Kê Sư Vùng Sơn Nam - Chương 1: Huyết Chướng Tả Phìn
Gió bấc cuối năm Cảnh Hưng thứ bốn mươi lăm thổi qua rặng đá vôi Tả Phìn buốt như dao cứa vào thớ thịt. Khắp cõi Sơn Nam Thượng, giặc giã và đói kém bủa…
Nội dung chương
Gió bấc cuối năm Cảnh Hưng thứ bốn mươi lăm thổi qua rặng đá vôi Tả Phìn buốt như dao cứa vào thớ thịt. Khắp cõi Sơn Nam Thượng, giặc giã và đói kém bủa vây các làng bản dưới chân núi, tiếng súng hỏa mai của quan quân lẫn thổ phỉ thỉnh thoảng vọng lại từng hồi đục ngầu qua màn sương mù. Nhưng trên mỏm Đá Trắng chênh vênh này, ba mươi năm qua, tôi chỉ sống cùng tiếng cựa gà gõ vào vách đá.
Xích Hỏa đứng trên giàn nứa, bộ lông đỏ rực như đống than đượm giữa chiều đông xám ngắt. Con gà chọi bảy năm tuổi của tôi to gấp đôi gà thường, đôi chân vàng thau nổi vảy đóng khít như giáp sắt, chiếc mỏ quặp xuống đen bóng tựa lưỡi cày bừa đất sỏi. Con mắt bên trái của nó đã mù từ một trận tử chiến năm năm trước, để lại một hốc sẹo kéo dài đến tận mang tai. Nhưng con mắt bên phải còn lại thì trong veo, đỏ lừ một chấm máu nơi đáy con ngươi.
Tôi bốc một nắm cám trộn rễ củ độc và tiết dê khô ném vào máng khoét bằng thân gỗ nghiến. Xích Hỏa cúi đầu mổ từng nhát dứt khoát. Tiếng mỏ va vào lòng máng phát ra âm vang cộc cộc, nặng nề và đanh gọn.
"Ăn cho đẫm xác," tôi nói với nó, giọng khàn đặc vì nhiều ngày không buồn mở miệng tiếp chuyện với ai. "Mùa đông này núi Tả Phìn lạnh hơn mọi năm. Khí độc dưới hang bốc lên nhiều quá rồi."
Dòng giống gà Xích Hỏa theo tổ tiên họ Bùi Công của tôi suốt bảy đời. Người ngoài nhìn vào chỉ thấy một con gà chọi dữ dằn, nuôi để cá cược nơi xới bạc hay trường đấu quan phủ. Họ không biết rằng loài huyết kê này sinh ra từ quả trứng ủ trong tro gỗ dâu ba mùa giáp hạt, uống sương đêm rặng đá tai mèo và chuyên ăn nọc độc của rắn rết mà lớn lên. Máu của nó nóng hơn máu người, tiếng gáy của nó xua được sơn lam chướng khí. Ba mươi năm trước, sau ngày biến cố đổ ập xuống căn nhà sàn họ Bùi dưới thung lũng, tôi dắt theo con gà cội đời thứ sáu trèo lên đỉnh núi này, thề cắt đứt mọi duyên nợ với cõi nhân gian tao loạn.
Xích Hỏa hôm nay là đứa con duy nhất sót lại của dòng máu ấy.
Khi con gà nuốt trọn miếng thịt tẩm rượu thuốc cuối cùng, nó bỗng ngừng bẵng. Đôi cánh dang rộng ra nửa thước, từng sợi lông cổ dựng đứng lên như hàng rọc gai. Đầu nó nghiêng về phía con đường mòn cheo leo độc đạo dẫn từ bản Mường dưới chân núi lên đỉnh Đá Trắng.
Dưới vực sâu, sương mù bắt đầu cuộn tròn từng đụn lớn. Mùi đá vôi sống gặp nước rỉ ra từ các khe nứt bốc lên khét lẹt, ngai ngái thứ mùi tanh của đất bùn thối rữa lâu năm. Trong mùi ẩm lạnh ấy, tôi ngửi thấy một mùi vị khác: mùi thịt người đang rữa nát khi tim vẫn còn đập.
Tiếng chân người dẫm trên đá dăm vang lên ngắt quãng, kèm theo tiếng thở dốc run rẩy.
Tôi bước ra mép sàn nứa, tay nắm chặt cán con dao quắm cùn giắt bên hông. Một bóng người gầy guộc, tả tơi đang bám vào rễ cây si rừng mà bò lên từng bậc đá. Đó là một cô gái người Mường trạc mười bảy tuổi, tấm váy đen dệt hoa văn gấu rách bươm vì gai cào, hai bàn chân trần túa máu ròng ròng trên đá sắc. Nàng ngã quỵ ngay trước hàng rào nứa ngăn sân nhà tôi, hai tay ôm chặt một chiếc ống nứa khô niêm phong bằng sáp ong.
