Kê Sư Vùng Sơn Nam - Chương 8: Xích Hỏa Mở Mắt

Tôi dùng một tảng đá dẹp nặng chừng ba mươi cân chèn chặt miệng tráp sơn son lại, ngăn bớt luồng xú khí nồng nặc đang bốc lên từ khúc tay rữa nát. Mùi…

Nội dung chương

Tôi dùng một tảng đá dẹp nặng chừng ba mươi cân chèn chặt miệng tráp sơn son lại, ngăn bớt luồng xú khí nồng nặc đang bốc lên từ khúc tay rữa nát. Mùi thịt thối trộn lẫn dịch độc vàng chanh vẫn bám riết lấy vòm họng tôi, đắng ngắt và lợm giọng. Tôi múc một gáo nước suối ngâm rễ ngải đắng rửa sạch hai bàn tay, kỳ cọ từng kẽ móng đến khi da thịt đỏ ửng rát bỏng, rồi mới quay gót bước vào am cốc.

Bên trong gian chòi đá khoét sâu vào vách núi, ánh sáng ban ngày chỉ rọi tới bậu cửa. Gió từ các hẻm vực rặng núi Trầm thốc vào tạo nên những tiếng rít rền rĩ qua từng kẽ đá nứt. Tôi châm ngọn đèn dầu lạc đặt trên bệ đá tai mèo. Ngọn lửa hạt đỗ bập bùng hắt bóng tôi và con huyết kê lên vách đá gồ ghề, kéo dài ngoằn ngoèo tựa một cái bóng dị hình.

Xích Hỏa thong thả bước theo sau gót chân tôi. Từng móng vuốt sắc nhọn của nó gõ cộc cộc trên nền đá lạnh buốt. Con gà chọi chột mắt áp sát vào ống chân tôi, bộ ức đỏ phập phồng nhịp nhàng. Tôi ngồi thụp xuống chiếc đôn gỗ mục, khẽ luồn những ngón tay thô ráp vào lớp lông bờm của nó.

Lông cổ Xích Hỏa dày và cứng cước, từng sợi đỏ rực như than củi đang ủ dưới tàn tro, tỏa ra hơi ấm râm ran áp vào lòng bàn tay tôi. Lớp da dưới ức nó mang màu đỏ tía sẫm quánh, kết quả của hàng trăm lần tẩm rượu ngâm hạt cau rừng, vỏ sồi già và bột phèn đen. Một con huyết kê thuần chủng họ Bùi khi trưởng thành có bộ da dày như da trâu mộng, đao chém trượt mũi, nanh độc rắn hổ cắn vào cũng khó lòng găm thủng.

Tôi ngước mắt nhìn lên hốc đá cao nhất nơi góc am.

Ở đó dựng bàn thờ tổ tiên của dòng họ Bùi Công. Không có bài vị sơn son thếp vàng, cũng chẳng có lư hương đồng tráng lệ như chốn quan gia nơi phủ huyện. Bàn thờ chỉ là một phiến đá phiến phẳng lì nhẵn bóng do gió sương mài giũa qua năm tháng. Trên phiến đá xếp thẳng hàng bảy tấm thẻ gỗ thị xám xịt vì khói lam, mỗi tấm thẻ khắc tên một đời Kê sư họ Bùi tại xứ Sơn Nam Thượng này.

Bảy đời người gắn liền với kiếp nuôi gà chọi diệt tà.

Người đời dưới xuôi hay kẻ nông cạn vùng bình nguyên chỉ xem gà chọi như trò vui tiêu khiển nơi sới bạc đầu xuân, con thắng được tung hô, con thua đem đi chặt thịt. Họ đâu biết rằng chốn thâm sơn cùng cốc nơi chân dãy Hoàng Liên rậm rạp sương lam này, loài gà chọi dòng Xích Hỏa là vũ khí trấn thủ sống còn của người Mường trước loài bò sát trăm chân. Dưới những tầng đá vôi mục rỗng ngâm vôi sống ngàn năm, bóng tối và khí ẩm nuôi dưỡng lũ tà vật nhiều chân to lớn dị thường, thân dài hàng trượng, vỏ cứng như mai rùa, hai kìm nanh chứa nọc độc có thể làm rữa nát cả thịt xương người lớn trong vài khắc.

