Lỗ Ban Ký Sự - Chương 1: Thước Câu Mặc Đẩu
Sương sớm trên bến đò Lạc Thủy dày đặc như mỡ cừu đông đặc, bám chặt lấy những cột gỗ dựng lều quán ven sông. Trời mới chớm sang thu nhưng gió lùa từ…
Nội dung chương
Sương sớm trên bến đò Lạc Thủy dày đặc như mỡ cừu đông đặc, bám chặt lấy những cột gỗ dựng lều quán ven sông. Trời mới chớm sang thu nhưng gió lùa từ lòng lạch đã mang theo cái buốt ẩm ướt của vùng sông nước Giang Nam. Cạnh chân cầu tàu mục nát, một quán trà dựng bằng phên nứa rách rưới nghi ngút khói lò than.
Thẩm Mặc Đẩu ngồi ở góc bàn sát vách nứa, chiếc hòm gỗ đào đã nhẵn thín lớp sơn cánh gián đặt ngay ngắn dưới chân. Lão trạc ngoài năm mươi, gò má hóp sâu, da mặt sạm màu nắng gió và vương những vết sẹo cưa bào đã kéo da non từ thời trai trẻ. Bàn tay lão to bè, khớp ngón gồ ghề, từng đầu móng tay đều đóng một vệt đen ngòm của nhựa cây và mực tàu rửa không bao giờ sạch.
Lão không gọi trà ngon. Trước mặt lão chỉ có một bát nước chè xanh chát đắng và một chiếc đĩa sành sứt sẹo đựng hai củ khoai nướng nguội ngắt. Lão lấy từ trong tay áo ra một phiến đá mài bùn màu xám xanh, rỏ lên mặt đá hai giọt nước lã, rồi tháo chiếc lưỡi bào thép từ thân gỗ thiết mộc ra mài chầm chậm.
Xoẹt. Xoẹt.
Tiếng thép miết trên mặt đá vang lên đều đặn giữa tiếng nước sông vỗ bì bõm vào mạn thuyền buôn đậu san sát ngoài bến. Mỗi đường đẩy tay của lão đều thẳng tắp, góc nghiêng lưỡi thép giữ nguyên một góc hai mươi nhăm độ, không chệch một ly. Lũ phu khuân vác bến tàu ồn ào vác từng bao cá khô và bao gạo lướt qua cửa quán, thỉnh thoảng liếc nhìn lão già với cái hòm đồ mộc nặng trịch bên người rồi vội vã rảo bước. Ở cái thời buổi cuối Thanh sang Dân Quốc đầy tao loạn này, một kẻ tha phương mang theo đồ nghề thợ mộc đi khắp xóm cùng ngõ hẻm không phải chuyện hiếm. Kẻ có đôi mắt đục ngầu, sâu hoắm và yên lặng đến rợn người như lão thì ít ai muốn lại gần bắt chuyện.
Lão mộc sư thu lưỡi thép lại, đưa mép bén lên sát mi mắt ngắm nghía dưới ánh sáng mờ đục của buổi sớm. Mép thép ánh lên một vệt sáng mỏng manh sắc lẹm. Lão dùng đầu ngón tay cái đã chai sần miết nhẹ ngang mép cắt để thử độ bén, rồi mới tra lưỡi vào lại lòng bào, dùng búa gỗ con gõ nhẹ hai tiếng "cốc, cốc" vào đuôi nêm để cố định.
Bên cạnh đĩa khoai, một chiếc thước câu bằng đồng đen nằm im lìm. Cây thước này dài đúng một thước bốn tấc bốn phân theo thước Lỗ Ban cổ, tám chữ "Tài, Bệnh, Ly, Nghĩa. Quan, Kiếp, Hại, Bản" được khảm bằng chỉ bạc chìm sâu vào thân đồng, góc thước đã mòn vẹt vì hàng vạn lần áp vào các cạnh xà, góc cột. Cạnh cây thước là một hộp mực bằng gỗ mun chạm hình con nghê hí châu, sợi chỉ gai tẩm mực đen nhánh cuộn tròn quanh trục quay bằng sừng trâu. Dân trong nghề gọi đó là mặc đấu. Người thợ mộc dựng nhà có thể thiếu đục, thiếu cưa, nhưng rời cây thước và sợi dây mực ra thì không thể định nổi ngay thẳng của một nóc nhà.
