Kê Sư Vùng Sơn Nam - Chương 18: Bình Minh Rửa Sạch Hang Vôi

Cột đá vôi đổ sụp xuống tạo nên một tiếng gầm xé toạc không gian ngầm, bụi đá lẫn bột vôi tung lên trắng xóa như một trận bão tuyết giữa lòng địa ngục.…

Nội dung chương

Cột đá vôi đổ sụp xuống tạo nên một tiếng gầm xé toạc không gian ngầm, bụi đá lẫn bột vôi tung lên trắng xóa như một trận bão tuyết giữa lòng địa ngục.

Tôi ghì chặt con gà chọi vào ngực bằng cánh tay trái. Cả tấm thân tả tơi của Xích Hỏa nép sát vào thớ thịt cháy xém trước ngực tôi. Hai chiếc xương sườn gãy nén chặt vào màng phổi khiến mỗi nhịp thở rít lên buốt nhói, máu tươi từ khóe miệng tiếp tục nhỏ giọt xuống lưng con chiến kê. Đất đá trên vòm hang thi nhau rụng xuống như mưa tên. Tiếng nứt toác của những tảng thạch nhũ hàng nghìn năm tuổi hòa cùng tiếng nước vôi sôi réo rắt dưới lòng chảo tạo thành một thứ âm thanh ma quái, thúc giục kẻ sống sót phải rời khỏi chốn tử địa.

Lối lên ban đầu đã bị tảng đá lớn bịt kín một nửa. Tôi lảo đảo bước qua những vũng nước vôi hãy còn bốc khói ngùn ngụt. Đôi chân trần giẫm lên lớp đá dăm sắc nhọn, da thịt ở bắp chân phồng rộp vì hơi nóng, nhưng cơn đau thể xác lúc này bị đè bẹp bởi ý chí sống sót. Dưới lớp áo chàm rách bươm, túi mật Rết Chúa tròn căng mát rượi đang áp chặt vào da tôi, luồng hàn khí dịu lành của nó tỏa ra ngăn không cho chất độc của bầy rết con ngấm sâu vào lục phủ ngũ tạng.

Tôi với tay bám vào một gờ đá nhô ra bên vách đứng. Lực kéo từ cánh tay phải làm lồng ngực tôi giật nảy lên một cơn co thắt dữ dội. Tôi cắn chặt răng quai hàm, gân xanh trên cổ nổi cộm thành từng búi. Bùn vôi bám chặt vào đầu gối, móng tay cào vào vách đá đến mức bật máu, nhưng tôi không buông tay. Xích Hỏa ngước con mắt chột còn lại nhìn tôi, chiếc mỏ cày dính máu khẽ mổ nhẹ vào mu bàn tay tôi một nhịp trầm ổn. Nó đang nhắc tôi nhớ đến nguồn gốc của dòng họ Bùi Công, nhắc nhớ bảy đời Kê sư chưa từng có ai gục ngã dưới lòng đất tối.

Mười thước. Tám thước. Năm thước.

Tôi trườn qua khe hở hẹp vừa đúng một thân người giữa hai khối thạch nhũ đổ nghiêng. Ngay khi gót chân tôi vừa rút qua khỏi khe hẹp, một tiếng ầm dữ dội vang lên phía sau. Toàn bộ trần hang Tả Phìn sụp xuống, vùi lấp vạc nước vôi sục sôi cùng xác chết rữa nát của con quái thú trăm chân vào cõi vĩnh hằng. Luồng gió thốc từ vụ sụp đổ đẩy mạnh sau lưng tôi, thổi bay tàn tro và bụi đá ra ngoài.

Ánh sáng ban mai chiếu thẳng vào mặt làm mắt tôi cay xè.

