuống đỉnh đầu bạc phơ của lão.

Đôi mắt mù lòa của Lý Văn Canh mở trừng trừng nhìn vào khoảng không vô định, hai tròng mắt đục ngầu như ngập tràn máu đỏ. Lồng ngực lão thắt lại, đau đớn như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt.

Đứa trẻ này... con bé ăn mày đói rách, rét mướt, thân hình tàn tạ chỉ còn da bọc xương này... lại chính là con cháu họ Hoàng.

Nó mang trên cổ chiếc khánh bạc gia truyền duy nhất của phủ huyện Chàng Sơn. Nó ôm trước ngực chiếc bát sành mang đúng vết sứt của bùa chú Lỗ Ban.

Nó là giọt máu nối dõi còn sót lại của Hoàng Xuân Bột.

Kẻ thù không đội trời chung của lão. Kẻ đã dùng năm trăm lạng bạc tiền công xây dựng dinh thự để chà đạp lên mồ hôi nước mắt của hàng trăm người thợ mộc Chàng Sơn. Kẻ đã ra lệnh cho bốn tên lính lệ dùng gậy gỗ lim đập nát đầu gối lão, bắt lão phải quỳ rạp, bò từng bậc qua chín bậc đá xanh trước sảnh đường nguy nga trong tiếng cười sỉ nhục của đám nha lại. Kẻ đã dồn lão vào bước đường cùng, buộc lão phải phạm vào đại giới Ngũ Tuyệt, cắt ngón tay lấy máu tươi yểm bùa sát nhân.

Hai mươi năm qua, mỗi một vết ghẻ lở mưng mủ trên da thịt lão, mỗi một cơn co giật buốt óc khi trái gió trở trời, mỗi ngày lão phải sống chui rúc như loài giòi bọ bên bờ sông Đáy hôi hám này, lão đều tự nhủ rằng đó là cái giá xứng đáng. Lão chấp nhận chịu đòn phản phệ của trời đất để nhìn thấy dòng họ Hoàng Xuân Bột phải chịu cảnh tan xương nát thịt, tuyệt tự tuyệt tôn, tán gia bại sản.

Và lời nguyền đã linh ứng. Lão nghe dân làng kháo nhau quan huyện chết bất đắc kỳ tử, con trai nghiện ngập cờ bạc tiêu tán sạch gia tài, con dâu tha hương cầu thực, dinh thự mười hai cột lim lộng lẫy trở thành bãi tha ma hoang phế cho quạ làm tổ. Lão từng ngửa mặt lên trời cười điên dại giữa sóng nước sông Đáy, tin rằng công lý đã được thực thi bằng máu và tà thuật.

Nhưng giờ đây, sự thật trần trụi lại hiện ra trước mắt lão tàn nhẫn hơn bất kỳ cơn ác mộng nào.

Đứa trẻ đang thoi thóp bên đống rơm kia không phải một viên quan huyện mặt tròn mũi hếch, mắt lươn bụng phệ, mặc áo gấm thêu rồng bốn chân. Nó chỉ là một đứa bé gái bảy tuổi đầu, yếu ớt như một nhánh cỏ dại ven đê, chân tay rớm máu vì sỏi đá, bụng lép kẹp vì nhiều ngày không có hạt cơm vào miệng.

Cái nghiệt ngã của lời nguyền Lỗ Ban không chỉ giáng xuống đầu kẻ thủ ác, mà nó đang đày đọa một sinh linh vô tội chưa từng biết đến sự hận thù của hai mươi năm trước.

Lão Canh gục đầu xuống hai đầu gối, hai bàn tay co quắp ôm chặt lấy mái tóc bạc rối bù. Từng đợt run rẩy chạy dọc sống lưng lão.

Bàn tay lão đã tạo ra chiếc thuyền chúc mũi xuống đáy bùn để dìm chết cả dòng họ Hoàng. Bàn tay lão đã bẻ gãy vành chiếc bát sành để con cháu kẻ thù phải ngửa miệng ăn mày khắp thiên hạ. Và đứa trẻ này đã thực sự trở thành một kẻ ăn mày, lang bạt kỳ hồ suốt bao năm tháng, để rồi cuối cùng, như một sự sắp đặt trớ trêu của định mệnh, lại gõ đúng vào cánh cửa rách nát của chính kẻ đã gieo lời nguyền lên số phận nó.

Tiếng gió rít qua khe nứa nghe thê lương như tiếng khóc hờ của những linh hồn vất vưởng. Ánh lửa bập bùng từ bếp củi hắt lên vách đất những bóng hình méo mó, quái đản.

Đứa bé trên đống rơm bỗng giật mình, bờ môi khô nẻ mấp máy phát ra những âm thanh đứt quãng:

- Mẹ ơi... con đói... Đừng... đừng đánh con...

Bàn tay nhỏ thó, đen đúa vì cáu bẩn của con bé quờ quạng trong không khí, rồi vô tình chạm vào gấu quần vải thô rách rưới của lão Canh. Nó nắm chặt lấy vạt áo lão như người chết đuối vớ được cọc, đầu tựa sát vào ống chân tàn phế của người thợ già.

Lý Văn Canh run rẩy đưa bàn tay chạm nhẹ lên đỉnh đầu đứa trẻ. Hơi ấm mong manh từ da thịt non nớt truyền qua những vết sẹo chai sạn trên tay lão.

Dưới ánh lửa tàn, đôi mi mắt của đứa bé ăn mày khẽ run lên, rồi từ từ mở ra giữa đêm đông buốt giá.

Chương khác

Xem thêm