Kẻ Trốn Nã Dưới Mái Lan - Chương 1: Vạch thứ bốn trăm năm mươi sáu
Tiếng gà rừng gáy đợt đầu chưa dứt thì Trần Văn Phước đã mở mắt. Năm giờ sáng, lán T3 còn chìm trong thứ bóng tối nhờ nhờ của rạng đông chưa tới. Gió từ…
Nội dung chương
Tiếng gà rừng gáy đợt đầu chưa dứt thì Trần Văn Phước đã mở mắt.
Năm giờ sáng, lán T3 còn chìm trong thứ bóng tối nhờ nhờ của rạng đông chưa tới. Gió từ mặt kênh lùa qua kẽ vách ván, mang theo mùi bùn phèn ngai ngái và hơi lạnh ẩm của vùng Đồng Tháp Mười. Phước nằm im trên chiếc võng dù, nghe tiếng dây võng cọt kẹt theo nhịp thở của chính mình, rồi thò tay xuống dưới gối, rút ra cây đinh ba phân đã mòn đầu.
Anh ngồi dậy, hai bàn chân chạm nền đất ẩm lạnh. Ngay đầu võng, đóng đinh trên vách ván, là tấm ván gỗ cũ mà anh mang theo từ lán trước: ba hàng vạch song song chạy dọc thớ gỗ, mỗi hàng một trăm năm mươi hai vạch, đều tăm tắp như những nhát dao. Phước đặt đầu đinh vào cuối hàng thứ ba, ấn mạnh, rạch một đường ngắn và sâu. Vạch thứ bốn trăm năm mươi sáu.
Bốn trăm năm mươi sáu ngày, kể từ đêm hai mươi tháng năm năm ngoái.
Anh không đếm tháng nữa. Tháng là đơn vị của người còn tương lai. Kẻ trốn chạy chỉ đếm ngày. Mỗi vạch là một ngày mình còn thở, còn chưa bị còng tay dẫn đi giữa ban ngày ban mặt. Cái đêm tháng năm năm hai nghìn hai mươi lăm ấy, ở Gò Công, anh đã làm một việc mà đến giờ anh vẫn không dám gọi tên trong đầu quá lâu. Mỗi lần cái tên ấy trồi lên khỏi đáy óc, anh lại dìm nó xuống bằng công việc, bằng mệt nhọc, bằng mùi bùn phèn bám đầy người.
Phước nhét cây đinh xuống gối, bước ra khỏi võng. Lán T3 dài chừng hai chục mét, mái tôn thấp, vách ván ghép tạm, nền đất nện. Dọc hai bên vách, mười hai chiếc võng dù mắc san sát, cái nào cũng sờn mép, vá chằng vá đụp. Mùi mồ hôi, mùi dầu gió, mùi thuốc lào quyện vào nhau thành thứ mùi đặc trưng của lán trại công nhân mà anh đã quen từ nhiều tháng nay.
Công trình nạo vét Kênh T3 nằm lọt thỏm giữa Đồng Tháp Mười, cách đường nhựa gần chục cây số đường đất. Kênh này, theo lời Sáu Móm, là kênh đào từ thời còn hợp tác xã, lâu năm không nạo vét nên bùn bồi đầy, mùa lũ nước không thoát. Tốp thợ của lán T3 có nhiệm vụ vét bùn, khơi thông chừng ba cây số kênh. Việc nặng, tiền công trả theo khối, nhưng được cái không ai hỏi giấy tờ gốc, không ai tra hộ khẩu. Với một kẻ mang chứng minh thư giả tên Trần Văn Phước, đó là thiên đường.
Phước vốc nước trong thau rửa mặt. Nước kênh múc lên từ chiều qua, để qua đêm đã lắng phèn, trong veo nhưng vẫn thoảng mùi tanh. Anh nhìn bóng mình trong thau nước: mặt hốc hác, râu ria lởm chởm, hai con mắt trũng sâu vì nhiều đêm mất ngủ. Ba mươi tám tuổi mà trông như ngoài bốn mươi lăm. Anh cười khan một tiếng, làm mặt nước vỡ tan.
- Ba Phước, dậy sớm dữ bây!
Út Ráng từ võng bên cạnh thò đầu ra, tóc tai bù xù như tổ quạ. Thằng nhỏ hai mươi tám tuổi, quê đâu tận miệt Cà Mau, vào lán được nửa năm, là đứa trẻ nhất và cũng vô tư nhất lán. Nó gọi anh là Ba Phước như mọi người, giọng rổn rảng không một chút gợn.
- Dậy sớm quen rồi, ngủ nữa cũng không được.