Gió lạnh vùng núi cao Sơn Nam Thượng ùa tới, tạt vào lớp da cháy bỏng của tôi một cảm giác buốt rát đến tê dại. Tôi bò ra khỏi cửa hang đá vôi, ngã rạp xuống thảm cỏ đẫm sương mai, hai lá phổi tham lam hít lấy từng ngụm khí trời trong trẻo. Đã bao nhiêu canh giờ trôi qua dưới lòng đất tối tăm kia, tôi không rõ. Lúc này mặt trời vừa nhô lên khỏi rặng núi đá tai mèo, nhuộm đỏ những đám mây mù đang trôi lơ lửng phía trên thung lũng.

Từ triền núi nhìn xuống, làng Tả Phìn hiện ra trong làn sương sớm. Hàng trăm bóng người đang tụ tập ở chân núi phía dưới. Quan phủ điều động lính tráng cầm giáo mác, dân binh bưng chiêng trống vây quanh một vòng lớn, nhưng không một ai dám đặt chân lên bãi đá dẫn vào miệng hang độc. Họ đứng đó chờ đợi một kết cục đen tối, chuẩn bị đón nhận tin dữ hoặc sẵn sàng bỏ làng chạy loạn nếu quái vật tràn xuống.

Tôi chống một cành cây khô làm gậy, ôm con gà chọi chậm rãi đứng thẳng dậy.

Xích Hỏa dù gãy một bên cánh, bộ lông đỏ rực cháy xém nham nhở, nhưng chiếc đầu đỏ tía của nó vẫn vươn cao ngạo nghễ hướng về phía ánh mặt trời. Một người một gà, toàn thân phủ kín bùn vôi trắng xóa xen lẫn những vệt máu đen đặc, lầm lũi bước xuống con dốc đá lởm chởm.

Tiếng chiêng đồng dưới chân núi bỗng nhiên ngưng bặt.

Một người lính nhìn thấy bóng dáng chúng tôi hiện ra từ đám sương độc trên sườn núi. Hắn chỉ tay lên, miệng há hốc nhưng không thốt nên lời. Cả đám đông hàng trăm con người lặng phắc. Họ trừng trừng nhìn lão già năm mươi tám tuổi bước đi xiêu vẹo với lồng ngực đẫm máu, trên tay ôm một con gà chột mắt tàn tạ nhưng khí thế sắc lạnh như lưỡi kiếm vừa rút khỏi bao.

"Kê sư... Kê sư Bùi Công còn sống!"

Tiếng reo hò vỡ òa từ đám trai làng. Họ định ùa lên sườn dốc nhưng nhìn thấy gương mặt lạnh như sắt và đôi mắt đỏ ngầu của tôi, tất cả bất giác dạt ra hai bên nhường đường. Tôi không nhìn ai, không đáp lại một lời chúc tụng nào. Đôi chân rách nát của tôi rảo bước thẳng về phía nóc nhà sàn nằm ở đầu bản.

Đó là nhà của Phạu mười Ban.

Bên bậc thang gỗ, cô gái Mường mười bảy tuổi đang ngồi thụp dưới đất, đôi mắt sưng húp vì khóc ròng suốt một đêm dài. Nghe tiếng bước chân nặng nề giẫm lên lớp sỏi, nàng ngẩng đầu lên. Nhìn thấy tôi, nhìn thấy bọc da hoẵng đẫm thứ ánh sáng xanh ngọc bích le lói trong vạt áo rách của tôi, đôi môi nứt nẻ của nàng run rẩy.

"Kê sư..."

"Mang cho ta một bát nước mưa trong, một con dao con và một chậu than hồng," giọng tôi khàn đặc, mỗi từ thốt ra đều lẫn theo mùi máu tanh.

Cô gái vùng dậy, chạy vội lên cầu thang như một cơn gió. Tôi bước lên sàn gỗ, đặt nhẹ Xích Hỏa nằm xuống một tấm chiếu rơm sạch ở góc hiên. Con gà chọi rúc đầu vào cánh, khẽ thở dốc nhưng đôi mắt chột vẫn hướng về phía tôi canh chừng.

