Lỗ Ban Ký Sự - Chương 3: Khe Đấu Đón Tài

Sương sớm trên mặt sông Lạc Thủy chưa kịp tan, dải sương đục như váng sữa còn là là quấn lấy những rặng tre dọc bờ đê. Gió ban mai lạnh ngắt thổi thốc…

Nội dung chương

Sương sớm trên mặt sông Lạc Thủy chưa kịp tan, dải sương đục như váng sữa còn là là quấn lấy những rặng tre dọc bờ đê. Gió ban mai lạnh ngắt thổi thốc qua khe liếp cửa sổ, làm đốm lửa bấc leo lét trong chiếc đèn dầu hạt đỗ ở góc buồng chao đảo.

Trần Đông gia đã thức dậy từ khi gà gáy sang canh năm. Ông ngồi trên chiếc ghế trường kỷ bằng gỗ tếch ở gian giữa, tay mân mê chén trà nóng, hai mắt có quầng thâm nhạt vì trằn trọc suốt nửa đêm. Tiếng nước vỗ bì bõm và tiếng mái chèo khua trên nóc nhà lúc canh ba vẫn còn văng vẳng bên tai, khiến lòng ông không lúc nào yên ổn.

Thẩm Mặc Đẩu bước ra từ gian chái phía đông. Lão đã mặc chỉnh tề chiếc áo chàm bạc màu, bên hông giắt chiếc thước câu bằng đồng đen bóng loáng, tay xách chiếc hòm đồ nghề gỗ đào khảm mép đồng.

- Trần lão bản, trời đã rạng, sương trên rui mè bắt đầu khô rồi

Thẩm Mặc Đẩu đặt hòm đồ nghề xuống mép hiên, giọng nói trầm và vững:

- Cho người mang lại đây hai chiếc thang tre dài, loại bắc vừa tới kèo ngang gian bên hữu.

Trần Đông gia vội vàng đặt chén trà xuống bàn, chạy ra sau nhà hô hoán hai người làm công. Chỉ một lát sau, hai chiếc thang tre già đực thẳng tắp, thân thang vàng óng đã được lau chùi sạch sẽ, dựng chắc chắn vào hai bên cột cái gian hữu.

- Lão sư phụ, đêm qua... lão có nghe thấy tiếng động gì trên mái không?

Trần Đông gia bước tới cạnh chân thang, hạ thấp giọng hỏi, mắt liếc nhìn lên trần nhà bằng vẻ hoài nghi.

Thẩm Mặc Đẩu chỉnh lại dải khăn buộc túm ống tay áo cho gọn gàng, đáp giọng bình thản:

- Đêm qua sông dâng nước, thuyền có người chèo xuôi. Gió đưa tiếng gỗ va vào nhau, không phải chuyện quỷ mị quấy phá. Ông theo tôi lên trần, tận mắt nhìn thì lòng mới sáng tỏ.

Lão mộc sư bước lên từng bậc thang tre. Thân hình lão già nua nhưng bước chân bám vào gióng thang vững chãi như thợ leo núi. Trần Đông gia chần chừ vài nhịp rồi cũng vén vạt áo dài, cẩn thận bám thang trèo theo sau.

Không gian trên trần nhà ngập tràn mùi gỗ thông Phúc Kiến mới xẻ, hòa lẫn với mùi dầu trẩu quét chống mối mọt còn ngai ngái. Ánh mặt trời buổi sớm rọi qua những kẽ hở giữa hàng ngói âm dương, chiếu thành từng vệt sáng dài cắt ngang lớp bụi mộc lơ lửng trong không khí.

Toàn bộ hệ khung gỗ của ngôi nhà ba gian hiện ra rõ mồn một trước mắt. Những thanh xà ngang, xà phụ được đẽo gọt phẳng phiu, khớp mộng ăn khít vào nhau không một vết hở. Lối liên kết chồng rường giá chiêng mang đậm phong cách thợ mộc vùng Giang Nam, vừa thanh thoát vừa chắc chắn.

Thẩm Mặc Đẩu đứng trên một thanh kèo phụ, một tay bám vào đòn tay đỡ mái ngói, tay kia rút chiếc thước câu bằng đồng đen ra. Lão rà mép thước dọc theo đỉnh cột cái gian hữu, nơi giao nhau giữa đầu cột và xà ngang - vị trí mà người trong nghề gọi là khe đấu củng.

Đầu thước câu gõ nhẹ vào thớ gỗ.

Cốc... cốc... bộp.