Chủ quán trà là một lão già lưng còng, bưng chiếc ấm đất nung sứt vòi đến châm thêm nước nóng vào bát của Thẩm Mặc Đẩu. Lão liếc nhìn cây thước đồng đen, tặc lưỡi:
- Lão Thẩm, đồ nghề của ông tính ra cũng có tuổi thọ hơn cả nửa đời người rồi đấy nhỉ. Thời buổi này người ta chuộng thuê thợ trẻ dưới tỉnh lên, dùng thước tây bằng sắt tây chia ly mét, cưa máy chạy bằng dầu hỏa, chả mấy ai còn mang cái hộp mực dây gai này đi bôn ba nữa.
Thẩm Mặc Đẩu cầm bát nước chè lên nhấp một ngụm nhỏ, hơi nóng phả vào chòm râu hoa râm lờ đờ:
- Thước tây đo được dài ngắn của súc gỗ, nhưng không đo được lòng người cắt gỗ. Cắt sai một tấc thì hỏng rui mè, đặt sai một tấc thì tuyệt tự bại gia. Cổ nhân định ra thước Lỗ Ban, chia từng tấc hung cát, là để giữ cho cái nóc nhà có đường thở. Máy móc làm sao hiểu được chuyện ấy.
Lão chủ quán cười trừ, lắc đầu rồi quay lại bên lò than thổi lửa. Với người phàm, cây gỗ chỉ là thứ củi mục dựng lên để che mưa che nắng. Với kẻ theo nghiệp Lỗ Ban cả đời, mỗi thớ gỗ từ lúc đốn ngã trên rừng già đến khi vào mộng bạt then cài đều mang theo một phần hồn vía của đất trời và tâm niệm của kẻ vung rìu.
Tiếng bước chân dẫm trên nền đất sũng nước bỗng khựng lại ngay mép phên nứa.
Một bóng người cao gầy, khoác chiếc áo tơi lá cọ ướt sũng bước vào trong quán. Gã đàn ông trạc bốn mươi tuổi, đầu đội nón lá rách vành sụp xuống tận sống mũi, cổ quấn một dải khăn vải thô màu chàm đã bạc thếch. Gã không nhìn xung quanh, không gọi trà hay thức ăn, đôi bàn chân trần dính đầy bùn đỏ sậm bước thẳng tới trước mặt bàn của Thẩm Mặc Đẩu rồi ngồi xuống chiếc ghế đẩu đối diện.
Thẩm Mặc Đẩu không ngẩng đầu lên, tay vẫn cầm chiếc búa gỗ con gõ nhẹ từng nhịp vào cán đục. Lão biết người này.
Gã đàn ông câm lặng vươn bàn tay thô ráp từ trong vạt áo tơi ra. Trên lòng bàn tay gã đặt một mẩu gỗ thông nhỏ cỡ ngón tay cái, hai đầu mẩu gỗ bị vạt chéo thành hình mộng én, chính giữa có khắc ba đường rãnh sâu hoắm nhuộm mực đỏ son. Mẩu gỗ vừa đặt xuống mặt bàn gỗ mộc, mùi nhựa thông khô quyện với mùi bùn sông nồng nặc lập tức bốc lên.
Gã câm dùng ngón trỏ gõ vào mẩu gỗ ba tiếng cộc, cộc, cộc, sau đó đẩy nhẹ về phía chiếc thước đồng đen của Thẩm Mặc Đẩu. Đôi mắt gã ẩn sau vành nón lá sâu hun hút, không phát ra một tiếng ú ớ nào, cổ họng chỉ khẽ rung lên một chuỗi âm thanh nghẹn ứ nơi cuống họng.
