Kê Sư Vùng Sơn Nam - Chương 4: Lời Kể Trăm Năm
Gió núi thổi lùa qua khe liếp của căn chòi đơn sơ dựng trên đỉnh núi đá. Đêm càng về khuya, không khí vùng Sơn Nam Thượng càng buốt lạnh đến thấu xương…
Nội dung chương
Gió núi thổi lùa qua khe liếp của căn chòi đơn sơ dựng trên đỉnh núi đá. Đêm càng về khuya, không khí vùng Sơn Nam Thượng càng buốt lạnh đến thấu xương tủy, nhưng bên trong chòi, hơi ấm từ bếp củi nghiến vẫn đỏ rực một góc sàn.
Tôi ngồi bệt trên tấm chiếu cói đã sờn rách mép, hai chân xếp bằng. Dưới ánh lửa bập bùng, Xích Hỏa đứng yên trên bệ gỗ nghiến, ngực ưỡn thẳng, cổ vươn cao đón lấy ngọn gió đêm lọt qua khe vách. Con mắt phải của nó sâu thẳm và sáng quắc, còn hốc mắt trái chột một vết sẹo dài kéo xiên từ mào cờ xuống tận mép mỏ. Trên hai cẳng chân vàng ươm nổi vảy rồng cứng như sừng tê, đôi cựa sắt nhọn hoắt bóng loáng phản chiếu ánh lửa đỏ quạch.
Tôi nhúng miếng giẻ tẩm dầu trẩu vào chiếc bát đất nung, cẩn thận lau từng đốt cựa cho nó. Lớp dầu bóng phủ lên thân cựa kim loại phát ra mùi hăng nồng quen thuộc của thứ vũ khí đã cùng dòng họ Bùi tôi trải qua bao phen huyết chiến. Xích Hỏa đứng im phăng phắc, thỉnh thoảng khẽ nghiêng đầu mổ nhẹ vào mu bàn tay tôi, một cử chỉ tin cậy của con linh kê đã gắn bó với tôi ngót mười năm trời.
Dưới thung lũng sâu hun hút, tiếng mõ tre hòa cùng tiếng tù và bằng sừng trâu vẫn từng hồi dội lên vách đá. Tiếng trống tang gõ từng nhịp ba hồi chín tiếng rền rĩ, báo hiệu bản Tả Phìn đang chìm trong đại họa. Dân bản đang gom củi đốt lửa giữa sân nhà Mo bản, tiếng khóc hờ khóc than của thân nhân những người phu củi bị rữa xác ban chiều vọng lên vách núi nghe ai oán lạ thường.
Tôi ngưng tay lau cựa, với lấy cái túi da hươu sấy khô treo trên cột cái. Từ trong túi da, tôi rút ra một tập sách đóng bằng chỉ gai, bìa bọc bằng da trăn mốc đã lên nước đen nhánh. Đó là bản gia phả và ghi chép bảy đời của dòng họ Bùi Công, truyền từ đời cụ tổ làm kê sư phục vụ triều đình cho tới tận đời tôi, kẻ đang ẩn dật giữa chốn rừng sâu núi thẳm này.
Trang giấy dó đã ngả sang màu vàng vọt của thời gian, mép giấy mủn ra dưới đầu ngón tay chai sần. Những dòng chữ mực tàu viết theo lối chân phương hiện rõ dưới ánh lửa bếp:
"Năm Cảnh Hưng thứ mười lăm, xứ Tả Phìn động đất nứt hang vôi. Yêu khí bốc lên ngút trời, cây cỏ bán kính ba dặm úa tàn trong một đêm. Có loài quái vật thân ngàn đốt, chân sắc như liềm thép, nọc độc làm rữa xương nát thịt người sống. Tiên phụ dẫn bầy kê chiến Xích Hỏa cùng dân binh bao vây, dùng chín chục vạn cân vôi sống đổ xuống lấp kín miệng hang, lấy ba vòng xích sắt tôi máu chó mực phong tỏa long mạch."