Gian nhà trong bốc lên mùi hôi thối nồng nặc của thịt rữa. Trên chiếc giường tre, cha của cô gái nằm bất động, hơi thở mỏng manh như sợi khói mùa đông. Da mặt ông ta đã chuyển sang màu xám ngoét của người chết. Vạt áo chàm bị xé toạc, để lộ lồng ngực gầy guộc với hai lỗ thủng to bằng miệng chén. Thứ nước nhờn màu vàng sẫm vẫn đang rỉ ra từng giọt đặc quánh, ăn mòn lớp da thịt xung quanh thành những mảng đen sì bốc mùi thối khẳn. Nọc độc đã bắt đầu chạy vào cuống tim, chỉ chậm một khắc nữa thôi thì mạng sống của người đàn ông này sẽ chấm dứt.

Cô gái bưng bát nước mưa và chậu than hồng đặt xuống cạnh tôi, hai tay nàng run bần bật.

Tôi quỳ một chân xuống bên mép giường tre. Cơn đau từ hai chiếc xương sườn gãy thúc mạnh vào lồng ngực làm trán tôi vã mồ hôi hột. Mở tấm da hoẵng ra, khối ngọc bích căng mọng hiện ra trước mắt, tỏa hương thơm thanh mát của thảo mộc tự nhiên, lập tức xua tan đi mùi xú uế đang bao trùm gian phòng.

Tôi cầm con dao nhỏ, rạch một đường mảnh trên cuống túi mật Rết Chúa.

Một giọt dịch màu xanh ngọc bích sẫm, đặc sánh như hổ phách từ từ rơi xuống bát nước mưa. Nước trong bát lập tức sủi tăm nhẹ rồi chuyển thành một màu xanh biếc trong vắt kỳ ảo. Một nửa số dịch còn lại, tôi cẩn thận nhỏ thẳng vào hai lỗ thủng trên ngực Phạu mười Ban.

Xèo xèo!

Khói xám bốc lên từ hai miệng vết thương cùng với tiếng sôi lục bục rợn người. Thứ nọc độc màu vàng tích tụ bấy lâu trong da thịt gặp phải mật rết lập tức bị trục xuất ra ngoài, trào ra thành từng dòng đen ngòm rơi xuống chậu than hồng đặt bên dưới, bốc lên mùi khét lẹt. Tôi dùng một mảnh vải sạch thấm nước mật trong bát, miết mạnh quanh mép vết thương, tẩy sạch từng mảng thịt thối rữa cho đến khi rỉ ra những giọt máu tươi đỏ thắm.

Tiếng rên rỉ yếu ớt phát ra từ lồng ngực người bệnh. Sắc xám ngoét trên mặt Phạu mười Ban dần dần rút đi, thay vào đó là một chút sắc hồng mỏng manh nơi gò má. Hơi thở đứt quãng bắt đầu đều đặn trở lại. Độc tính trăm năm của loài mãng xà trăm chân đã bị chính giọt mật bản mệnh của nó hóa giải hoàn toàn.

Tôi nén một hơi thở dài mệt mỏi, đặt chiếc bát xuống sàn tre rồi tựa lưng vào cột nhà.

Bên ngoài hiên vang lên tiếng bước chân rộn rạo. Quan Tri phủ Sơn Nam Thượng cùng đám nha lại và kỳ mục trong làng lục tục bước lên sàn gỗ. Vị quan phủ mặc áo gấm xanh thêu hoa, nét mặt vừa kính sợ vừa e dè nhìn tôi. Hai người lính đi sau khiêng theo một chiếc tráp gỗ sơn son thếp vàng mở nắp, bên trong lấp lánh những đĩnh bạc trắng muốt và từng chuỗi tiền đồng xâu bằng dây gai.

"Bùi Kê sư!" Quan Tri phủ chắp tay, cúi đầu thật thấp trước một lão nông dân Mường áo quần rách rưới. "Thần tích này của ngài quả thật cứu vớt cả vùng Sơn Nam Thượng khỏi tai ương diệt bản. Đây là năm trăm lạng bạc cùng năm mươi mẫu ruộng tốt ven sông Đáy, thượng quan đã chuẩn y ban thưởng cho ngài. Xin Kê sư thu nhận để tỏ lòng biết ơn của trăm họ."