Tôi nhận ra gương mặt này. Nàng là con gái của Phạu mười Ban - người cai quản mười chòm bản ven chân núi Tả Phìn, kẻ giàu có và quyền lực nhất vùng đất đá vôi này. Ba mươi năm trước, khi tôi rời bỏ bản làng lên đỉnh núi, cha nàng vẫn còn là một gã trai trẻ chuyên vác tên nỏ săn hoẵng.
"Bác Tráng... Bác Bùi Công Tráng..." Con bé ngẩng đầu lên, môi thâm tím vì lạnh và kinh hoàng. Đôi mắt nàng sưng húp, nước mắt hòa cùng bùn đất lem luốc trên má. "Cứu... xin bác cứu cha cháu!"
Tôi đứng yên trên bực cửa, không bước xuống, cũng không giơ tay đỡ. Giọng tôi lạnh ngắt trôi qua làn gió bấc:
"Tôi đã thề không xuống núi. Người nhà họ Phạu có bạc vạn, có thầy mo khắp xứ Mường gõ chiêng trừ tà, có cả quan trấn thủ Sơn Nam Thượng che chở. Tìm đến một kẻ nuôi gà phế thải này làm gì?"
"Thầy mo chết rồi!" Con bé hét lên, giọng vỡ vụn trong cuống họng khô rát. "Thầy mo ba bản vào rừng làm lễ đều cắn lưỡi chết ngay tại cửa hang! Quan trấn gửi hai mươi lính tuần mang súng lên núi, súng chưa kịp châm ngòi thì mười người ngã vật ra, thịt trên ngực rữa thành bùn loãng! Cha cháu... cha cháu chỉ vô tình đi qua bãi vôi chết đêm kia, giờ người đang thối rữa sống từng tấc một!"
Xích Hỏa từ sau lưng tôi bước lại gần mép sàn. Con mắt độc nhất của nó găm thẳng vào chiếc ống nứa trong tay con gái Phạu Ban. Con gà gầm gừ trong cổ họng, một âm thanh trầm đục như tiếng sấm rền từ lòng đất sâu. Cặp cựa sắt dài ba tấc của nó cào mạnh xuống nền nứa nghe rợn người.
Tôi nhíu mày nhìn chiếc ống nứa. Quanh mép sáp ong xám xịt đang rỉ ra những giọt dịch vàng lỏng, bốc khói mỏng manh khi chạm vào không khí lạnh.
"Cái gì trong đó?" Tôi hỏi, từng chữ buông ra nặng như chì.
"Nước rỉ ra từ ngực cha cháu..." Nàng run rẩy giơ hai tay dâng chiếc ống lên, thân hình chao đảo như sắp ngã sấp. "Nó đục thủng hai lỗ trên ngực cha. Miệng vết thương to bằng miệng chén uống trà, không chảy máu đỏ mà chỉ trào ra thứ nước vàng này. Đắp lá thuốc gì cũng bị nó ăn mòn rách bươm. Cha cháu cấm người nhà chạm vào, bắt cháu chạy sống chết lên đây tìm bác. Cha bảo... ngoài họ Bùi Công với con Xích Hỏa, cả cõi Sơn Nam Thượng này không còn ai sống sót được qua mười ngày nữa."
Hai lỗ thủng miệng chén. Nước vàng rỉ ra làm thịt rữa nát.
Ký ức ba mươi năm trước tưởng chừng đã bị vùi sâu dưới lớp tro tàn bỗng nhiên trỗi dậy như ngọn lửa bùng phát trong lòng tôi. Năm Cảnh Hưng thứ mười lăm, ông nội tôi - Kê sư đời thứ năm của họ Bùi - cũng từng đem xác của người em ruột từ sâu trong hốc núi Tả Phìn về. Trên lồng ngực người chú ấy có đúng hai vết thủng hình tròn, cách nhau nửa gang tay, thịt xung quanh thâm đen và bốc mùi tanh lợm của vôi chết ngâm xác thối. Trước khi tắt thở, chú tôi chỉ kịp thốt ra hai tiếng đứt quãng qua hàm răng đã lung lay: "Rết Chúa".
Năm đó, ông nội tôi đã phong ấn cửa hang bằng chín chục vạn cân vôi sống và máu của mười hai con huyết kê dũng mãnh nhất họ tộc. Chuyện phong ấn hang đá ấy khiến dòng họ Bùi kiệt quệ, anh em ly tán, dẫn đến thảm kịch tan cửa nát nhà khiến tôi phải lánh đời lên ngọn núi trơ trọi này.
Tôi bước xuống bực thang nứa, đi tới trước mặt con gái Phạu Ban. Tôi rút con dao quắm, dùng mũi dao gạt lớp sáp ong trên đầu ống nứa.
Lớp sáp vừa bật ra, một luồng khí hôi thối nồng nặc mùi lưu huỳnh lẫn với mùi mỡ người xộc thẳng vào mũi tôi. Chất dịch màu vàng đục sóng sánh bên trong lập tức sôi lên lúp búp. Tôi nghiêng nhẹ ống nứa, để một giọt dịch rơi xuống phiến đá tai mèo dưới chân.
