Kê Sư Vùng Sơn Nam - Chương 2: Xác Rữa Lúc Canh Ba

Tiếng chiêng buông từng tiếng dài, nặng trịch và đục ngầu, dội vào vách đá tai mèo lúc nửa đêm. Đó là điệu chiêng gọi hồn của người Mường khi trong mường…

Nội dung chương

Tiếng chiêng buông từng tiếng dài, nặng trịch và đục ngầu, dội vào vách đá tai mèo lúc nửa đêm.

Đó là điệu chiêng gọi hồn của người Mường khi trong mường có người chết bất đắc kỳ tử. Ba tiếng chậm, một hồi dồn dập rền rĩ, âm thanh xé toạc màn sương mù đặc quánh đang bao phủ khắp rẻo thung lũng Tả Phìn. Gió bấc thổi thốc từ họng vực sâu lên mang theo hơi ẩm lạnh buốt xương, lẫn mùi khen khét khó ngửi của lưu huỳnh mục rữa trong lòng đất.

Tôi buộc chặt quai nẹp bọc vải chàm quanh ngực. Bên trong lớp vải thô tẩm nước lá ổi và rễ cau già, Xích Hỏa nép sát vào người tôi. Con gà chọi chột mắt này nặng hơn sáu cân, chiếc ức nở nang nóng rực như một hòn than đượm truyền hơi ấm qua lớp áo cánh bạc màu. Móng cùn của nó cào nhè nhẹ vào bắp tay tôi qua lớp vải, từng nhịp thở trong lồng ngực con thú rung lên nhịp nhàng, kiên nhẫn đợi lệnh.

Dòng huyết kê bảy đời nhà Bùi Công không bao giờ ngủ say khi ngửi thấy mùi tử khí.

Tôi cúi thấp người, tay siết chặt chuôi dao quắm đã mòn vẹt chuôi gỗ, rẽ những bụi cỏ tranh cao lút đầu người để lần xuống chân núi. Đá tai mèo dưới gót chân sắc nhọn chực cứa rách đế giày bện bằng vỏ cây dâu rừng, nhưng tôi thuộc từng rãnh đá, từng hốc thông gió của rẻo đất này từ thuở còn để chỏm. Ba mươi năm sống cách biệt trên đỉnh Bương, đôi tai tôi phân biệt được cả tiếng chuột núi gặm rễ cây dưới độ sâu ba trượng.

Ánh đuốc bập bùng đỏ quạch hiện ra phía ngã ba đường mòn dẫn vào bản Tả Phìn.

Hơn hai mươi gã tuần đinh cầm giáo mác, súng hỏa mai và những bó đuốc nứa tẩm dầu trẩu đứng túm tụm quanh một khoảng đất trống ven bờ suối cạn. Khói đuốc đen kịt cuộn tròn trong sương lạnh, tạt vào mắt khiến đám đàn ông chốc chốc lại ho sặc sụa. Tiếng khóc hờ của đàn bà vang lên từ phía xa sau rào nứa, dấm dứt, kinh hoàng, không dám đến gần.

Tôi trườn người vào sau một bụi tre gai rậm rạp, cách chỗ đám đông chừng mười lăm bước chân. Từ vị trí này, gió thổi tạt từ bản ra sau lưng tôi, lũ chó săn của tuần đinh sẽ không đánh hơi thấy mùi người lạ.

"Lùi lại! Lùi cả lại cho người của quan phủ rắc vôi!" Tiếng gắt gỏng khàn đặc của viên đội tuần đinh chỉ huy vang lên.

Hắn mặc áo chẽn nẹp đỏ, tay cầm đoản đao, chân đi ghệt da nhưng hai đầu gối cứ va vào nhau cầm cập. Trước mặt hắn, trên chiếc chõng tre lót lá chuối héo đặt giữa bãi đất, một cái xác người nằm co quắp.

Đó là một người đàn ông lực lưỡng, dựa vào gùi nứa vỡ nát bên cạnh thì chắc hẳn là thợ săn hoặc kẻ đi tìm củ mài ban đêm. Nhưng thân thể hắn lúc này không còn ra hình thù con người.

