Lên Hương - Chương 73: Bát cháo trắng

Đúng nửa đêm, con hẻm cổ cạnh Nhà thờ Chợ Quán mới bắt đầu thở. Trần Diệp An kéo nửa cánh cửa sắt của Vạn Niên Cư lên, tiếng ken két xé toạc màn đêm yên…

Nội dung chương

Đúng nửa đêm, con hẻm cổ cạnh Nhà thờ Chợ Quán mới bắt đầu thở.

Trần Diệp An kéo nửa cánh cửa sắt của Vạn Niên Cư lên, tiếng ken két xé toạc màn đêm yên tĩnh như mọi đêm. Ngọn đèn lồng bọc lụa trắng hình hoa sen treo trước cửa đung đưa theo gió, ánh sáng vàng vọt hắt xuống mặt đường loang lổ, soi rõ mấy vệt nước mưa còn đọng từ chiều. Xa xa, tiếng xe cấp cứu của Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới rít lên một hồi rồi tắt ngấm, trả lại sự im lặng đặc quánh cho con hẻm.

Anh ngồi xuống chiếc ghế gỗ lim cũ kỹ sau quầy, rót một chén trà đặc, hai tay ôm lấy chén cho ấm. Tay phải vẫn còn run. Run nhẹ thôi, nhưng đủ để nước trà sóng sánh chạm vành chén, đủ để anh nhớ như in cái đêm mình gục xuống bàn vẽ sau nét cọ cuối cùng cho Hà My. Ba nắp hòm trong một tuần. Cái giá của Họa Hồn Bút chưa bao giờ rẻ, và lần này nó lấy của anh ba ngày nằm liệt trên giường, đầu đau như có ai đóng đinh, tóc mai bạc thêm một mảng trắng toát mà soi gương anh phải quay mặt đi.

- Mày mà còn vẽ lén, tao khóa cửa tiệm lại.

Câu dặn của A Lực vẫn còn vang bên tai. Ba ngày nghỉ dưỡng, ba ngày bị cấm đụng vào cọ, ba ngày chỉ được phép ăn cháo, uống thuốc bổ và nghe Lạc Lạc đọc truyện tranh cho nghe bằng cái giọng léo nhéo như chim chích chòe. Đêm nay là đêm đầu tiên anh mở cửa trở lại. Tay còn run, nhưng lòng thì đã ngứa ngáy như kẻ nghiện thuốc lào lâu ngày mới được hít một hơi.

- Anh Hai ơi, mở hàng đêm nay có khách sộp không?

Tiếng Lạc Lạc vang lên từ góc tiệm, trong trẻo như chuông gió. Cô bé tám tuổi trong bộ đồ bà ba trắng tinh, tóc tết hai bím, đang ngồi vắt vẻo trên chiếc hòm mẫu kê sát tường, hai chân đung đưa. Trong tay bé là viên kẹo bông gòn to bằng cái bát, trắng xốp như mây.

- Khách sộp hay khách bèo thì cũng phải đợi chuông của em gõ đã, cô lễ tân ạ.

Diệp An cười, đưa tay ra.

- Kẹo đâu? Hối lộ anh một miếng thì anh mới cho ngồi đó.

- Không cho! Kẹo của em, em mua bằng tiền mừng tuổi người ta cúng đó.

Lạc Lạc ôm chặt viên kẹo vào lòng, phồng má. Rồi bé chợt nghiêng đầu, ánh mắt tinh nghịch:

- Mà anh Hai nè, tay anh còn run như vậy, lỡ khách đến đặt hòm, anh ghi đơn có bị chữ xấu quá người ta chê không?

- Chữ anh vốn đã xấu rồi, run thêm chút cũng không ai nhận ra đâu.

Diệp An chưa dứt câu thì tiếng chuông đồng treo trước cửa vang lên. Leng keng. Leng keng. Hai hồi chuông ngắn, một hồi dài. Có khách.