Đám lý trưởng, tuần đinh xì xào thèm thuồng nhìn chiếc tráp bạc. Cả đời làm lụng của một người dân vùng cao này chưa bao giờ thấy nổi một góc số của cải ấy.

Tôi nhìn lướt qua những đĩnh bạc sáng loáng, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười nhạt nhòa. Tôi xé một dải vải từ gấu áo chàm của mình, quấn chặt lấy lồng ngực để cố định hai chiếc xương sườn gãy, rồi chậm rãi đứng dậy.

"Quan phủ đem bạc này về mà sửa sang đê điều, phát chẩn cho những gia đình có người bị rết cắn chết dọc bờ suối," giọng tôi đều đều, lạnh ngắt như sương sớm trên núi. "Dòng họ Bùi Công bảy đời nuôi gà chọi diệt ác quỷ, chưa từng bán mạng để lấy bạc tiền của triều đình. Món nợ máu giữa loài rết độc và đất Mường hôm nay đã thanh toán xong. Ta không nợ ai, và cũng chẳng ai nợ ta."

Quan Tri phủ sững sờ, tay chắp giữa không trung không biết nên thu lại hay giữ nguyên. Những kẻ đứng sau trố mắt nhìn tôi như nhìn một kẻ điên. Giữa thời loạn lạc cuối đời Lê, năm Cảnh Hưng thứ bốn mươi lăm đầy rẫy giặc giã đói kém này, có kẻ lại chối từ năm trăm lạng bạc trắng một cách dửng dưng đến thế.

Tôi không buồn để tâm đến sự ngơ ngác của đám người quyền quý. Tôi quay gót bước ra phía góc hiên, cúi xuống bế Xích Hỏa lên tay. Con gà chọi tựa chiếc đầu tơ xước sát vào hõm vai tôi, đôi chân cựa sắt buông thõng mỏi mệt. Tôi bước xuống từng bậc thang gỗ, hướng về phía con đường mòn dẫn lên đỉnh núi mây mù bao phủ.

"Kê sư! Xin người dừng bước!"

Một tiếng gọi nghẹn ngào vang lên sau lưng. Cô gái Mường mười bảy tuổi chạy vội theo, đôi chân trần giẫm lên sỏi đá không hề hay biết đau. Nàng quỳ sụp xuống ngay trước mặt tôi trên lối mòn, hai tay nâng cao một chiếc ống tre đã lên nước bóng màu nâu sẫm, hai đầu bịt bằng sáp ong rừng phong kín.

"Gia đình con mang ơn cứu mạng của người, không có vàng bạc để tạ lễ," nàng nấc lên từng tiếng, mắt đẫm lệ nhưng ánh nhìn kiên định lạ thường. "Trước khi tổ tiên họ Mười chúng con đến đất Tả Phìn dựng bản hơn trăm năm trước, cụ tổ có truyền lại vật này. Cụ dặn rằng nếu một ngày nào đó, có một vị Kê sư mang gà mắt chột họ Bùi đến hang đá vôi diệt quái thú, hãy trao lại vật này cho người. Đó là thứ thuộc về dòng dõi của ngài."

Tôi khựng lại. Lời nói của cô gái chạm vào một góc sâu kín trong ký ức của tổ tiên truyền lại qua bảy đời.

Tôi nhận lấy ống tre, ngón tay cái khẽ cạy lớp sáp ong phong kín nơi nắp đậy. Bên trong không có thư tịch, cũng không có ngọc ngà châu báu.

Nằm gọn gàng giữa lớp lụa tơ tằm đã ố vàng theo năm tháng là một chiếc lông vũ.