Lớp da thịt từ bụng trở lên cổ đã biến thành một màu tím tái sền sệt, rữa nát như miếng thịt thối để quên dưới đáy vại nước ba tuần trăng. Hai bên ngực nạn nhân, đúng vị trí hai xương quai xanh cắm xuống phổi, có hai lỗ thủng to bằng miệng chén uống nước. Viền hai miệng lỗ ấy cháy đen thui, sùi bọt trắng xóa, rỉ ra từng dòng nước dịch màu vàng đục sền sệt chảy tràn xuống dát tre.

Nước độc nhỏ tong tòng xuống nền đất ẩm. Mỗi giọt dịch rơi xuống lại phát ra tiếng xèo xèo ghê rợn, khói xanh bốc lên mang theo mùi tởm lợm của mỡ người hòa với mùi đá vôi thối.

"Thằng Quách Luân đi đặt bẫy thú từ chập tối..." Một gã tuần đinh trẻ tuổi run rẩy nói, hai tay ôm khư khư cây giáo tre, mặt cắt không còn hạt máu. "Lúc người nhà đi tìm, thấy nó nằm gục ở miệng lèn đá sau núi. Miệng còn ú ớ mấy tiếng rồi tắt thở, ngực nó... ngực nó tự nứt toác ra rồi chảy nước vàng thế kia."

"Câm mồm đi!" Viên đội quát lớn, nhưng giọng hắn cũng vỡ vụn ra vì hoảng sợ. "Lấy vôi sống phủ lên mau! Đừng để ruồi nhặng bu vào! Quan huyện lệnh đã phái người lên trấn trên xin bùa trừ tà rồi, nội trong sáng mai thầy mo họ Đinh sẽ tới lập đàn phong ấn."

Hai tráng đinh run rẩy khiêng thúng vôi sống tiến lại gần chõng tre. Bọn chúng lấy xẻng hắt từng tảng vôi bột trắng xóa lên thi thể Quách Luân. Vôi gặp nước dịch độc lập tức sôi sùng sục, bốc hơi khói mù mịt cay xè. Những tiếng lèo xèo vang lên trong đêm thanh vắng nghe như tiếng giun dế bị nướng trên than hồng.

Dưới bọc vải chàm, Xích Hỏa bỗng rướn cổ. Đôi móng sắt của nó bấu chặt vào da thịt tôi, đau điếng.

Tôi vội đặt bàn tay thô ráp áp chặt lên ức nó, khẽ vuốt dọc sống lưng con gà để ghìm cơn thịnh nộ đang bốc lên ngùn ngụt trong huyết quản của nó. Cặp mắt chột của con linh kê trợn trừng qua khe hở của bọc vải, con mắt còn lại ánh lên tia sáng đỏ rực như máu tươi, gườm gườm nhìn chằm chằm về phía thi thể đang bốc khói vôi. Lông cổ nó dựng ngược lên thành một vành lửa đỏ tía, cứng như những chiếc gai bồ kết.

Tôi nghiến chặt hàm răng, cố nén tiếng thở dài nghẹn ứ nơi cuống họng.

Cảnh tượng này, đúng ba mươi năm trước, tôi đã thấy trên chính thân xác người chú ruột của mình.

Năm ấy, họ Bùi Công là dòng họ Kê sư lẫy lừng bậc nhất vùng Mường Tả Phìn. Tổ tiên chúng tôi bảy đời nuôi gà, luyện ra giống Xích Hỏa mình đồng da sắt, mỏ thép móng đồng, chuyên trừ tà khu trục yêu khí chốn thâm sơn cùng cốc. Nhưng lòng tham và sự đố kị của những kẻ đứng đầu bản mường khi ấy đã xô đẩy nhà tôi vào cửa tử. Họ Phạu ép dòng họ tôi phải mở cửa hang đá vôi Tả Phìn để tìm kiếm mỏ quặng chu sa thất truyền.