Lạc Lạc lập tức ngồi thẳng dậy, viên kẹo bông gòn biến mất không biết bé giấu vào đâu, mặt mày nghiêm trang như một cô lễ tân thực thụ. Diệp An cũng đứng lên, vuốt lại vạt áo, vỗ vỗ hai má cho tỉnh táo. Đêm đầu tiên trở lại sau ba ngày nằm bẹp, anh không muốn để khách thấy mình là một ông chủ tiệm hòm run tay như ông cụ tám mươi.

Người bước vào là một bà cụ gầy gò, lưng còng như con tôm, tay chống cây gậy tre đã bóng nhẵn theo năm tháng. Bà mặc bộ đồ bà ba nâu sòng bạc màu, đầu đội khăn tang trắng, đôi dép tổ ong mòn vẹt. Bước chân bà chậm chạp, mỗi bước đều phải dò dẫm như sợ mặt đất dưới chân sẽ sụt xuống.

- Bà ơi, bà ngồi đây cho đỡ mỏi.

Diệp An vội kéo chiếc ghế gỗ ra, đỡ bà ngồi xuống. Lạc Lạc nhanh nhảu rót một chén trà nóng, đặt nhẹ nhàng trước mặt bà cụ. Bà cụ ngẩng lên nhìn quanh tiệm một lượt, ánh mắt đục mờ vì tuổi tác nhưng vẫn còn nét sắc sảo lạ lùng. Khi ánh mắt bà dừng lại ở dãy hòm gỗ xếp dọc tường, bà khẽ gật đầu như đã yên tâm.

- Bà đến đặt hòm cho con trai tôi.

Giọng bà khàn khàn, đứt quãng như sợi chỉ mục.

- Nó mất hồi chiều. Đột quỵ. Người ta đưa vào nhà xác bệnh viện rồi, mai mới cho nhận về.

Diệp An mở cuốn sổ ghi đơn, tay phải cầm bút mà hơi run. Anh phải dùng tay trái đỡ lấy cổ tay phải mới viết được chữ ngay ngắn. Lạc Lạc đứng bên cạnh, thấy vậy liền lè lưỡi trêu, anh lườm bé một cái.

- Dạ, bà cho con xin tên tuổi người mất, để con ghi vào đơn cho đúng.

- Nguyễn Văn Hổ. Năm nay năm mươi hai tuổi.

Bà cụ nói chậm rãi, từng chữ như được cân đong.

- Còn yêu cầu gì đặc biệt không bà? Ví dụ như loại gỗ, kích thước hòm, hay nghi thức tang lễ?

Bà cụ im lặng một lúc lâu. Ngọn đèn lồng ngoài cửa đung đưa, bóng bà in lên vách tường run rẩy. Rồi bà ngẩng lên, nhìn thẳng vào mắt Diệp An:

- Có. Nó dặn, đám tang của nó không kèn, không trống. Chỉ cần một bát cháo trắng đặt lên bàn thờ. Cháo trắng thôi, không cần thịt, không cần hành. Nấu loãng một chút.

Diệp An sững người, ngòi bút khựng lại giữa trang giấy. Anh đã nghe đủ thứ yêu cầu kỳ quặc trong mấy tháng trông tiệm hòm này: hòm cách âm để người kéo nhị yên tĩnh, hòm chống nước như thuyền độc mộc, áo liệm áo dài vàng cho nàng vũ công. Nhưng "đám tang không kèn không trống, chỉ một bát cháo trắng" thì quả thật là lần đầu.

- Dạ... bà ơi, ý bà là không thuê đội kèn trống nào hết ạ? Kể cả kèn đám ma truyền thống?

- Không thuê ai hết.

Bà cụ lắc đầu, giọng quả quyết đến lạ.

- Nó dặn sao, má nó làm vậy. Cả đời nó ồn ào đủ rồi. Lúc đi, cho nó được yên tĩnh.

Diệp An ghi chép mà trong lòng đầy dấu hỏi. Một người đàn ông năm mươi hai tuổi, đột quỵ mà mất, dặn trước cả chuyện đám tang của mình không kèn không trống. Chắc là người đã chuẩn bị tâm lý từ lâu, hoặc là người có tính tình đặc biệt. Anh liếc nhìn bà cụ, thấy đôi mắt già nua của bà ráo hoảnh, không một giọt nước mắt. Nỗi đau của người mẹ mất con đôi khi không chảy ra thành nước mắt, nó khô lại, cứng rắn hơn, lặng lẽ hơn.

