Kê Sư Vùng Sơn Nam - Chương 6: Bức Bách Tìm Nhân Thần

Sương muối rải một lớp mỏng trắng đục như mỡ lợn lên những phiến đá tai mèo quanh am cốc. Gió bấc thổi thốc qua khe nứa, mang theo cái lạnh cắt da của…

Nội dung chương

Sương muối rải một lớp mỏng trắng đục như mỡ lợn lên những phiến đá tai mèo quanh am cốc.

Gió bấc thổi thốc qua khe nứa, mang theo cái lạnh cắt da của vùng núi cao Sơn Nam Thượng cùng mùi khen khét của diêm sinh chưa tan hết từ bãi chiến trường đêm trước. Dưới chân thung lũng Tả Phìn, tiếng chiêng ma điểm từng hồi ngắt quãng, chậm chạp và ảo não. Cứ mỗi hồi chiêng gióng lên là một cái xác lính trinh phu hoặc đinh tráng được bó chiếu vùi vội xuống những hố vôi sống rải rác ngoài bìa rừng.

Tôi ngồi trên chiếc chõng tre ọp ẹp đặt góc chái nhà, tỉ mẩn dùng dao nhíp gọt từng đốt ngô nếp già đã ngâm kỹ trong rượu rễ cỏ máu. Xích Hỏa đứng ngay bên cạnh, chiếc ức đỏ au phập phồng nhịp nhàng theo từng hơi thở dứt khoát. Bộ lông đỏ rực màu than củi của nó áp sát vào bắp chân tôi, truyền sang một luồng hơi nóng hầm hập.

Cạch!

Mỏ sắt của nó bổ xuống chiếc cóng gỗ, gắp trọn một hạt ngô ngâm thuốc, nuốt chửng trong nháy mắt. Đôi mắt chột bên trái của nó co rúm lại thành một vết sẹo dúm dó, nhưng con mắt bên phải thì sáng quắc, tròng mắt màu hổ phách viền một vòng tơ máu đỏ lòm. Đêm qua, khi tiếng súng hỏa mai nổ rền và tiếng thét xé ruột của đám lính cơ vang lên từ phía cửa hang đá vôi, con huyết kê này đã đứng suốt tàn canh trên mỏm đá Chó Ngồi, không chịu chợp mắt lấy một lần. Bản năng săn giết của bảy đời gà chọi dòng họ Bùi đang gầm gừ trong từng thớ gân bắp thịt của nó.

Tôi vỗ nhẹ mu bàn tay thô ráp đầy sẹo dăm vào lưng nó, gằn giọng:

"Ăn cho đẫy diều đi. Rừng này sắp nổi gió lớn rồi."

Tiếng bước chân lạo xạo dẫm lên sỏi đá đột ngột cắt ngang lời tôi.

Đó không phải bước chân của người đi rừng bản địa. Kẻ leo núi quen chân luôn đặt gót nhẹ, lướt mũi êm để tránh kinh động thú dữ và rắn rết. Đằng này, âm thanh vang lên dồn dập, nặng nề, tiếng đế giày da thuộc nện chan chát xuống bậc đá gập ghềnh, xen lẫn tiếng thở hồng hộc đầy vẻ mệt mỏi và sợ hãi.

Xích Hỏa lập tức ngừng ăn. Toàn bộ túm lông cổ của nó dựng đứng lên như một vành gai nhọn. Đôi cánh khép chặt vào hông bỗng hơi nhích ra, cặp cựa sắt cong vút ghim chặt xuống mặt giát tre kêu răng rắc.

Tôi không ngẩng đầu lên, tiếp tục lia mũi dao gọt nốt hạt ngô cuối cùng.

Một tốp người vượt qua rặng trúc ngà trước cổng rào. Đi đầu là viên lại dịch mặc áo dài the đen viền chỉ lam của nha môn huyện lỵ, đầu đội nón chóp sơn then đã xộc xệch, vạt áo bết dính bùn đất đỏ quạch. Theo sau hắn là bốn tên lính cơ tay lăm lăm đoản đao gỉ sét, mặt cắt không còn giọt máu, hai người trong số đó đang gắng gượng khiêng một chiếc tráp gỗ sơn son thếp vàng tróc lở.