Tôi miết ngón tay lên từng nét chữ của người xưa để lại. Ba mươi năm trước, chính mắt tôi khi ấy mới ngoài hai mươi tuổi đã chứng kiến cha mình gom hết toàn bộ vôi sống của bảy lò nung quanh vùng, cùng hàng trăm phu trâu rầm rộ kéo lên đỉnh núi đá này. Khi lớp vôi sống gặp mạch nước ngầm dưới đáy vực, hơi nóng bốc lên ngùn ngụt mù mịt cả một góc trời suốt ba ngày ba đêm. Những tiếng rít căm hờn xé tai của con tà vật dưới lòng đất sâu chừng như muốn làm nứt toác cả dãy núi đá vôi.
Nhưng cha tôi khi nhắm mắt xuôi tay đã trăn trối lại một câu mà đến nay tôi vẫn khắc cốt ghi tâm:
"Vôi sống chỉ giam được nó trăm năm. Đáy hang ẩm ướt, mạch nước ngầm chảy mãi thì đá vôi cũng phải tôi thành bột mịn. Một khi lớp giáp cũ của nó lột ra, giáp mới hấp thụ độc khí và khoáng thạch trăm năm dưới lòng đất, nó sẽ lại đội đá bò lên. Đời con hoặc đời cháu con, nếu thấy người chết rữa thịt mà ngực có hai lỗ thủng miệng chén, ấy là lúc con rết chúa đã phá phong ấn."
Lời cảnh báo của cha tôi ba mươi năm trước nay đã thành hiện thực trần trụi. Hai cái xác phu củi trưa nay, dấu chân móc liềm trên bờ suối cạn, và hai mảnh giáp sừng đen trâu vỡ ra ở mép vực vừa rồi chính là minh chứng không thể chối cãi. Con ác thú dưới đáy vực không chết vì vôi sống. Nó đã ngủ vùi suốt ba mươi năm qua dưới lớp bột vôi tôi nguội lạnh, nuốt khí độc của lòng đất để nuôi dưỡng lớp giáp xác mới. Giờ đây, khi giáp đã đủ cứng cáp và cơn đói cồn cào bùng lên, nó bắt đầu bò lên mặt đất tìm máu thịt người sống.
Thổ công và thành hoàng của vùng đất Tả Phìn này đã bị luồng tà khí dưới đáy vực đè bẹp. Không khí đêm nay nặng nề khác thường, mùi bùn tanh nồng quyện lẫn mùi lưu huỳnh hăng hắc từ vách đá bốc lên mỗi lúc một đậm đặc.
Xích Hỏa bất thần xoay phắt người lại. Con mắt chột của nó hướng thẳng về phía cửa liếp nhìn xuống thung lũng, toàn bộ lông cổ xù đứng lên như một cái phễu lửa. Cái mỏ sắt gõ cành cạch xuống sàn gỗ, phát ra chuỗi âm thanh báo động dồn dập.
Tôi gập tập sách dó lại, cất vào túi da, rồi đứng dậy bước ra mép sàn chòi.
Gió từ dưới chân núi bỗng đổi chiều, thốc ngược từ hẻm vực lên đỉnh cao. Không phải ngọn gió rười rượi của núi rừng ban đêm, mà là một luồng gió lạnh ngắt mang theo mùi tanh tưởi của thịt rữa và bùn lầy lưu cữu trăm năm.
Dưới thung lũng Tả Phìn, khoảng sân rộng trước nhà Mo bản đang bừng bừng ngọn lửa lớn từ đống củi gỗ lim. Hàng chục mâm cỗ cúng tế xếp la liệt trên những chiếc chõng tre dựng giữa sân. Đầu trâu, thủ lợn luộc chín quết phẩm đỏ cùng hàng trăm xâu tiền vàng mã bay lả tả trong gió đêm. Hơn hai trăm dân bản quỳ rạp dưới đất, đầu cúi sát mặt cỏ ẩm ướt, miệng lâm râm cầu khấn xin tổ tiên và quỷ thần dung tha.
Chính giữa sân đàn, Mo bản mặc bộ áo chàm thêu hoa văn ngũ sắc, tay cầm thanh kiếm gỗ đào buộc dải lụa đỏ, tay kia lắc chiếc chuông đồng kêu leng keng liên hồi. Lão lượn quanh một chiếc bàn hương án lớn bằng gỗ mít, nơi đặt bát hương cổ to bằng miệng thúng đắp nổi hình lưỡng long chầu nguyệt. Lão vừa nhảy múa vừa ngửa mặt lên trời đọc những bài mo cổ ngữ cầu xin ma rừng ma núi buông tha cho mạng sống của người bản Mường.
