Huyết Thước Trừng Gia - Chương 13: Hai Mươi Năm Sau Dòng Họ Quan Huyện Hoàng Tiêu Tán

Hai mươi năm, ngọn gió bấc thổi qua triền đê sông Đáy đã cuốn đi bao lớp bụi thời gian, phủ trắng xóa mái tóc những người thợ già làng Chàng Sơn. Năm…

Nội dung chương

Hai mươi năm, ngọn gió bấc thổi qua triền đê sông Đáy đã cuốn đi bao lớp bụi thời gian, phủ trắng xóa mái tóc những người thợ già làng Chàng Sơn. Năm Canh Dần năm ấy, tiếng chiêng tiếng trống cùng tiếng pháo đì đẹt mừng dinh thự năm gian của quan tri huyện Hoàng Xuân Bột rộn rã một góc trời, tưởng chừng như phú quý họ Hoàng sẽ vinh hiển ngàn đời, truyền từ đời này sang đời khác. Thế nhưng, vận trời đổi dời nhanh hơn dòng nước lũ cuộn phù sa dưới chân núi.

Đến năm Canh Tuất, dinh thự tráng lệ thuở nào nằm trơ trọi giữa vùng đất hoang vu phía tây làng, biến thành một phế tích rêu phong ghê rợn mà ngay cả đứa trẻ chăn trâu bạo gan nhất cũng không dám bén mảng lại gần khi mặt trời gác bóng.

Cánh cổng gỗ lim chạm nổi hình kỳ lân vờn ngọc từng bóng loáng dầu trẩu, nay đã mục ruỗng quá nửa, đổ nghiêng sang một bên bờ rào đổ nát. Một cánh cổng sập hẳn xuống rãnh nước, bị rễ cây dại và dây leo gai góc quấn chặt lấy từng đường chạm trổ tinh xảo, biến thành ổ trú ngụ cho cóc tía và rắn ráo. Tường bao bằng gạch xây mộc bong tróc từng mảng lớn, vữa vôi vụn nát hòa vào đất cát sau những trận mưa rào ròng rã suốt hai thập kỷ.

Khoảng sân gạch Bát Tràng trứ danh, nơi xưa kia trải chiếu hoa đón tiếp các bậc quan viên quyền quý đến nâng chén rượu mừng, giờ bị cỏ gai và lau sậy mọc lút đầu người. Những viên gạch đỏ đanh nứt toác, rêu xanh phủ dày thành từng mảng trơn trượt, nước ứ đọng thành từng vũng đen ngòm bốc mùi hôi thối của lá mục. Dãy nhà năm gian hai tầng với mái ngói âm dương uy nghi năm nào nay sụp đổ tả tơi. Đòn tay, rui mè mục nát khiến phần mái ngói bên gian tả và gian hữu sập xuống, để lộ ra những khoảng trời xám xịt giữa mưa gió bão bùng.

Cả làng Chàng Sơn, từ phường thợ mộc ở xóm Trong cho đến đám lái buôn gỗ bên bến sông, ai nấy đều nhớ rõ tường tận cái ngày gia tộc họ Hoàng bắt đầu bước chân vào vũng lầy lụi bại. Bánh xe tai ương không lăn ầm ầm ngay tức khắc, mà nó gặm nhấm, cắn rỉa từng chút một như mối xông trong ruột gỗ.

Mọi sự khởi đầu từ ba tháng sau ngày dựng nóc thượng lương. Viên tri huyện Hoàng Xuân Bột, kẻ từng hống hách thắt đai vàng, mặc áo gấm thêu rồng bốn chân, bỗng nhiên mắc chứng đau bụng kỳ quái. Cứ mỗi khi đêm xuống, bụng ông ta lại quặn thắt từng cơn, cảm giác lạnh buốt từ rốn lan ra khắp lục phủ ngũ tạng, uống bao nhiêu thang thuốc bắc của thầy lang xứ Đoài cũng vô phương thuyên giảm. Cùng lúc đó, tính khí viên quan huyện trở nên cáu bẳn, điên loạn khác thường.

Hoàng Xuân Bột liên tục nhìn thấy những ảo ảnh ma quái. Đang ngồi giữa công đường xử án, ông ta bỗng rú lên thất thanh, chỉ tay vào gầm bàn quát tháo lính lệ đuổi một con thuyền ma chở đầy người chết đang rẽ nước lao thẳng vào mặt mình. Tiếng đồn quan huyện phát điên lan khắp vùng.