Viên lại dịch dừng lại trước thềm nứa, rút trong tay áo ra chiếc khăn lụa lau vội mồ hôi đang vã ra như tắm trên trán, ánh mắt láo liên nhìn quanh gian am cốc rách nát rồi dừng lại trên người tôi. Khi chạm phải con mắt chột đỏ ngầu hung tợn của Xích Hỏa, gã bất giác lùi lại nửa bước, nuốt nước bọt cái ực.

"Dám hỏi... đây có phải là Bùi lão trượng, đích tôn đời thứ bảy của nhà Bùi Công xứ Mường?" Gã hắng giọng, cố nặn ra cái giọng hách dịch quen thuộc chốn công đường, nhưng âm sắc run rẩy đã bán đứng nỗi kinh hoàng đang đè nặng trong lồng ngực gã.

Tôi không buồn ngước mắt, chỉ nhả một bã thuốc lào đen sì xuống rãnh nước chân cột:

"Núi này chỉ có một lão già chăn gà mù dở. Chốn quan nha tôn quý, các ông leo lên đỉnh Tả Phìn này làm gì cho bẩn gót giày?"

Viên lại dịch mặt biến sắc, nhưng nhớ đến thảm cảnh đêm qua dưới hang vôi, gã đành nén cơn giận, chắp tay xá dài một cái:

"Bùi lão trượng thứ lỗi. Tiểu nhân là Nguyễn Lại dịch, phụng mệnh quan Tri phủ Sơn Nam Thượng cấp tốc lên đây cầu kiến lão trượng. Đêm qua... yêu vật trăm năm trong hang đá vôi Tả Phìn tác oai tác quái. Cả một đội trinh phu cùng viên Suất đội thân tín của quan phủ bị nó xé xác không còn manh giáp. Súng đạn triều đình bắn vào giáp nó đều trượt ra ngoài. Bùa chú thầy mo thì gãy nát. Quan phủ biết tiếng nhà Bùi Công bảy đời nuôi thần kê áp chế tà sùng, nên đặc phái tiểu nhân mang trọng lễ lên đỉnh núi, kính thỉnh lão trượng hạ sơn trừ quỷ, cứu lấy con dân toàn trấn!"

Nói đoạn, gã phất tay ra hiệu. Hai tên lính cơ vội vã đặt chiếc tráp sơn son xuống sân đất, mở tung nắp tráp.

Bên trong tráp xếp ngay ngắn mười nén bạc trắng lấp lánh, kèm theo hai xấp lụa màu cánh kiến và một tờ văn tự có đóng dấu triện đỏ chót của quan phủ trấn Sơn Nam. Ánh bạc hắt lên nền đất ẩm ướt, lạnh lẽo và vô hồn.

Tôi bật cười, tiếng cười khàn đục như tiếng cọ xát của hai mảnh đá vôi khô khốc:

"Quan tri phủ các người coi mạng người rẻ như bèo bọt, nhưng lại coi bạc trắng nặng tựa thái sơn. Đêm qua mang đại bác với súng hỏa mai đến nã vào vách đá, khua chiêng gõ trống làm kinh động chướng khí trăm năm dưới đáy vực. Bây giờ nướng sạch quân lính, lại vác mười nén bạc rách lên đây đòi mua mạng già này?"

"Lão trượng!" Nguyễn Lại dịch sầm mặt, giọng nói bắt đầu mất kiên nhẫn. "Đây là mệnh lệnh của quan trên! Giúp việc quan là bổn phận của thứ dân. Lão cậy tài ẩn dật ba mươi năm, triều đình không truy cứu tội trốn xâu lậu thuế đã là ơn trời rồi. Nay giặc quỷ lộng hành, nếu lão còn ngoan cố từ chối, khi quan trên nổi thịnh nộ phái đại quân kéo tới, am cốc này liệu có giữ nổi bình yên?"