Đó là một chiếc lông đuôi gà chọi dài hơn một gang tay, màu đỏ thắm như ngọn lửa hừng đông, trên thân lông có những vệt viền đen óng ánh như kim loại. Chiếc lông đã trải qua cả trăm năm dâu bể nhưng không hề bị mục nát hay phai màu, chạm vào ngón tay hãy còn ấm sực như mang theo hơi thở của loài thần điểu.

Xích Hỏa trên tay tôi bỗng giật mình. Nó ngẩng phắt đầu dậy, con mắt chột bên trái run rẩy nhìn vào chiếc lông vũ.

Tôi run rẩy lật cánh phải của Xích Hỏa ra. Ngay sát đốt cánh thứ ba, nơi lớp lông tơ đỏ rực bị khuyết một khoảng trống kỳ lạ. Khoảng trống ấy tồn tại từ lúc nó mới nở ra khỏi vỏ trứng đến nay - một khoảng trống hình trăng khuyết. Cha tôi ba mươi năm trước từng thở dài bảo rằng con gà này mang nghiệp dở dang của tiền nhân. vết sẹo tròn nhẵn thó đã lộ ra rõ mồn một.

Tôi đặt chiếc lông vũ cổ xưa ướm thử vào khoảng trống ấy.

Xoạt.

Chiếc lông đỏ thắm khớp khít từng sợi tơ vào đốt cánh của Xích Hỏa, như thể nó vừa rụng ra từ chính thân thể của con chiến kê này chỉ vài khắc trước. Một luồng khí nóng ấm lan tỏa từ khớp cánh, chạy dọc khắp thân hình tơi tả của Xích Hỏa. Con gà chọi rướn cao chiếc cổ trụi lông, vỗ mạnh bên cánh lành lặn còn lại, cất lên một tiếng gáy vang dội, trong trẻo xé toạc làn sương mù đang bao phủ khắp thung lũng Tả Phìn.

Tiếng gáy trầm hùng chấn động cả một vùng non nước Sơn Nam Thượng, vọng vào vách núi đá vôi rồi ngân dài mãi giữa tầng không.

Tôi nhìn chiếc lông đuôi đỏ rực, rồi nhìn cô gái Mường đang quỳ lạy dưới đất. Trăm năm trước, cụ tổ bảy đời của nhà Bùi Công từng một mình vác gà vào hang chiến đấu với Rết Chúa rồi gục ngã tại nơi đây, để lại một chiếc lông vũ và lời nguyền truyền kiếp. Trăm năm sau, năm Cảnh Hưng thứ bốn mươi lăm đẫm máu này, định mệnh đã dẫn lối cho tôi và Xích Hỏa hoàn tất mối huyết thù dở dang của dòng họ.

Vòng luân hồi ân oán cuối cùng đã khép lại trọn vẹn.

"Đứng dậy đi, con gái," tôi khẽ nói, giọng trầm xuống đầy thanh thản. "Ngươi đã trả lại cho ta thứ quý giá hơn mọi bạc vàng trên đời này rồi."

Tôi cất chiếc ống tre vào tay áo, ôm chặt Xích Hỏa vào lòng rồi xoay người cất bước.

Sau lưng tôi, khói bếp làng Tả Phìn bắt đầu bốc lên từ những mái nhà sàn, hòa quyện với làn sương mai đang tan dần dưới ánh nắng rực rỡ. Phía xa xa nơi chân trời, cõi nhân gian vẫn đang chìm trong binh lửa tao loạn của buổi mạt kỳ triều Lê, tiếng súng lệnh và khói lửa phân tranh vẫn chực chờ nuốt chửng những số phận nổi nênh.

Nhưng ở chốn non cao Sơn Nam Thượng này, hang đá độc đã vĩnh viễn bị chôn vùi. Tôi bước từng bước vững chãi trên con đường dốc ngược mù mịt mây trắng, trở về với căn lều cỏ tĩnh mịch trên đỉnh núi đá, nơi chỉ có tiếng thông reo và tiếng gáy kiêu hãnh của con chiến kê dòng dõi Xích Hỏa chào đón một ngày mới bình yên.

Chương khác

Xem thêm