Xèo!
Tiếng xèo xèo ghê rợn vang lên giữa khoảng sân vắng. Phiến đá xám xịt lập tức bị khoét sâu xuống một lỗ nhỏ bằng đầu ngón tay, khói xám bốc lên nghi ngút, mang theo vị đắng nghét bóp nghẹt khí quản.
Con gái Phạu Ban sợ hãi lùi lại, hai tay bấu chặt vào vạt áo rách rưới.
"Là nọc của con rết trăm đốt," tôi lẩm bẩm, ngón tay siết chặt chuôi dao đến trắng bệch. "Sau trăm năm ngủ vùi dưới đáy hang vôi, nó đã phá phong ấn mà chui lên rồi."
"Bác Tráng... cha cháu chỉ còn thoi thóp," con bé quỳ rập đầu xuống đất đá lởm chởm, trán đập mạnh phát ra tiếng côm cốp buốt nhói. "Cha bảo ngày xưa nhà họ Phạu có lỗi với họ Bùi, cha không dám xin bác tha thứ chuyện cũ. Nhưng nếu bác không xuống cứu, cả bản Tả Phìn này sẽ thành một hố chôn người. Nước độc từ khe núi đã bắt đầu ngấm vào mó nước ăn của bản rồi!"
Đúng lúc ấy, Xích Hỏa vỗ cánh bay vụt qua đầu tôi. Tiếng đập cánh phần phật như tiếng cờ trận gặp gió lớn. Con huyết kê đáp xuống ngay bên cạnh vũng nọc độc vừa ăn thủng tảng đá, chiếc đầu đỏ tía lắc lư liên hồi. Con mắt độc nhất của nó trợn trừng, đồng tử co thắt lại thành một chấm đen li ti. Nó không hề sợ hãi mùi độc khí chết chóc kia. Ngược lại, lớp vảy thau trên đôi chân nó nóng ran lên, toát ra hơi ấm hừng hực đối chọi với luồng khí lạnh căm của núi rừng.
Nó cúi thấp cổ, mổ mạnh một nhát vào phiến đá ngay sát vũng nọc độc, phát ra một tiếng gáy đanh gọn, xé toạc không gian sương mù:
"Ò... ó... o... o!"
Tiếng gáy không vang rền như tiếng gáy gọi mặt trời buổi sớm, mà sắc lẹm, u uẩn và khát máu như một lời thách thức hướng thẳng xuống vực thẳm đá vôi bên dưới. Âm thanh dội vào các vách đá dựng đứng, truyền đi từng đợt rền vang khắp các thung lũng mù sương của vùng Tả Phìn.
Dưới đáy vực xa xăm, nơi hang đá sâu hun hút vùi lấp hàng ngàn tấn vôi sống, dường như có một thứ gì đó khổng lồ vừa chuyển mình đáp lại. Một luồng chấn động cực nhẹ truyền qua lớp đá dưới chân tôi, làm những viên sỏi nhỏ lăn lóc rơi xuống vực. Mùi hôi thối trong gió bỗng chốc đậm đặc hơn gấp bội.
Tôi nhìn con gà chọi của mình, rồi nhìn sang đứa con gái đang run rẩy dập đầu dưới đất. Ba mươi năm ẩn dật, tôi tưởng mình đã quên hết những món nợ máu của trần gian, quên đi cái chết oan khiên của dòng họ. Nhưng con thú dữ dưới hang vôi kia không cho tôi quên. Nọc độc của nó đã rỉ đến tận bực cửa nhà tôi.
"Đứng dậy đi," tôi gằn giọng, lấy mũi dao gạt ống nứa sang một bên. "Về báo với Phạu Ban, chuẩn bị cho tôi ba chum rượu ngô nấu bằng men lá độc, mười cân than củi nghiến và một chiếc chiếu hoa chưa từng có người nằm."
Con bé ngơ ngác ngẩng đầu lên, nước mắt lưng tròng: "Bác... bác chịu xuống núi rồi sao?"
"Tôi không xuống núi vì cha cô," tôi lạnh lùng quay lưng bước vào trong căn chòi nứa, tháo chiếc lồng đan bằng mây rừng ngâm nước muối treo trên xà nhà xuống. "Tôi xuống vì con rết đó dám thức giấc khi dòng giống huyết kê của nhà Bùi Công vẫn còn chưa tuyệt diệt."
Xích Hỏa nhảy phóc lên bậc cửa sổ, bộ lông đỏ rực rực lên trong bóng tối nhá nhem của buổi chiều tà. Đôi mắt đỏ của nó gườm gườm nhìn về phía thung lũng đá vôi đang từ từ bị bóng đêm nuốt chửng, nơi hai lỗ thủng miệng chén của tử thần đang chờ đợi xé rách thêm những lồng ngực người vô tội.