Xích Hỏa nghe thấy giọng điệu đe dọa của gã, liền rướn dài chiếc cổ trần trụi đỏ au, mỏ sắt chém mạnh vào không khí phát ra tiếng vù vù sắc lẹm. Đôi cánh thép đập phành phạch làm bụi đất bay mù mịt tạt thẳng vào mặt đám sai nha. Con mắt hổ phách của nó khóa chặt vào cổ họng viên lại dịch, tỏa ra sát khí đậm đặc khiến bốn tên lính cơ kinh hãi đồng loạt lùi phắt lại, tay run rẩy rút đoản đao ra khỏi vỏ nửa tấc.

Tôi đứng bật dậy. Thân hình cao lớn, gầy guộc của một kẻ cả đời lăn lộn giữa rừng già đổ sụp bóng đen trùm lên cả bọn người dưới sân. Bàn tay gân guốc của tôi vớ lấy cây chổi đót dựng ở vách nứa, quét mạnh một nhát hất tung đám cát sỏi lẫn lá rụng bay rào rào vào miệng chiếc tráp bạc.

"Cầm lấy đống bạc dính máu của quan phủ các ông mà cút xéo!" Tôi gằn giọng từng tiếng, trầm đục nhưng uy lực vang dội vách núi. "Súng đạn gươm giáo của triều đình còn bị con rết chúa bẻ gãy vụn, thì mạng già họ Bùi này làm được gì? Về bảo với quan tri phủ, muốn giữ cái mũ ô sa trên đầu thì mau chóng cho sơ tán toàn bộ dân Tả Phìn sang mạn sông Mã. Còn nếu cứ ngoan cố muốn dùng mạng dân lấp miệng vực, thì chuẩn bị sẵn quan tài cho chính mình đi!"

"Lão... lão già to gan!" Nguyễn Lại dịch run rẩy chỉ tay vào tôi, môi mấp máy nhưng không dám bước lên nửa bước trước cặp cựa sắt nhọn hoắt của Xích Hỏa đang chực lao bổ xuống. "Được lắm! Để xem thân già nhà ngươi chống mắt nhìn dân làng này chết sạch ra sao! Đóng nắp tráp lại, rút!"

Đám sai nha luống cuống đậy nắp tráp bạc, vội vã quay đầu tháo chạy thục mạng xuống dốc đá gập ghềnh như sợ con gà chọi khổng lồ nhảy xổ vào xé xác. Tiếng bước chân hoảng loạn của chúng nhanh chóng chìm dần vào màn sương mù dày đặc đang cuộn tròn quanh sườn núi.

Tôi thở dài một hơi nặng nhọc, ném cây chổi đót vào góc vách. Sự lạnh lùng trên mặt tôi dần tan biến, thay vào đó là nỗi cay đắng dâng lên nghẹn ứ nơi cổ họng. Ba mươi năm trước, tôi dứt áo rời bỏ dòng họ, trốn lên đỉnh núi heo hút này cũng chính vì muốn cắt đứt với những toan tính, danh lợi bẩn thỉu của chốn quan trường và thói đời bội bạc. Con người chỉ tìm đến kê sư khi tai họa ập xuống đầu, còn lúc bình yên thì coi nghề luyện huyết kê chẳng khác nào tà thuật dị đoan.

Đang định quay vào chái nhà đóng cửa liếp, khóe mắt tôi chợt giật thót.

Dưới gốc dổi già mọc sát mé rào gai bên ngoài bờ suối cạn, một bóng người gầy guộc vẫn đang bất động ở đó. Người này không đi cùng đám nha lại lúc nãy, mà hình như đã bám theo một lối mòn hiểm trở khác trèo lên tận đây.

Đó là một cô gái Mường còn rất trẻ, trạc chừng mười bảy tuổi.

Nàng mặc một bộ váy áo chàm rách nát tả tơi, ống tay và vạt áo bị gai mây cào xé thành từng mảnh tua tủa. Đôi chân trần của nàng bết chặt bùn non trộn lẫn những vệt máu tươi đã đông cứng lại vì dẫm phải đá tai mèo nhọn hoắt dọc đường leo dốc. Tóc tai nàng xõa xượi, ướt đẫm sương muối và mồ hôi, dính bết vào hai gò má hốc hác, trắng bệch vì kiệt sức.