Thẩm Mặc Đẩu buông búa gỗ, vươn những ngón tay chai sạn nhấc mẩu gỗ thông lên. Lão xoay mẩu gỗ dưới ánh sáng le lói của ngọn đèn dầu quán trà, ngón tay miết qua ba đường rãnh màu đỏ son.
- Mộng đuôi én, đầu hướng đông, rãnh son ba vạch... Đây là dấu hiệu của phép nạp tài vùng duyên hải. Nhưng đường đục này phạm vào cung Kiếp Tài, chân mộng lại vát ngược.
Gã câm gật đầu một cái thật dứt khoát. Gã thò tay vào bọc áo, rút ra một phong bao bằng giấy dầu màu vàng úa, đặt bên cạnh mẩu gỗ rồi đứng dậy ngay lập tức. Chiếc áo tơi lá cọ khẽ rung lên, gã quay lưng bước thẳng ra khỏi quán trà, biến mất vào màn sương sớm mịt mùng phía bờ sông Lạc Thủy nhanh như khi xuất hiện. Không để lại một dấu vết nào ngoài vài vệt nước nhỏ tong tòng trên nền đất.
Chủ quán trà ngơ ngác nhìn ra cửa:
- Quái lạ, gã đó từ đâu tới thế? Nhìn bộ dạng như người câm ở miếu hoang bến dưới, sao lại đưa cho ông khúc gỗ ấy?
Thẩm Mặc Đẩu không trả lời. Lão mở phong bao giấy dầu ra. Bên trong không có thư từ, chỉ có một nhúm mạt cưa gỗ thông còn thơm mùi mới và một mảnh giấy bản ghi vội bốn chữ: "Thượng Du, Trần Gia".
Lão cẩn thận gói mẩu gỗ thông và mảnh giấy bản lại, nhét vào ngăn đáy của chiếc hòm gỗ đào. Dưới đáy hòm, nằm lót ngay dưới lớp đục và cưa, là một cuốn sổ dày cộp bọc bằng da hoẵng màu nâu sẫm đã ngả sang màu cánh gián. Bìa da nhẵn bóng do ma sát nhiều năm, không có bất kỳ chữ viết nào ở mặt ngoài.
Thẩm Mặc Đẩu lật mở cuốn sổ da hoẵng.
Từng trang giấy xuyến chỉ ngả vàng bên trong được kẻ mực tàu cẩn thận, ghi chép chi tiết từng loại bùa chú, trấn vật, hình dạng mộng gỗ và cách thức bài trí theo Lỗ Ban Kinh truyền lại qua nhiều đời. Những hình vẽ tinh vi mô tả từng loại trấn vật. Có chiếc thuyền gỗ nhỏ giấu trong khe đấu cột cái, ba chiếc lá quế nhét vào then cửa, nắm gạo nhuộm chu sa rải dưới chân móng, chiếc bút lông bị tòe ngòi giấu trên rui mè nóc nhà... Mỗi hình vẽ đều đi kèm lời chú giải về hậu quả hung cát, cùng phương pháp hóa giải chuẩn mực của các bậc tiền bối trong môn phái.
- Phép Lỗ Ban có hai mươi bảy điều yếm thắng truyền đời. Mười điều cát tường mượn khí trời đất trợ mệnh gia chủ, nhưng tiêu hao âm đức của kẻ tạo tác. Mười bảy điều trấn áp giam cầm phúc lộc, đoạt mạng người nhà, nhưng quả báo vận vào thân thợ mộc nặng gấp mười lần.
Đó là lời sư phụ quá cố từng dạy Thẩm Mặc Đẩu bên bờ sông Tiền Đường bốn mươi năm trước, khi truyền lại cho lão chiếc thước câu và cuốn sổ da thú này. Năm đó sư phụ lão mù lòa cả hai mắt, mười đầu ngón tay teo quắt do bị phản phệ sau một lần phá bỏ chiếc đinh ba mũi yếm trong xà chính của một dinh thự quan lại ở Kim Lăng.
Thẩm Mặc Đẩu lật tới trang giấy cuối cùng của cuốn sổ.