Tôi đứng trên mỏm đá cao nhìn xuống, lòng chùng xuống nặng nề. Mo bản lầm to rồi. Loài yêu vật sinh ra từ âm khí và độc chất dưới đáy hang vôi không thuộc về cõi thần linh hay tổ tiên của người Mường. Tiền vàng, rượu thịt và kiếm gỗ đào đối với nó chẳng khác nào đống rác rưởi. Việc bày biện tế lễ linh đình với mùi máu tanh của trâu bò tươi sống giữa màn đêm chẳng khác gì đốt một bó đuốc mời gọi hung thần tìm đến.
Đúng lúc Mo bản vung thanh kiếm gỗ đào lên không trung chuẩn bị chém vào nắm bùa giấy màu vàng, ngọn gió tanh tưởi dưới chân núi bất ngờ gầm lên dữ dội.
Một cơn lốc xoáy đen ngòm từ phía khe nứt Tả Phìn cuồn cuộn tràn qua cánh đồng ngô khô héo, quét thẳng vào giữa sân tế lễ. Cơn gió thổi tung toàn bộ các mâm cỗ bằng tre, hất văng thủ lợn đầu trâu lăn lóc dưới đất. Những đống lửa củi lim to tướng bị gió bạt nghiêng ngả, tàn lửa đỏ bay rào rào trút xuống đầu đám đông đang quỳ lạy.
Tiếng chuông đồng trên tay Mo bản đột ngột câm bặt.
Một tiếng nổ "chát" khô khốc vang lên giữa sân. Bát hương lớn bằng sành nung đặt trên hương án tự động nứt toác làm đôi, tro hương màu xám bay mù mịt rồi bốc cháy phừng phừng thành một ngọn lửa màu xanh le lói.
Mo bản trợn trừng hai mắt, thân hình lão cứng đờ như bị sét đánh trúng. Thanh kiếm gỗ đào trên tay lão nứt toác thành từng mảnh vụn rơi lả tả xuống đất. Lão há miệng toan thốt lên một lời khấn, nhưng từ trong cổ họng lão chỉ phát ra những tiếng ằng ặc nghẹn ứ. Một búng máu tươi đen ngòm trào ra khỏi miệng, nhuộm đỏ thẫm vạt áo chàm trước ngực.
Thân hình già nua của Mo bản ngửa bật ra phía sau, đập mạnh xuống nền đất sỏi.
Đám đông dân bản kinh hoàng hét lên thất thanh. Những người quỳ gần đó nhào tới đỡ lấy lão, nhưng Mo bản hai mắt đã lồi ra, chân tay co giật từng cơn, ngón tay run rẩy chỉ thẳng lên không trung phía trên đàn tràng.
Toàn bộ khói hương và tro than từ bát hương vỡ đang bị một lực hút vô hình kéo xoắn lại giữa bầu trời đêm. Làn khói xám xịt đó không tan đi trong gió mà cô đặc lại, cuồn cuộn vặn mình thành hình một chiếc bóng đen khổng lồ uốn lượn ngoằn ngoèo. Bóng đen đó dài đến cả chục trượng, với hàng trăm chiếc chân sắc nhọn giương ra tua tủa hai bên sườn, lơ lửng ngay trên nóc nhà sàn của bản Tả Phìn.
Một tiếng rít the thé, chói gắt như tiếng sắt cào vào đá vôi vang vọng khắp thung lũng, dập tắt hoàn toàn mọi âm thanh khóc lóc của con người.
Khói đen tản ra, rơi lả tả xuống sân những vệt nước nhờn màu chì hôi thối.