Hang mở ra, chu sa không thấy, chỉ có luồng tử khí ngủ vùi trăm năm thức giấc. Chú tôi là người đầu tiên bị quái vật cắn thủng hai lỗ trên ngực, xác rữa thành bùn chỉ sau nửa tuần hương. Để cứu bản, cha tôi và ông nội tôi đã dẫn đầu mười hai trinh phu họ Bùi, mang theo mười hai con gà Xích Hỏa thuần chủng cùng chín chục vạn cân vôi sống lấp kín miệng hang.

Mười hai con gà chọi chết rụi lông trong sương độc. Cha tôi và ông nội tôi táng thân dưới đáy vực đá, chỉ còn mình tôi sống sót ôm lấy quả trứng gà đỏ rực cuối cùng chạy trốn lên đỉnh núi cao. Bản Tả Phìn được cứu, nhưng dòng họ Bùi Công tan nát, bị người đời gán cho cái tội đánh thức ma quỷ dưới lòng đất. Tôi chôn xác người thân, thề đoạn tuyệt với nhân thế, để mặc mường bản tự chìm trong những ân oán phù hoa.

Ba mươi năm trôi qua, món nợ máu năm xưa ngỡ đã theo lớp vôi sống chìm sâu vào lòng đất, ngờ đâu mầm độc lại lần nữa ngoi lên mặt cõi trần.

"Khiêng nó vào đình bản!" Tiếng viên đội cắt đứt dòng hồi ức cay đắng của tôi. "Đi nhanh lên, sương xuống dày lắm rồi! Đốt thêm đuốc hai bên đường, đứa nào đi tụt lại phía sau ráng mà chịu!"

Đám tuần đinh nháo nhào luồn đòn khiêng dưới chõng tre. Bọn chúng khiêng cái xác đã phủ đầy vôi trắng rảo bước thật nhanh về phía cổng bản, bỏ lại những ngọn đuốc nứa cắm xiêu vẹo trên nền đất đang cháy lụi tàn dần trong sương đêm. Cánh cổng bản bằng gỗ lim nặng nề khép lại với tiếng cót két khô khốc, theo sau là tiếng then cài cành cạch vội vã.

Cả thung lũng đá vôi lập tức chìm vào sự tịch mịch chết chóc.

Tôi buông tay khỏi bọc vải, lách mình ra khỏi bụi tre gai. Bước chân tôi nhẹ như bóng ma, lướt qua bãi cỏ ướt đầm sương muối, tiến thẳng đến khoảng đất trống ven bờ suối cạn nơi vừa đặt chõng tre.

Mùi vôi sống quyện với mùi thịt rữa vẫn còn bốc lên nồng nặc. Trên nền đất sỏi, những mảng vôi trắng loang lổ bị nọc độc ăn mòn tạo thành những lỗ chỗ như mặt tổ ong.

Tôi quỳ một gối xuống đất, tháo con dao quắm giắt bên hông, dùng đầu mũi dao gạt lớp tro tàn của những cây đuốc nứa sang một bên để soi tìm dấu vết.

Nếu là hổ dữ hay gấu ngựa từ rừng già mò về bắt người, đất ẩm sau cơn mưa chiều chắc chắn sẽ để lại dấu đệm thịt to bằng miệng bát ăn cơm với những vết vuốt sâu hoắm cắm vào bùn. Kể cả loài trăn mốc khổng lồ sống trong các hốc đá cũng sẽ để lại một vệt trườn nhẵn thín đè bẹp cỏ rác.

Mặt đất ở đây hoàn toàn sạch bóng những dấu chân muông thú thông thường.

Tôi rà ngọn dao sát mặt đất, gạt từng lớp lá mục. Dưới lớp mùn ẩm ướt, hiện ra chi chít những lỗ thủng nhỏ li ti, cắm sâu vào đất theo hình vòng cung kép. Những dấu vết này xếp thành từng hàng song song, kéo dài ngoằn ngoèo từ bờ suối đâm thẳng vào bụi rậm.