Để đối đầu với thứ hung thần dưới lòng đất, tổ tiên họ Bùi đã mất hàng trăm năm chọn giống, thuần dưỡng nên dòng gà chọi mắt chột, chân vảy rồng, mỏ cứng như mũi cày sắt. Gà chọi của Bùi tộc sinh ra không phải để đứng trong sới bạc, mà để chui vào các kẽ nứt tử địa, dùng mỏ thép xé xác lũ độc trùng, lấy máu diệt tà.

Tôi với tay nhấc ba nén hương rễ bách khô, dí vào ngọn đèn dầu lạc rồi cắm vào bát sỏi trắng trên bàn thờ. Khói hương nghi ngút bốc lên, mang theo mùi cay nồng của thảo mộc rừng già.

Ánh mắt tôi dừng lại ở tấm thẻ gỗ thứ sáu, nơi khắc tên phụ thân tôi: Bùi Công Nhạc.

Bàn tay tôi bất giác run rẩy. Ký ức về đêm trăng tròn ba mươi năm trước bỗng chốc dội về, rõ mồn một như vừa mới diễn ra ngày hôm qua. Đêm ấy, vách đá vôi Tả Phìn cũng nồng nặc mùi lưu huỳnh và khí độc thối rữa y hệt buổi chiều hôm nay.

Năm đó tôi hăm tám tuổi, sức dài vai rộng, ỷ vào tài nghệ nuôi gà xuất chúng và tính khí ngông cuồng của tuổi trẻ. Khi nghe tin dân bản Tả Phìn liên tiếp mất tích sau những chuyến đi lấy củ mài ban đêm, tôi đã một mực đòi mang đôi huyết kê đắc ý nhất xuống núi xông thẳng vào cửa hang Thần Khê. Cha tôi can ngăn. Ông bảo con tà vật dưới đáy hang đã tích tụ chướng khí trăm năm, lớp giáp trên lưng nó đã chuyển sang màu đá xanh, mỏ gà thông thường gõ vào chỉ tổ gãy vụn. Ông bảo vận khí dòng họ chưa tới hồi khai mở lại đôi cựa thép đen.

Tôi gạt phắt lời ông, cho rằng cha tuổi già sức yếu sinh lòng sợ hãi. Tôi lén cha mang gà xuống núi trong đêm gió chướng.

Hậu quả của sự cuồng vọng nông nổi ấy là cái chết thảm khốc của ông.

Cha tôi lao vào cửa hang sâu hun hút để cứu tôi thoát khỏi vòng vây của hàng ngàn con rết con đang túa ra từ lòng vôi sống. Để yểm hộ cho tôi bò ngược lên miệng vực, thân xác ông đã hứng trọn cú bổ kìm tàn độc của con Rết Chúa to như cột nhà. Khi tôi kéo được cha ra khỏi cửa hang mù mịt sương độc, lớp áo chàm trên ngực ông đã bị đục thủng hai lỗ to bằng miệng chén.

Chất nọc vàng chanh sôi sục xèo xèo trên da thịt ông. Trước mắt tôi, từng thớ cơ bắp cuồn cuộn của cha nhão ra thành nước vàng, xương sườn mục nát lộ ra trắng hếu rồi tan chảy như sáp nến gặp lửa than. Nỗi đau đớn tột cùng xé rách cuống họng người thợ săn dạn dày sương gió, nhưng ông không van khóc lấy một lời.

Trước khi hơi thở cuối cùng tắt ngấm, bàn tay đen đúa dính đầy dịch thối của cha bóp chặt lấy cổ tay tôi, gằn từng tiếng trăn trối:

"Tráng... Đem cựa thép... khóa lại... Đời mày... không được dùng bí kỹ Bùi tộc... trừ khi... trừ khi chính loài quái vật ấy bò lên tìm mày..."