Dưới sân, mấy người thầy lang bản vội vã đem những bát thuốc bốc bằng rễ cây rừng cùng các loại bùa trừ độc đổ vào miệng Mo bản, nhưng nước thuốc trôi đến đâu thì da thịt lão lại tím tái đến đó. Nọc độc và tà khí đã bóp nghẹt phế phủ của lão già. Mọi y thuật thảo mộc thông thường và bùa chú của các thầy mo xứ Mường này hoàn toàn vô dụng trước thứ chướng khí tích tụ cả thế kỷ.
Sự hỗn loạn tột cùng bùng nổ. Dân bản giẫm đạp lên nhau mà tháo chạy khỏi sân cúng tế. Tiếng kêu cứu thất thanh hòa cùng tiếng la hét của đàn ông, tiếng gào khóc của đàn bà và trẻ con vang vọng khắp cả góc rừng. Đàn cúng tan tành, những bó đuốc bị vứt chỏng chơ lụi tàn trong vũng bùn tanh tưởi.
Từ trên cao nhìn xuống, tôi thấy một tốp người cưỡi ngựa tách ra khỏi dòng người hoảng loạn. Đó là những tráng đinh khỏe mạnh nhất của nhà Phạu Ban. Họ cầm theo những lá cờ lệnh màu đen, giục ngựa phi nước đại theo con đường mòn xuyên qua đèo đá, hướng thẳng về phía lỵ sở của huyện Sơn Nam Thượng.
Đó là những cánh phu trạm mang cấp báo khẩn cấp.
Khi bùa chú của thầy mo đã gãy nát, khi y thuật của rừng núi phải bó tay đầu hàng, sự bấu víu duy nhất của dân bản lúc này chỉ còn trông cậy vào uy quyền của triều đình. Bản tấu sớ đẫm máu về quái vật hang vôi và những xác người rữa nát đang bay như tên bắn về dinh quan tri phủ.
Gió đêm lại thốc lên từng cơn buốt giá, lay giật những thanh nứa trên mái chòi của tôi.
Tôi biết rất rõ điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. Quan tri phủ Sơn Nam Thượng xưa nay chỉ quen việc thu thuế, dẹp giặc cỏ và trấn áp trộm cướp vùng biên. Nhận được tin dữ này, quan trên chắc chắn sẽ coi đây là một vụ yêu ngôn hoặc loạn đảng mượn danh ma quỷ để gây rối lòng dân. Cách giải quyết duy nhất của quan phủ sẽ là điều động lính cơ mang theo súng hỏa mai và đại bác tới để đàn áp và vây quét hang đá.
Nhưng súng đạn của trần gian làm sao xuyên thủng được lớp giáp xác bằng sừng trâu hóa đá đã ngâm mình qua trăm năm vôi sống? Thuốc súng bắn vào hang đá vôi mù mịt sương độc chỉ tổ châm ngòi cho một thảm kịch tàn khốc hơn gấp bội phần.
Xích Hỏa bước tới sát mép sàn gỗ, đôi cánh dang rộng đập phành phạch vào không khí. Bộ lông đỏ rực như than hồng của nó dựng đứng lên, từng thớ thịt dưới lớp da đỏ au cuộn chặt lại như những búi gân thép. Mùi máu và tà khí từ thung lũng xộc lên không làm nó khiếp sợ, mà chỉ càng kích động dòng máu kê chiến hung hãn truyền qua bảy đời đang sục sôi trong huyết quản.
Tôi đặt bàn tay thô ráp lên đầu nó, nhẹ nhàng vuốt dọc theo chiếc mào cờ đỏ thắm.
"Đừng vội, Xích Hỏa," tôi trầm giọng nói, hơi thở phả ra thành một làn khói trắng giữa đêm đông. "Bọn chúng chưa nếm mùi đắng cay thì chưa chịu mở mắt ra đâu."
Phía chân trời xa, nơi con đường cái quan dẫn về dinh huyện, những vệt lửa le lói của các toán tuần trinh bắt đầu xuất hiện. Tiếng vó ngựa dồn dập vang lên giữa đêm khuya báo hiệu một toán lính cơ trang bị súng hỏa mai và gươm giáo sáng quắc đang lục tục áp sát thung lũng Tả Phìn. Cuộc binh đao của triều đình chuẩn bị đối đầu với loài quái vật trăm năm, và ngọn núi đá vôi này sắp sửa phải uống thêm một dòng máu mới.