Nhìn thấy tôi quay sang, hai đầu gối run rẩy của cô gái khuỵu hẳn xuống nền sỏi đá lởm chởm.

Cốp!

Nàng dập đầu thật mạnh xuống đất. Cú va đập mạnh đến mức đá sỏi cào rách một mảng trán nõn nà, máu tươi lập tức ứa ra chảy dài xuống sống mũi, hòa vào những giọt nước mắt đang tuôn rơi lã chã.

"Bác Tráng ơi... cứu cha cháu với!" Tiếng khóc nấc nghẹn ngào, xé lòng phát ra từ bờ môi nứt nẻ, thâm tím vì lạnh.

Tôi đứng sững lại giữa ngạch cửa. Giọng nói này, khuôn mặt này làm sống dậy một ký ức xa xăm bị chôn vùi dưới lớp tro tàn ba mươi năm qua. Đôi mắt to tròn đen láy kia giống hệt đôi mắt của người đàn ông năm xưa từng cõng tôi vượt qua ba ngọn đèo trong một đêm mưa lũ để trốn chạy khỏi thảm họa gia tộc.

"Cháu là... con gái Phạu Ban?" Tôi hạ giọng, những ngón tay siết chặt lấy khung cửa tre.

"Cháu là nương Mây... con gái út của cha Ban đây bác ơi!" Nàng ngẩng khuôn mặt đẫm máu và nước mắt lên, hai bàn tay gầy gò bấu chặt vào đá nhọn đến mức bật cả móng, lại dập đầu xuống lần thứ hai. "Đêm qua... đêm qua toán lính của quan huyện bỏ chạy toán loạn qua đầu bản, cha cháu dẫn tráng đinh ra ngăn cản thì bị con tà vật đuổi bén gót... Cha cháu che chắn cho dân làng chạy vào rừng, bị nó quẫy đuôi đập trúng..."

Tôi bước nhanh xuống thềm nứa, tiến lại gần bờ rào, giọng nói đã mất đi vẻ băng lãnh thường ngày:

"Phạu mười Ban bây giờ thế nào rồi? Mau nói rõ xem!"

Cô gái run lẩy bẩy, hai hàm răng va vào nhau lập cập. Nàng không trả lời bằng lời, mà run rẩy đưa hai tay ôm lấy một chiếc bọc vải chàm được bọc kín nhiều lớp trước bụng, từ từ gỡ từng nút thắt. Lớp vải ngoài cùng mở ra, để lộ chiếc áo lót bằng vải bông thô đã bị xé toạc loang lổ những vệt máu đen sẫm.

Và ngay khi lớp vải cuối cùng được dỡ bỏ, một luồng khí tanh nồng, thối khắm đặc quánh xộc thẳng vào mũi tôi.

Đó là một thứ mùi kinh tởm không thuộc về cõi sống. Nó là sự pha trộn giữa mùi xác chết rữa nát lâu ngày ngâm trong nước tù đọng và mùi vôi sống đang sôi sùng sục. Trên thân áo bông thô ráp, hai lỗ thủng tròn xoe to đúng bằng miệng chén ăn cơm nằm song song ngay trước ngực áo. Xung quanh hai mép vải bị cháy xém đen sì như bị sắt nung dí vào, một thứ chất dịch nhờn màu vàng chanh đang rỉ ra từng giọt sền sệt, bốc khói mỏng tanh tưởi giữa khí trời giá buốt.

Dịch độc của Rết Chúa trăm năm!

Hai lỗ thủng miệng chén rỉ nước vàng - đúng là vết cắn chí mạng của loài độc trùng chúa tể nơi hang vôi. Nọc độc này một khi đã ngấm vào da thịt, máu sẽ đông lại thành cục đen đặc, xương tủy sẽ dần tan chảy thành nước vàng hôi thối.