Cái chết của cha biến tôi thành kẻ tội đồ mang nỗi ân hận thấu tận tâm can. Ba mươi năm qua, tôi trốn chạy khỏi bản làng, dựng am cốc heo hút trên đỉnh núi Trầm, cắt đứt liên lạc với trần thế. Tôi tự tay chôn đôi cựa thép đúc bằng sắt non ngâm nọc hổ chúa xuống đáy rương gỗ mun, phong bế toàn bộ bí kỹ mà tổ tiên truyền lại. Tôi nuôi Xích Hỏa như một thói quen cố hữu của người họ Bùi, nhưng chưa từng một lần lắp cựa sắt cho nó, chỉ để nó sống tự do như một con chim rừng trên vách đá.

Nhưng giờ đây, chiếc tráp chứa cánh tay thối rữa rỉ nước vàng chanh đang nằm chỏng chơ ngoài sân đá kia như một cái tát trời giáng thức tỉnh tôi. Con tà vật ấy không chịu ngủ yên dưới đáy vôi sâu. Máu của người vô tội lại tiếp tục chảy. Bản Tả Phìn sắp biến thành một bãi tha ma rữa nát nếu không có mũi cày thép nào bổ vỡ lớp giáp xanh của nó.

Tôi thở hắt ra một hơi dài, lồng ngực thắt lại trong nỗi xót xa ngút ngàn.

"Cha ơi," tôi lẩm bẩm trước tấm thẻ gỗ thứ sáu. "Con đã trốn tránh ba mươi năm rồi. Nhưng nợ máu năm xưa, con trốn không nổi nữa."

Xích Hỏa đứng bên cạnh bỗng nhiên ngẩng đầu lên. Con mắt hổ phách duy nhất của nó lóe lên một tia sáng lạnh lẽo, chiếc cổ đỏ au vươn thẳng tắp, phát ra tiếng gù gù trầm đục từ sâu trong lồng ngực sắt đá. Nó như thấu hiểu từng lời tự sự cay đắng của người chủ già.

Tôi quay người lại, quỳ xuống trước chiếc rương gỗ mun đặt dưới chân vách đá. Nắp rương bằng gỗ lim nặng trịch đã được mở tung từ lúc nãy. Bên trong đáy rương, ngoài chiếc túi da hoẵng đựng bột trừ chướng khí và đôi cựa thép đen bóng, còn có một bọc vải dầu dày cộp bám đầy mạng nhện.

Tôi cẩn thận nhấc bọc vải dầu ra ngoài, đặt lên phiến đá phẳng cạnh ngọn đèn dầu lạc.

Từng lớp vải dầu được bóc tách cẩn thận. Bên trong lớp vải là một tấm da hoẵng màu vàng sáp, khô cứng và nhăn nheo theo thời gian. Đây chính là báu vật truyền đời của dòng họ Bùi Công: tấm da ghi chép bí kỹ rèn cựa, cách phối ngải giải nọc độc và những bài thuốc bí truyền để kích phát toàn bộ huyết mạch của loài thần kê.

Tôi vuốt phẳng tấm da hoẵng thô ráp. Trên mặt da, những dòng chữ Mường cổ cùng nét vẽ ngoằn ngoèo bằng mực tàu pha mật gấu hiện lên rõ ràng.

Đó là phương pháp tôi cựa sắt: dùng thép lấy từ những lưỡi cày gãy từng cày qua trăm mẫu đất ruộng cằn, tôi qua nước suối lạnh đầu nguồn bảy lần, sau đó ngâm vào nọc độc của bảy loài rắn hổ và bột chu sa suốt mười năm ròng rã dưới lòng đất sâu. Đôi cựa thép sau khi tôi luyện sẽ đen bóng như than, cứng hơn đá núi, đâm vào da thịt loài giáp xác sẽ làm tê liệt kinh mạch của chúng trong chớp mắt.

Bên cạnh phương pháp rèn cựa là đồ hình phối hợp các loại ngải rừng để giải độc rết: củ ngải bún bảy lá mọc trên vách đá ngược gió, mật gấu ngựa khô, vôi sống tán mịn và tro đốt từ lông đuôi của chính con gà chọi thắng trận.

Tôi chăm chú đọc từng hàng chữ cổ, ngón tay lần theo những vết mực đã ngả màu nâu sẫm. Từng bí quyết mà cha tôi truyền dạy năm xưa dội lại trong tâm trí, sắc bén và rành mạch.