Trang giấy này hoàn toàn trống trắng, không có hình vẽ hay chữ viết nào của sư phụ để lại. Nhưng trên mặt giấy trắng nhờ nhờ ấy, ở góc dưới cùng phía bên phải, có một vệt mực màu đỏ sẫm như máu tươi đang dần dần kết tụ lại thành một chấm nhỏ li ti. Mỗi lần lão tìm ra một trấn vật, gỡ bỏ một mối oán thù hay tham niệm giấu trong rui mè kèo cột, trang giấy trắng này lại tự động hiện thêm một nét chỉ mờ. Lão biết, ngày mà trang giấy này phủ kín chữ viết cũng là lúc món nợ nghề nghiệp của đời lão phải thanh toán trọn vẹn.
Lão khép cuốn sổ lại, cài khóa đồng của hòm đồ nghề, rồi uống cạn bát nước chè xanh đã nguội ngắt. Lão đặt ba đồng tiền xu lên mặt bàn gỗ, cúi người nhấc chiếc quai da của hòm đồ nghề khoác lên vai. Sức nặng của sắt thép và gỗ đè trĩu một bên vai gầy, nhưng bước chân lão vẫn vững chãi như cây cột cái cắm sâu vào chân tảng đá.
- Lão
Thẩm đi đâu đấy?:
- Chủ quán trà cất tiếng hỏi với theo.
- Đi lên mạn ngược. Có người vừa dựng nhà mới xong, cần người xem lại đường rui mè.
Thẩm Mặc Đẩu bước ra bến sông. Sương mù lúc này đã loãng bớt, để lộ ra dòng nước Lạc Thủy cuồn cuộn chảy xiết, mang theo những mảng bèo tây dập dềnh xuôi về phía hạ lưu. Ở bờ bên kia, những rặng liễu rủ bóng xuống mé nước mờ ảo, xa hơn nữa là khói bếp của những làng chài và dinh cơ buôn bán ven sông đang lục tục bắt đầu một ngày mới.
Lão đi dọc theo con đường lát đá xanh dẫn về phía bến đò ngang. Một chiếc thuyền nan nhỏ chở khách đang chuẩn bị rời bến, người lái đò đứng ở mũi thuyền tay cầm sào tre chống xuống lòng bùn để giữ thăng bằng.
- Sang sông không lão thợ mộc? Hai đồng một lượt, mau chân kẻo thuyền rời bến!
Người lái đò đội nón tơi gào to.
Thẩm Mặc Đẩu bước xuống mép nước, chiếc giày vải thô dẫm lên lớp bùn trơn trượt. Lão bước lên khoang thuyền gỗ, ngồi xuống cạnh mấy bà buôn gánh rau cải và một bác nông dân dắt theo hai con vịt béo. Chiếc thuyền nan tròng trành chao đảo trên mặt nước đục ngầu phù sa.
Người lái đò dùng sào tre đẩy mạnh vào bờ đá, con thuyền lướt êm ra giữa dòng sông lộng gió. Tiếng nước róc rách chảy xiết quanh mạn thuyền nghe như tiếng thở dài của đất trời.
Bác nông dân ngồi cạnh thấy chiếc hòm đồ nghề chạm trổ mép đồng của Thẩm Mặc Đẩu bèn cất lời làm quen:
- Lão sư phụ đây là thợ mộc từ vùng ngoài tới phải không? Nghe giọng không giống người huyện Lạc Thủy chúng tôi.
- Tôi từ mạn dưới đi lên, tiện đường tìm việc làm mộng làm rui cho bà con
Thẩm Mặc Đẩu điềm đạm đáp:
- Thế thì lão lên mạn trên là đúng chỗ rồi đấy
- Bác nông dân xoa tay cười:
- Dạo này vùng Thượng Du làm ăn phát đạt lắm. Nhất là nhà họ Trần ở đầu thôn, ông chủ Trần Đông gia mấy tháng trước vừa trúng một mẻ lúa lớn ở mạn Giang Bắc, tiền của đổ về như nước sông mùa lũ. Nghe đâu tuần trước vừa làm lễ phạt mộc khánh thành xong ngôi nhà ngói ba gian bằng gỗ thông bề thế nhất vùng, cột kèo bóng loáng, gỗ nhập tận mạn rừng Phúc Kiến về đấy.