"Cha cháu đang nằm quằn quại ở nhà sàn..." Nương Mây nức nở nghẹn ngào, bàn tay áp chặt mảnh áo đẫm nọc độc vào ngực mình như muốn ôm lấy chút sinh khí tàn tạ của người cha. "Mười thầy mo khắp vùng Mai Châu về cúng tế đều bị nọc độc xông lên ngất lịm. Bốc bao nhiêu rễ cây thảo dược đổ vào miệng, cha cháu đều nôn ra máu mủ vàng khè... Toàn bộ thịt trước ngực cha cháu đã rữa nát hết rồi, nứt toác ra từng mảng... Chú bác trong bản đều bảo cha cháu không qua nổi canh ba đêm nay... Bác Tráng ơi, cháu lạy bác, cháu xin bác cứu lấy cha cháu!"

Nàng lại dập đầu bôm bốp xuống đá, từng tiếng đập đầu vang lên khô khốc giữa không gian im lìm của núi rừng. Máu từ trán nàng chảy ròng ròng ướt đẫm cả vạt áo chàm.

Tôi đứng như trời trồng, lồng ngực thắt lại từng cơn buốt nhói. Phạu mười Ban - người anh em kết nghĩa năm xưa của tôi, người duy nhất trong xứ Mường này không quay lưng lại khi nhà họ Bùi gặp đại nạn, người từng chia nửa củ sắn lùi trong những ngày tôi đói rách lang thang trên đỉnh núi cao. Nay người ấy đang oằn mình chờ chết dưới thứ nọc độc tàn độc nhất thế gian.

Cự tuyệt quan nha thì dễ, nhưng làm sao tôi có thể ngoảnh mặt làm ngơ trước tiếng khóc đứt ruột của đứa con gái người anh em sinh tử?

Xoẹt!

Một bóng đỏ rực bất thần lao vụt qua đầu tôi.

Tốc độ của nó nhanh như một lằn chớp giáng xuống từ trời cao. Xích Hỏa không đợi tôi ra lệnh, nó đã ngửi thấy mùi dịch độc quen thuộc truyền kiếp trong huyết quản. Con huyết kê tung cánh bay vọt qua hàng rào nứa, hai chiếc cựa sắt sắc lẻm cắm phầm phập xuống phiến đá sát bên người cô gái Mường.

Nương Mây kinh hãi hét lên một tiếng thất thanh, ngửa người ngã dúi dụi ra sau.

Nhưng Xích Hỏa hoàn toàn không để mắt tới cô gái. Con mắt hổ phách độc nhất của nó long lên sòng sọc, đỏ rực như hai hòn than đang cháy rừng rực dưới đáy lò luyện thép. Bộ lông cổ của nó xòe rộng thành một cái quạt thép tua tủa, ức đỏ căng phồng lên hết cỡ, phát ra những tiếng khè khè đanh thép trong cuống họng.

Phập! Phập! Phập!

Chiếc mỏ sắt cong như lưỡi cày của nó giáng xuống liên hồi như mưa sa bão táp. Từng cú mổ chính xác tuyệt đối cắm phập vào hai lỗ thủng miệng chén trên manh áo chàm đẫm máu. Lớp vải bông thô bị mỏ sắt xé toạc thành từng mảnh vụn. Xích Hỏa điên cuồng nuốt chửng từng bợn dịch độc màu vàng chanh đang rỉ ra trên thớ vải, móng vuốt cào xé dữ dội làm tung tóe những giọt nọc thối rữa xuống mặt đá tai mèo.

Chất kịch độc làm chết người trong chớp mắt lại giống như thứ mật ngọt kích thích tột cùng bản năng sát thủ của loài kê thần họ Bùi. Da gà dưới lớp lông đỏ ửng lên một màu đỏ tía rợn người, từng đường gân máu trên đỉnh đầu nó giật giật từng hồi theo nhịp đập của quả tim sắt đá.

Sau khi nuốt sạch giọt độc cuối cùng dính trên manh áo, Xích Hỏa nhảy phắt lên mỏm đá nhọn cao nhất bên bờ vực thẳm.