Phước đáp, giọng khàn khàn. Anh không nói với ai rằng mình dậy sớm vì không dám ngủ nướng: những giấc ngủ dài buổi sáng thường kéo theo những giấc mơ mà anh không muốn nhớ lại khi tỉnh dậy.
Bếp lán đã đỏ lửa. Bà Tư Gái, vợ của một anh thợ, đang nấu nồi cơm to cho cả lán. Cơm bụi công trình: cơm trắng, cá lóc kho tiêu, canh chua bông súng hái ngoài kênh. Phước bưng tô cơm ra ngồi ở bậc gỗ trước lán, vừa ăn vừa nhìn mặt trời nhô lên khỏi rặng tràm xa xa. Sương mù giăng trắng mặt kênh, từng mảng, từng mảng trôi.
Sáu Móm đi ngang, tay cầm cuốn sổ ghi công, vai vác cuốc.
- Hôm nay tốp mình vét đoạn cong, chỗ nước xoáy. Ba Phước với Út Ráng một xuồng, Tư Lùn với Bảy Sị một xuồng. Nhớ cắm cọc tiêu cho ngay, đừng để máy xúc nó múc lẹm vào bờ.
Sáu Móm năm mươi lăm tuổi, người gầy nhom, da đen sạm, hai con mắt lúc nào cũng như đang đo đếm người đối diện. Ông làm cai thầu hai chục năm, tay nghề nạo vét có tiếng cả vùng, nhưng tính khí khó chịu, ít nói, chỉ mở miệng khi phân công hoặc khi chửi thợ làm ẩu. Phước để ý thấy ánh mắt ông dừng lại trên mặt mình lâu hơn mọi người một chút, nhưng anh tự nhủ đó là do mình tưởng tượng. Kẻ có tội đi đâu cũng thấy người ta nhìn mình bằng con mắt công an.
- Dạ, con biết rồi chú Sáu.
Anh đáp, cúi mặt vào tô cơm.
Công việc nạo vét bắt đầu lúc sáu giờ rưỡi. Phước và Út Ráng chống xuồng ra giữa kênh, cắm cọc tiêu hai bên bờ rồi dùng cuốc, dùng xẻng vét từng mảng bùn đen đặc quánh lên xuồng. Bùn kênh Đồng Tháp Mười nặng mùi phèn, dính như keo, mỗi xẻng xúc lên là một lần lưng oằn xuống. Nắng lên nhanh, mới tám giờ mà hơi nóng đã hầm hập trên mặt nước. Mồ hôi chảy ròng ròng xuống mắt, cay xè.
Út Ráng vừa làm vừa huyên thuyên đủ thứ chuyện: chuyện con ghệ ở quê mới gửi thư, chuyện thằng bạn cùng xóm trúng số, chuyện tối qua nằm mơ thấy mình cưới vợ. Phước ừ hử cho qua, tay vẫn xúc bùn đều đều. Anh thích làm chung với Út Ráng ở một điểm: thằng nhỏ nói nhiều nên anh không phải nói, mà không phải nói thì không sợ lỡ lời.
Đến trưa, hai xuồng cập bờ nghỉ. Cơm trưa cũng là cơm bụi, ăn ngay trên bờ kênh, dưới bóng tràm. Phước ăn nhanh, rồi nằm ngửa ra bãi cỏ, lấy nón lá che mặt. Tiếng ve kêu râm ran, tiếng nước vỗ ì oạp vào mạn xuồng, tiếng ai đó ngáy khò khò. Giữa trưa yên ả ấy, bỗng dưng trong đầu anh hiện lên một hình ảnh: một bàn nhậu ngoài sân, chai bia xếp thành hàng, tiếng cười nói ồn ào.
Anh giật mình ngồi bật dậy, mồ hôi vã ra như tắm dù đang nằm trong bóng râm. Út Ráng ngó sang, ngạc nhiên.
- Ba bị sao vậy? Mặt tái mét.
- Không sao. Nắng quá, chóng mặt chút.
Phước nói dối, giọng vẫn còn run. Anh đứng dậy đi ra mép nước, vốc nước kênh rửa mặt lia lịa. Bàn nhậu, chai bia, tiếng cười. Đêm hai mươi tháng năm. Anh lắc đầu thật mạnh như muốn văng hình ảnh ấy ra khỏi óc. Không được nghĩ. Nghĩ là chết. Ở đây, giữa ban ngày, giữa bao nhiêu con mắt, anh phải là Trần Văn Phước, công nhân nạo vét kênh, không hơn không kém.