Để giữ vững ghế quan và che đậy những khoản tiền biển thủ, Bột càng ra sức vơ vét, đánh đập dân lành tàn tệ hơn trước. Nợ cũ chưa đòi, sưu mới đã tăng. Tiếng than khóc của người dân Chàng Sơn và các làng lân cận thấu tận mây xanh, rồi dội thẳng lên tận cửa nha môn Tổng đốc.

Năm năm sau ngày ngôi nhà hoàn thành, một đoàn khâm sai triều đình bất ngờ ập về huyện đường Chàng Sơn. Án tham nhũng năm vạn lạng bạc cứu đói mùa lũ bị phanh phui trần trụi. Toàn bộ bổng lộc, chức tước của Hoàng Xuân Bột bị tước sạch trong một buổi sớm mùa đông rét buốt. Bột bị tống ngục, mang gông lim nặng ba mươi cân, xích sắt siết chặt vào hai cổ chân từng bước qua chín bậc đá xanh trước dinh thự.

Ngày bị áp giải lên Hỏa Lò rồi chuyển về nhà lao tỉnh hạt, viên quan huyện năm xưa mặt mũi phù thũng, râu tóc rụng từng mảng, chỉ còn là một kẻ điên dại miệng luôn lảm nhảm xin tha mạng cho chiếc thuyền chìm. Không chịu nổi ba năm đòn roi cùng cảnh ẩm thấp hôi hám chốn lao tù, Hoàng Xuân Bột chết rũ trên sàn đá lạnh ngắt, xác bị vùi tạm bợ nơi bãi tha ma của tù nhân không người đoái hoài hương khói.

Nhưng tai họa giáng xuống dòng họ Hoàng Xuân đâu dừng lại ở cái chết tủi nhục của viên tri huyện. Lời nguyền độc địa giấu trong tim cột lim dường như hút cạn mọi sinh khí và tài lộc của những kẻ mang dòng máu họ Hoàng.

Hai người con trai của Hoàng Xuân Bột là Hoàng Xuân Quý và Hoàng Xuân Trọng trở thành những con thiêu thân lao đầu vào vực thẳm diệt vong. Người con cả Hoàng Xuân Quý vốn được nuông chiều từ bé, không nghề ngỗng lận lưng, khi cha vào tù liền tìm đến bàn đèn nha phiến để trốn tránh thực tại.

Khói thuốc phiện đen đặc nuốt chửng toàn bộ số vàng bạc giấu trong hầm gạch của dinh thự. Hết bạc nén, Quý bắt đầu bán ruộng đất, bán trâu bò, bán đến cả bộ sập gụ khảm ốc xà cừ và bức hoành phi sơn son thếp vàng trên bàn thờ tổ tiên. Thân hình Quý gầy rộc đi, mắt trũng sâu hoắm, hai gò má nhô cao bọc lấy lớp da xám xịt như người chết trôi. Chưa đầy sáu năm sau ngày cha chết trong tù, Quý gục chết ngay trên chiếc chiếu rách bên cạnh tẩu thuốc phiện cháy dở trong một con ngõ tối tăm ở đất Nam Định, miệng sùi bọt mép, trên người không có nổi một mảnh vải lành lặn để khâm liệm.

Người con thứ Hoàng Xuân Trọng thấy anh trai chết bờ chết bụi, chẳng những không lấy đó làm bài học mà lại lao vào con đường cờ bạc đỏ đen. Trọng kết bè với đám du côn bến bãi, tham gia vào những sới xóc đĩa thâu đêm suốt sáng bên triền đê sông Đáy. Thua keo này bày keo khác, Trọng vay mượn nặng lãi của các chủ nợ người Hoa.

Đến khi các chủ nợ kéo quân đến siết nhà, Trọng cắn răng ký giấy bán nốt phần ruộng vườn hương hỏa cuối cùng dưới chân núi Chàng Sơn. Bị dồn vào chân tường vì nợ nần bủa vây, trong một canh bạc lừa lọc bị phát giác, Trọng bị đám bặm trợn dùng gậy gỗ lim phang vỡ đầu, vứt xác xuống bến đò rậm rạp giữa một đêm mưa bão. Mấy ngày sau, người ta mới vớt được cái xác trương phình của gã dạt vào bờ lau sậy.

Vợ con, nàng hầu của cha con họ Hoàng nhìn thấy gia cảnh tan hoang, kẻ thì cuốn gói bỏ trốn theo trai, kẻ thì mang con cái tha hương cầu thực, dạt về các vùng duyên hải mịt mù không một tin tức trở lại. Cơ nghiệp đồ sộ, rường cột vững chãi của dinh thự Hoàng gia bỗng chốc trở thành một ngôi nhà hoang vô chủ, chỉ còn tiếng quạ kêu thê lương từng chiều tà.