Nó dang rộng đôi cánh dài hơn sải tay người lớn, đập phành phạch vào luồng gió lạnh buốt đang thổi thốc từ thung lũng lên. Thân hình nó đứng sừng sững giữa đất trời, kiêu hãnh và ngạo nghễ như một bức tượng đồng đen nhuộm máu.

Con gà chọi ngửa cổ lên bầu trời xám xịt mù mịt sương độc, lồng ngực căng phồng nuốt trọn khí lạnh của núi rừng, rồi cất lên một tiếng gáy dõng dạc xé toạc không gian.

Ò... ó... o... o!

Tiếng gáy không mang âm sắc lanh lảnh của loài gà nhà tầm thường, mà trầm đục, dội vang như tiếng sấm nổ ngang tai giữa đêm đông buốt giá. Âm thanh ấy cuộn tròn theo từng cơn gió, rền vang khắp các hẻm vực sâu thẳm, đánh bạt màn sương mù dày đặc đang phong tỏa thung lũng Tả Phìn, dội thẳng vào vách đá dựng đứng của hang vôi sâu hun hút phía xa.

Đó là tiếng gáy khiêu chiến ngàn đời của loài thiên địch. Đó là bản án tử hình mà dòng họ Bùi Công tuyên cáo trước lũ yêu ma trăm chân dưới đáy vực sâu.

Tiếng gáy dứt điểm, núi rừng dường như nín thở. Dưới thung lũng xa xôi, một làn sương đen mỏng từ miệng hang đá vôi bỗng chốc cuộn trào lên giận dữ, như một lời đáp trả đầy hận thù của con tà vật đang ngâm mình dưới đáy vôi sống.

Tôi đứng nhìn bóng lưng đỏ rực của Xích Hỏa trên mỏm đá cao, bàn tay buông thõng từ từ nắm chặt lại thành quyền. Móng tay găm sâu vào lòng bàn tay đến ứa máu.

Ba mươi năm ẩn dật, ba mươi năm chôn vùi tên tuổi dưới lớp lá mục rừng già, cuối cùng cũng không thoát khỏi cái nợ máu mà số mệnh đã ấn định cho người kế thừa dòng máu họ Bùi. Tiếng gáy của Xích Hỏa đã phá vỡ ranh giới sinh tử, kéo tôi trở lại với thế giới đẫm máu mà tôi từng chạy trốn.

Tôi cúi người xuống, vươn hai bàn tay rắn như sắt nguội đỡ nương Mây đứng dậy khỏi vũng bùn đất lạnh giá.

"Đứng lên đi, cháu gái," giọng tôi trầm xuống, nhưng vững chãi như bàn thạch ngàn năm. "Máu của cha cháu không thể chảy uổng phí. Nợ máu của người Tả Phìn, hôm nay lão già này sẽ cùng Xích Hỏa đòi lại cho bằng sạch."

Nói rồi, tôi quay phắt người bước vào trong am cốc.

Chiếc hòm gỗ mun bám bụi dày cộp đặt dưới gầm ban thờ tổ tiên được tôi kéo mạnh ra ngoài. Chiếc khóa đồng han gỉ bị bẻ gãy bằng một nhát dao dứt khoát. Nắp hòm mở toang, để lộ ra những món đồ nghề gia truyền của kê sư bảy đời dòng họ Bùi. Chiếc túi da hoẵng đựng đầy các loại bột độc thảo trừ chướng khí. Đôi cựa đúc bằng thép đen nhọn hoắt như nanh sói ngâm qua mười năm nọc rắn hổ chúa. Cùng chiếc đòn gánh bằng gỗ lim đen bóng khắc đầy bùa chú trấn tà.

Tôi với tay nhấc chiếc áo tơi lá cọ khoác lên vai, cẩn thận gài đôi cựa thép đen vào thắt lưng da bò.

Giờ khắc đối đầu giữa người, gà và loài quái vật trăm năm trong hang đá vôi mù mịt sương độc đã chính thức điểm.

Chương khác

Xem thêm