Bất chợt, một luồng gió lạnh từ ngoài cửa am thốc mạnh vào trong, làm ngọn lửa đèn dầu chao đảo dữ dội. Bóng tối trong góc hang chồm lên rồi thụt lùi lại.

Không khí trong am cốc bỗng dưng trở nên nặng nề khác thường. Gió không mang theo hơi sương ẩm ướt của rừng già mà mang theo một mùi hăng hắc ngột ngạt, khét lẹt như mùi vôi sống đang gặp nước mưa dưới thung lũng sâu.

Xực!

Một mùi tanh tưởi rợn người xộc thẳng vào mũi tôi, tanh hơn cả mùi từ cánh tay trong chiếc tráp gỗ ngoài sân.

Tôi cúi gằm mặt xuống tấm da hoẵng, đồng tử lập tức co thắt lại.

Trên mặt tấm da thú vốn khô cong suốt ba mươi năm qua, những đường gân cổ xưa bắt đầu phồng rộp lên từng mảng. Ngay tại vị trí vẽ hình đầu con huyết kê và chữ phong ấn cựa thép của dòng họ Bùi, một chất dịch màu đen sền sệt bỗng nhiên rỉ ra từ bên trong thớ da.

Chất dịch đen ấy sủi lên những bọt khí li ti, sôi sùng sục ngay trước mắt tôi.

Xèo... xèo...

Chất dịch đen rỉ ra đến đâu, mặt da hoẵng bị ăn mòn thủng lỗ chỗ đến đó. Khói đen bốc lên nghi ngút, mang theo mùi khét lẹt của da thịt cháy sém hòa lẫn mùi nọc độc tà ma. Những dòng chữ cổ ghi chép bí kỹ bảy đời của họ Bùi bị chất lỏng đen ngòm kia nuốt chửng, rữa nát thành từng bợn bùn đen nhớp nháp trên mặt đá phiến.

Tấm da hoẵng gia truyền vốn được thuộc bằng thảo dược trừ tà cực mạnh, có khả năng cảm ứng với chướng khí thiên nhiên. Hiện tượng da thú tự rỉ dịch độc và tự phân hủy này chỉ xảy ra khi có một luồng tà khí vô cùng hung hãn, tột cùng u ám đang áp sát tới gần.

Chướng khí từ miệng hang vôi Tả Phìn đã không còn nằm yên dưới đáy thung lũng nữa.

Nó đang bò ngược lên sườn núi. Sương độc đã bắt đầu liếm tới tận chân rặng núi Trầm này.

Dưới chân tôi, mặt nền đá tai mèo của am cốc truyền đến một rung cảm rất khẽ, như thể có hàng ngàn bước chân sắc nhọn bằng kim loại đang cào xước vào lòng đất sâu bên dưới vách núi. Mùi tanh thối của rết chúa hòa cùng hơi vôi sống cuộn trào theo gió chướng ùa vào cửa chòi đá, dập tắt ngọn đèn dầu lạc trong một tiếng xì nhẹ.

Am cốc chìm vào bóng tối mịt mùng.

Trong bóng tối dày đặc ấy, hai đốm sáng đỏ rực bỗng nhiên bùng cháy. Con mắt hổ phách của Xích Hỏa sáng quắc lên như một hòn than cháy dở giữa lò nung.

Toàn bộ lông bờm trên cổ nó dựng đứng lên tua tủa như một vạt chông sắt. Đôi cánh dài của con huyết kê dang rộng ra, đập phành phạch vào vách đá tạo nên những âm thanh chát chúa. Bản năng sát thủ ngàn đời của loài thần kê họ Bùi bị kích động tột độ trước mùi dịch đen thối rữa đang sôi sục trên tấm da hoẵng.

Nó bước từng bước giận dữ về phía cửa am, chiếc mỏ cày thép gõ mạnh xuống nền đá phát ra những tia lửa nhỏ le lói trong màn đêm, sẵn sàng nghênh đón luồng gió độc đang trườn tới.

Chương khác

Xem thêm