Dân làng Chàng Sơn từng kéo nhau đến xem xét ngôi nhà hoang. Có những kẻ tham lam mang theo búa, rìu, xà bén hòng cạy trộm ngói âm dương, dỡ những thanh xà gồ gỗ hương, gỗ mít mang về bán lấy tiền. Thế nhưng, điều quái dị bắt đầu xảy ra khiến không một ai dám chạm tay vào bất kỳ thanh gỗ nào trong tòa dinh thự ấy nữa.

Một gã thợ xẻ tên Tám ở xóm Dưới từng rủ bạn mang cưa tay đến định hạ một trong những cây cột phụ gian ngoài đem xẻ ván. Khi lưỡi cưa sắt vừa chạm vào thân gỗ, phát ra tiếng rít chói tai thì một luồng mủ đỏ như máu tươi bỗng từ kẽ nứt thân gỗ ứa ra ròng ròng, bốc lên mùi tanh tưởi lợm giọng. Gã thợ Tám hốt hoảng vứt cưa bỏ chạy, vừa về đến nhà thì lên cơn sốt mê sảng, toàn thân nổi mụn mủ hôi thối, ba ngày sau tắt thở trong đau đớn. Từ bấy giờ, người dân khắp vùng đều rỉ tai nhau rằng ngôi nhà của quan huyện Hoàng đã bị ma quỷ chiếm đoạt, kẻ nào dám lấy một viên gạch, một thanh củi mục cũng phải trả giá bằng mạng sống.

Ngôi nhà cứ thế đứng trơ trọi qua hai mươi mùa mưa nắng, mục ruỗng và sụp đổ dần theo thời gian. Toàn bộ các vì kèo bằng gỗ mít, sàn gỗ tầng hai, vách ngăn chạm hoa sen phù dung đều bị mối mọt đục khoét thành những đống bột gỗ mục nát, rụng lả tả xuống nền gạch bẩn thỉu. Cả bốn cột phụ gian ngoài cũng nứt toác, cong vênh dưới sức nặng của mái ngói vỡ vụn.

Duy chỉ có một thứ vẫn sừng sững tồn tại giữa đống đổ nát hoang tàn ấy: cây cột cái gỗ lim nằm ở tim gian giữa.

Mười hai trụ cột xưa kia nâng đỡ ngôi nhà nay gãy đổ gần hết, nhưng cây cột cái lim - nơi cất giấu lời nguyền hắc ám của người thợ mộc năm xưa - vẫn đứng thẳng tắp như một lưỡi gươm đen đúa cắm chặt vào lòng đất. Lớp vỏ gỗ lim đen sẫm lại theo năm tháng, bóng nhẫy một cách dị thường, không một con mối nào dám bò qua, không một mảng rêu phong nào bám nổi lên thân gỗ. Bề mặt vết trám mùn cưa và keo da trâu hai mươi năm trước nay đã liền khít hoàn toàn vào thớ gỗ chính, chôn vùi chiếc bát sứt ngửa miệng và chiếc thuyền dâu mũi chúc sâu vào thớ thịt của cây lim già.

Cứ vào những đêm giông bão tháng bảy, khi nước sông Đáy dâng cao cuồn cuộn đỏ ngầu phù sa, gió rít từng hồi qua rặng tre Chàng Sơn dội thẳng vào phế tích dinh thự, người dân sống gần triền đê lại nghe thấy những âm thanh rùng rợn phát ra từ thân cây cột cái ấy.

Nó không phải tiếng gió lùa qua khe nứt thông thường. Đó là tiếng gỗ cọ xát, vặn mình kẽo kẹt từng hồi chậm rãi, nặng nề, tựa như tiếng một con thuyền nan chở nặng đang oằn mình chống chọi giữa dòng xoáy dữ dội dưới đáy sông sâu. Tiếng kêu rên rỉ, u uất ấy vang vọng giữa màn đêm tĩnh mịch, hòa cùng tiếng nước réo rắt bên bến sông, khiến những người già trong làng thức giấc phải vội vàng thắp nén nhang khấn vái thánh Lỗ Ban phù hộ cho xóm làng được bình yên.

Bên chén nước chè xanh chát đắng tại quán nước đầu cầu đá cổ Chàng Sơn, những bác thợ mộc luống tuổi thường ngồi chụm đầu thì thầm bàn tán về tấn bi kịch của nhà quan huyện.