Tôi nheo mắt, cúi thấp người hơn nữa. Mỗi một dấu vết là một vết cào móc sắc lẹm, uốn cong như hình lưỡi liềm con, bấm đứt ngọt những sợi rễ cây rừng to bằng ngón tay trỏ. Vết cào sâu đến nửa đốt ngón tay, mép vết thương trên rễ cây bị xé toạc chứ không phải bị chặt đứt, để lại một lớp xơ gỗ tưa ra xám xịt.

Cứ cách một khoảng chừng nửa gang tay, lại có hai dấu móc đối xứng cắm sâu xuống đất. Hàng trăm, hàng ngàn vết móc như thế đan cài vào nhau, tạo thành một vệt dài uốn lượn chừng hai thước bề ngang.

Đó là dấu vết di chuyển của hàng trăm chiếc chân giáp xác khổng lồ.

Tôi đưa ngón tay quẹt nhẹ vào một rãnh cào trên phiến đá cuội nằm sát bờ nước. Một lớp chất nhờn nhờ nhờ, ánh lên sắc chì xam xám dính vào đầu ngón tay tôi. Chất nhờn này đặc quánh, lạnh ngắt như mỡ trăn nhưng lại tỏa ra mùi hăng nồng của bùn tanh ngâm lưu huỳnh lâu năm dưới đáy vực. Khi tôi đưa lại gần mắt để nhìn kỹ, lớp chất nhờn lập tức làm da ngón tay tôi ngứa ran lên như bị sâu róm đốt, lớp da mỏng bên ngoài se lại rồi chuyển sang màu thâm tím.

Tôi vội vàng rút chiếc khăn chàm dắt ở thắt lưng, lau thật sạch lớp nước nhờn đó đi, rồi dùng mũi dao gọt bỏ lớp da ngoài cùng vừa bị ngấm độc. Máu tươi rỉ ra rát buốt, nhưng sự lạnh lẽo đó lập tức xua tan đi cảm giác tê dại đang chực ăn sâu vào thịt.

Con quái vật này lớn hơn con ba mươi năm trước gấp bội.

Năm Cảnh Hưng thứ mười lăm, con rết chúa mà cha tôi giáp mặt dưới đáy hang vôi thân chỉ to bằng thân cây cau, chân dài chừng nửa gang tay. Còn sinh vật để lại vệt cào trên bờ suối này có bề ngang thân mình phải bằng hai vòng tay người ôm, những chiếc chân móc sắc nhọn của nó đủ sức bẻ gãy rễ cây cổ thụ và bấu nát cả đá cuội bờ suối. Nọc độc của nó chỉ cần rớt lại trên rêu đá cũng đủ làm hoại tử da thịt người sống.

Xích Hỏa trong bọc vải khẽ cựa quậy. Nó ngửi thấy mùi chất nhờn sắc chì, cái mỏ sắt của nó mổ cộc cộc vào tấm ức bọc vải chàm của tôi, phát ra những tiếng "gù gù" trầm đục từ sâu trong thanh quản. Đó là thứ âm thanh bản năng của loài kê chiến khi xác định được con mồi truyền kiếp.

Tôi đứng thẳng dậy, tra dao vào bao nứa sau lưng.

Vệt nước nhờn ánh sắc chì không dẫn về phía rừng rậm nguyên sinh, cũng không xuôi theo dòng suối cạn về hạ lưu. Nó ngoằn ngoèo rẽ ngược lên triền dốc đá lởm chởm, cào xới tan nát lớp thảm mục của rừng vầu, vạch ra một con đường chết chóc hướng thẳng lên sườn núi Tả Phìn.

Phía trên cao kia, giữa những rặng núi đá vôi dựng đứng ngút tầm mắt, những khe nứt sâu hoắm đang không ngừng phun ra những dải khói trắng mờ ảo giữa màn đêm. Đó là nơi chứa chín chục vạn cân vôi sống mà dòng họ Bùi Công đã đổ xuống ba mươi năm về trước để bịt miệng vực sâu.

Gió đêm lại rít lên qua khe đá, mang theo tiếng lách cách khô khốc của hàng trăm đốt giáp xác va vào vách đá từ trên đỉnh núi vọng xuống.

Chương khác

Xem thêm