Thẩm Mặc Đẩu khẽ nhướng đôi mày rậm:
- Nhà mới dựng tuần trước? Đội thợ mộc làm nhà ấy là người ở đâu?
- Nghe nói là ba thợ nghèo từ vùng khác trôi dạt tới, được Trần Đông gia cưu mang cho ăn ở rồi giao việc dựng nhà. Đám thợ ấy làm ngày làm đêm, tiền công lấy rẻ mạt coi như trả ơn cưu mang. Nhưng lạ lắm...
Người lái đò đang chống sào ở mũi thuyền bỗng quay đầu lại, chêm vào một câu:
- Lạ cái nỗi gì! Nhà họ Trần xưa nay nổi tiếng tính toán chi li từng hạt thóc, ba đời chỉ là lái buôn gạo nhỏ lẻ, tự nhiên nửa năm nay làm ăn như có thần tài gõ cửa. Mua đâu trúng đó, thuyền gạo chở đi mười chuyến không hỏng một bao, con trai cả đi thi hương đỗ đầu bảng. Cả cái đất này ai chả bảo nhà đấy được hưởng lộc trời, mồ mả tổ tiên phát tích.
- Có thật là lộc trời không?
Thẩm Mặc Đẩu lẩm bẩm trong miệng, mắt nhìn chăm chú xuống dòng nước sông đang chảy xiết dưới chân thuyền:
Dưới lớp nước đục ngầu phù sa, những xoáy nước nhỏ xoay tròn cuốn theo những mảnh gỗ vụn và rác rưởi trôi xuôi. Trong thuật làm nhà của Lỗ Ban Kinh, người phàm chỉ nhìn thấy nhà cao cửa rộng, cột gỗ bóng lộn là mừng, chẳng mấy ai hay rằng phúc lộc trên đời vốn có định mức. Kẻ bỗng dưng phát tài vùn vụt trong thời gian ngắn, nếu không nhờ phúc đức tổ tiên tích tụ qua mười đời, thì chắc chắn có người đã động vào phong thủy hoặc xà cột. Họ cưỡng ép gom tụ khí tài của xung quanh về một mối.
Mà của cải tụ về nhanh bao nhiêu, thì tai họa tích tụ dưới rui mè cũng nặng bấy nhiêu.
Con thuyền nan rẽ sóng cập vào bến đá làng Thượng Du. Thẩm Mặc Đẩu đứng dậy, chỉnh lại quai hòm đồ nghề trên vai rồi bước lên bờ. Lão trả hai đồng tiền xu cho người lái đò, đứng nhìn con đường mòn chạy dọc theo triền đê rợp bóng những rặng tre xanh ngắt.
Gió từ mặt sông thổi thốc vào bờ, mang theo mùi ngai ngái của bùn lầy và rơm rạ mục ải. Phía xa xa sau rặng tre đầu làng, nổi bật lên mái ngói màu xám đen của một ngôi nhà ba gian mới dựng sừng sững bên mé nước. Mái ngói mới tinh chưa bám rêu phong, trên đỉnh nóc nhà còn cắm một cành thông xanh biểu thị lễ cất nóc vừa hoàn tất.
Thẩm Mặc Đẩu dừng lại bên gốc đa đầu làng, rút chiếc thước câu bằng đồng đen trong tay áo ra ngắm thẳng về phía nóc nhà họ Trần. Đường thẳng của thân thước cắt ngang qua đỉnh bờ nóc, đuôi thước chỉ thẳng xuống dòng nước sông Lạc Thủy đang cuồn cuộn chảy xiết.
Dưới ánh nắng nhạt của buổi sớm mùa thu, lão mộc sư nhìn thấy một vệt khói màu lam nhạt lờ lờ bốc lên từ khe đấu cột cái của ngôi nhà mới. Xoắn lại như hình mũi một chiếc thuyền nan đang lướt gió xuôi dòng.