Bác thợ phó Cả, tay cầm chiếc đóm tre châm đóm thuốc lào, nheo mắt nhìn về phía ngọn núi Chàng Sơn phủ mờ sương sớm:

- Hai mươi năm rồi đấy các bác ạ. Đời người được mấy lần hai mươi năm. Cơ nghiệp của quan huyện Bột ngày xưa lớn đến thế, bạc nén chất đầy hòm lim, lính lệ đi tiền hô hậu ủng rầm rộ một vùng. Vậy mà giờ con cháu tuyệt tự, chết không tấc đất cắm dùi, mả mồ xiêu vẹo không người thắp hương. Đúng là trời quả báo kẻ tham tàn gian ác, bóc lột mồ hôi nước mắt của dân thợ mộc chúng mình.

Một bác thợ già khác ngồi bên cạnh thở dài, lắc đầu quầy quậy:

- Quả báo thì đành là quả báo, nhưng cái cách nhà họ sụp đổ rành rành có bàn tay ma thuật nhúng vào. Các bác có thấy lạ không? Nhà đổ, kèo gãy, ngói tan tành, thế mà cây cột cái lim giữa nhà cứ trơ trơ ra đấy. Nước mưa xối hai mươi năm không mục, lửa sét đánh ngang sườn đồi không cháy. Đêm đêm nó lại phát ra tiếng rên xiết như thuyền chìm dưới đáy nước. Làng mình bao đời làm nghề đục chạm xẻ gỗ, nhìn vào thớ gỗ ấy ai chả hiểu có bùa Lỗ Ban cắm sâu bên trong.

- Ai yểm? Ai dám liều mạng yểm cái bùa tuyệt mạng ấy vào nhà quan huyện? - Bác phó Cả hạ thấp giọng, đôi mắt dáo dác nhìn quanh như sợ có kẻ nghe thấy.

Bác thợ già im lặng một hồi lâu, tay mân mê miệng chiếc bát sành cáu bẩn, rồi buông một câu ngậm ngùi:

- Còn ai vào đây nữa. Năm Canh Dần năm ấy, ai là người dựng bộ khung cho dinh thự? Ai bị quỵt trọn năm trăm lạng bạc tiền công nuôi cả phường thợ? Ai bị lính lệ đánh gãy nát hai chân, bắt bò lết qua chín bậc đá xanh như một con chó rách trước thềm dinh thự?

Cái tên Lý Văn Canh không ai dám thốt ra khỏi miệng, nhưng bóng hình người thợ mộc tài hoa bậc nhất xứ Đoài năm xưa lập tức hiện về trong tâm trí những người thợ già. Người thợ từng tạc pho tượng Phật Di Lặc bằng gỗ hương cao ba thước đẹp nức tiếng kinh kỳ, người sở hữu đôi bàn tay vàng có thể biến những súc gỗ vô tri thành rồng bay phượng múa, đã biến mất khỏi làng nghề Chàng Sơn từ sau ngày dinh thự cất nóc.

Năm trăm lạng bạc nợ máu đã được trả bằng sự diệt vong của cả một dòng họ quyền quý. Chiếc thuyền dâu giấu trong cột cái đã làm trọn phận sự tàn độc của nó: chúc mũi chở toàn bộ sinh khí, tiền tài, phúc ấm của nhà họ Hoàng đổ thẳng xuống đáy sông sâu, không để lại cho viên quan huyện độc ác lấy một mụn con cháu nối dõi tông đường.

Thế nhưng, luật trời xưa nay vốn dĩ không có sự trừng phạt nào là miễn phí. Kẻ gieo rắc tà thuật hại người để thỏa mãn cơn hận thù ngút trời, ắt phải đem chính xương tủy và linh hồn của mình ra thế chấp cho quỷ dữ. Lời thề Ngũ Tuyệt của cụ tổ Lý Hùng Lực khắc trên bia đá đình làng Chàng Sơn vẫn còn nguyên vẹn nét son: không vợ, không con, không của, không danh, không thọ.

Kẻ nào dám phá bỏ giới quy để dùng nghề mộc làm điều ác độc, kẻ đó sẽ phải chịu đòn phản phệ thấu tận tâm can, sống trong cảnh đọa đày còn ghê gớm hơn cái chết dưới chín tầng địa ngục.

Ngay bên bờ sông Đáy, cách phế tích dinh thự đổ nát của quan huyện Hoàng Xuân Bột không đầy ba dặm về phía hạ lưu, một căn chòi lá rách nát cắm sâu vào bãi bùn lầy đang oằn mình hứng chịu những cơn gió rét cắt da cắt thịt của mùa đông năm Canh Tuất. Giữa bóng tối nhờ nhợ của bãi lau sậy hoang vắng, tiếng rên rỉ đau đớn của một thân xác tàn tạ đang cất lên từng hồi, đối chọi một cách bi thảm với tiếng kẽo kẹt rợn người của cây cột cái lim giữa dinh thự hoang tàn đằng xa.

Chương khác

Xem thêm