Chiều, công việc tiếp tục đến sẩm tối. Khi mặt trời lặn xuống sau rặng tràm, tốp thợ chống xuồng về lán, người nào người nấy bùn đất bám đầy từ đầu tới chân. Tắm rửa qua loa bằng nước kênh, rồi quây quần bên mâm cơm tối. Bữa tối là bữa vui nhất trong ngày của lán trại: có thêm đĩa tép rang, có người mang ra chai rượu đế, tiếng cười nói rôm rả át cả tiếng ếch nhái ngoài kênh.
Phước ngồi ở góc mâm, ăn ít, uống ít. Có người rót rượu mời, anh cũng chỉ nhấp môi cho có lệ. Từ ngày bỏ trốn, anh không bao giờ uống say nữa. Say là mất kiểm soát, mất kiểm soát là lỡ miệng, lỡ miệng là chết. Bài học ấy anh đã trả bằng cái giá đắt nhất đời mình, không đời nào anh quên.
Ăn xong, mấy anh em trải chiếu đánh bài tiến lên, cá cược bằng thuốc lá. Phước không chơi, leo lên võng nằm, tay gối đầu, mắt nhìn lên mái tôn. Tiếng bài bạc, tiếng chửi thề vui vẻ, tiếng Út Ráng cười ha hả vì vừa chặt được con heo. Tất cả những âm thanh đời thường ấy, với anh, như vọng về từ một thế giới khác, thế giới của những người không phải trốn chạy, không phải đếm từng ngày bằng vạch khắc trên ván gỗ.
Anh thiếp đi lúc nào không hay.
Nửa đêm, Phước giật mình tỉnh giấc. Lán im phăng phắc, chỉ còn tiếng ngáy đều đều của mấy anh em và tiếng gió lùa qua kẽ tôn nghe như ai đó thở dài. Anh nằm im, lắng nghe. Có gì đó không ổn. Một cảm giác lạnh buốt chạy dọc sống lưng, dù đêm tháng tám ở Đồng Tháp Mười oi bức đến ngột ngạt.
Rồi anh nghe thấy.
Từ phía bờ kênh, vọng lại tiếng bước chân. Lộc cộc, lộc cộc. Một chân bước nặng, một chân bước nhẹ, khập khiễng, chậm rãi tiến về phía lán. Tiếng bước chân đi vòng quanh lán một lượt, rồi dừng lại.
Ngay chỗ đầu võng của anh.
Phước nín thở, toàn thân cứng đờ. Anh muốn ngồi bật dậy, muốn hét lên hỏi ai đó, nhưng cổ họng như bị ai bóp nghẹt. Tiếng bước chân im bặt. Chỉ còn tiếng tim anh đập thình thịch trong lồng ngực, to đến mức anh sợ cả lán sẽ nghe thấy.
Một lúc lâu, rất lâu, anh mới dám thò đầu ra khỏi võng, nhìn về phía cửa lán. Trăng thượng tuần mờ mờ sau mây. Sân lán trống trơn, không một bóng người. Bờ kênh xa xa chỉ có sương mù giăng trắng.
Không có ai cả.
Phước nằm vật xuống võng, mồ hôi ướt đẫm lưng áo. Chắc mình nghe nhầm, anh tự nhủ. Chắc là tiếng cành cây gãy, tiếng con gì đó đi ăn đêm. Ở cái xứ đồng không mông quạnh này, ban đêm thiếu gì âm thanh lạ. Anh nhắm mắt cố ngủ lại, nhưng hai tai vẫn dỏng lên nghe ngóng.
Đến gần sáng, khi gà rừng gáy đợt đầu, anh mới thiếp đi trong mệt mỏi. Trong giấc ngủ chập chờn, anh mơ thấy mình đang đứng giữa một bàn nhậu ngoài sân, trước mặt là hàng chai bia xếp ngay ngắn, và có một người đang nhìn anh từ phía bên kia bàn, ánh mắt buồn đến nao lòng.
Phước choàng tỉnh khi trời đã sáng hẳn. Út Ráng đã dậy, đang đánh răng ngoài sân, thấy anh thì cười toe.
- Ba Phước đêm qua ngủ mê à? Con nghe ba ú ớ gì đó.
Tim Phước hẫng một nhịp.
- Tao... tao nói gì?
- Con nghe không rõ, hình như ba gọi tên ai đó. Tên Sang hay tên Sáng gì đó.
Phước đứng chết trân giữa lán, tô nước rửa mặt trên tay suýt rơi. Ngoài sân, nắng sớm đã lên, sương mù trên mặt kênh đang tan dần. Và từ phía bờ kênh, trong ánh sáng ban mai trong vắt, anh bỗng thấy lạnh buốt cả người, như thể đêm qua có ai đó thật sự đã đứng ở đầu võng anh, lặng lẽ nhìn anh ngủ, rồi bỏ đi khi trời sáng.