- Dạ con ghi rồi ạ. Bát cháo trắng, nấu loãng, đặt lên bàn thờ thay cho mâm cỗ. Còn gì nữa không bà?

- Hết rồi. Bao nhiêu tiền?

- Dạ, tiền nong tính sau cũng được bà ơi. Mai con qua xem mặt người mất rồi mình bàn tiếp.

Bà cụ gật đầu, chống gậy đứng dậy. Đến cửa, bà chợt dừng lại, quay đầu nhìn Diệp An:

- Cậu là cháu của ông Bảy Trọng phải không? Thằng Hổ nhà tôi hồi còn sống có nhắc đến ông Bảy. Nó bảo ông Bảy là người đáng tin.

Diệp An giật mình. Chú Bảy đã mất tích mấy tháng nay, để lại mỗi lá thư tay rồi biệt tăm. Người ngoài nhắc đến chú, anh vừa mừng vừa nhói.

- Dạ, con là cháu chú Bảy. Bà yên tâm, con sẽ lo cho anh Hổ chu đáo.

Bà cụ nhìn anh một lúc lâu nữa, rồi khẽ thở dài, lầm lũi bước ra màn đêm. Bóng bà liêu xiêu dưới ánh đèn lồng, mỗi lúc một nhỏ dần rồi khuất hẳn sau khúc quanh con hẻm.

Diệp An đóng cuốn sổ lại, ngả người ra ghế, xoa xoa cổ tay phải còn mỏi. Lạc Lạc từ đâu chui ra, tay cầm nửa viên kẹo bông gòn còn lại:

- Anh Hai, cho nè. Ăn kẹo cho đỡ run tay.

- Hôm nay em tốt đột xuất vậy?

- Tại em thấy bà cụ tội quá. Già rồi mà còn phải đi đặt hòm cho con trong đêm.

Diệp An nhận viên kẹo, bỏ vào miệng. Ngọt lịm, tan ngay trên đầu lưỡi. Anh nhìn ra ngoài cửa, nơi bóng bà cụ vừa khuất, trong lòng chợt dâng lên một cảm giác khó tả. Bát cháo trắng. Không kèn không trống. Người đàn ông tên Nguyễn Văn Hổ này rốt cuộc là ai mà có di nguyện lạ lùng đến vậy?

Anh lật cuốn sổ ghi đơn ra xem lại. Dòng chữ "Nguyễn Văn Hổ, 52 tuổi" nằm ngay ngắn trên trang giấy, nét chữ còn hơi run run vì tay anh chưa hết run. Nguyễn Văn Hổ. Nguyễn Văn Hổ.

Rồi như có một tia chớp xẹt qua đầu, Diệp An bật thẳng người dậy, viên kẹo bông gòn suýt rơi khỏi miệng.

Nguyễn Văn Hổ. Bảy Lửa!

Cái tên từng làm mưa làm gió khắp Chợ Lớn một thời, đại ca giang hồ khét tiếng mà đến mấy bà bán rau ngoài chợ còn phải hạ giọng mỗi khi nhắc đến. Mười mấy năm trước, người ta đồn rằng Bảy Lửa đã rửa tay gác kiếm, biến mất khỏi giang hồ không một dấu vết. Có người bảo ông ta đi tu, có người bảo ông ta trốn nợ, có người bảo ông ta đã chết từ lâu trong một trận thanh toán đẫm máu nào đó.

Vậy mà đêm nay, mẹ của Bảy Lửa vừa đến đây, đặt một cỗ hòm với yêu cầu không kèn không trống và một bát cháo trắng.

Diệp An nhìn chằm chằm vào dòng tên trong cuốn sổ, tim đập thình thịch. Đêm đầu tiên trở lại sau ba ngày nằm liệt, ông trời đã giao cho anh một đơn hàng không thể nào "bình thường" hơn được nữa.

Chương khác

Xem thêm