Âm thanh phát ra ở đoạn cuối không đanh gọn như tiếng gỗ đặc, mà vang lên một tiếng trầm đục rất khẽ, giống như bên trong có khoảng rỗng.

Thẩm Mặc Đẩu cúi thấp người, đưa mắt ngắm thật sát vào đường chỉ xoi của mộng đấu. Lão đặt đuôi thước câu áp sát vào gờ xà, dùng ngón tay cái đo từng vạch khắc nhỏ trên thân đồng.

- Trần lão bản, ông nhìn vào đây

Lão chỉ đầu thước vào khe hở nhỏ giữa mộng đầu cột và thanh xà phụ:

- Theo quy chuẩn của sách Lỗ Ban, khe đệm đấu củng ở vị trí chịu lực này chỉ được phép hở sâu nửa phân để quét keo da trâu và chêm nêm gỗ dẻ gai. Nhưng khe này sâu hơn chuẩn mực thông thường đến một tấc rưỡi.

Trần Đông gia trèo lên sát bên cạnh, ghé mắt nhìn theo hướng ngón tay của Thẩm Mặc Đẩu. Dưới ánh sáng ban mai lọt qua mái ngói, ông chỉ thấy một khe hở hẹp vừa lọt ngón tay, bên ngoài được trét một lớp mùn cưa trộn vôi tôi và keo dính rất khéo léo. Nếu không nhìn kỹ thì tưởng đó là một thớ gỗ tự nhiên bị nứt.

- Chỗ này... có phải thợ mộc đục mộng bị non tay, nên phải đắp bột cưa che lỗi không, lão sư phụ?

Trần Đông gia hỏi.

- Thợ non tay thì mộng xộc xệch, xà sẽ bị vặn vẹo trong vài năm.

Thẩm Mặc Đẩu lắc đầu:

- Tay thợ làm căn nhà này đục mộng chuẩn xác đến từng ly, đường bào nhẵn thín như gương. Người có tay nghề bực này không bao giờ đục hụt một tấc rưỡi mà không hay biết. Khe này là do họ cố ý chừa lại.

Nói đoạn, Thẩm Mặc Đẩu rút từ trong túi vải bên hông ra một chiếc mũi dùi dẹp bằng thép tôi. Lão cẩn thận gạt lớp mùn cưa khô cứng bịt kín ngoài miệng khe. Lớp bột vôi mủn ra, rơi lả tả xuống sàn gỗ bên dưới như những hạt tuyết nhỏ.

Miệng khe đấu lộ ra một khoảng trống dài chừng một gang tay, sâu hoắm vào trong lòng xà.

Thẩm Mặc Đẩu không vội vàng thò tay vào ngay. Lão lấy từ túi áo một nhúm lá ngải cứu khô châm lửa thổi khói, hơ nhẹ qua miệng khe để xua đi tử khí hoặc hơi ẩm ứ đọng lâu ngày. Khi làn khói trắng thơm mùi thảo mộc cuộn tròn chui vào trong khe rồi từ từ tản ra, lão mới đưa hai ngón tay trỏ và ngón giữa gầy guộc, chai sạn vào sâu bên trong.

Đầu ngón tay lão chạm phải một vật bằng gỗ cứng, nhẵn bóng.

Lão khẽ nhích từng chút một, dùng hai ngón tay kẹp chặt lấy thân vật thể rồi nhẹ nhàng rút thẳng ra ngoài.

Đó là một chiếc thuyền nhỏ đẽo bằng gỗ thông đỏ, dài đúng một gang tay người lớn. Chiếc thuyền được chạm khắc tinh xảo đến từng chi tiết nhỏ: mũi thuyền cong vút kiêu hãnh, mui thuyền đan bằng những cọng tre chuốt mỏng như sợi tơ, hai bên mạn có gắn đôi mái chèo tí hon đẽo bằng gỗ dâu. Giữa lòng thuyền khoét một khoang rỗng nhỏ, bên trong xếp ngay ngắn chín hạt thóc mẩy hạt tròn xoe, vàng óng, phủ một lớp sáp ong mỏng để chống ẩm mốc.

Điều đặc biệt nhất là khi nằm trong khe đấu, mũi chiếc thuyền nhỏ này hướng thẳng tắp vào gian giữa của ngôi nhà họ Trần, nhắm đúng vị trí đặt bàn thờ tổ tiên và bồ thóc lớn kê sát vách trong. Còn đuôi thuyền thì hướng thẳng ra phía dòng sông Lạc Thủy ngoài bờ đê.

Trần Đông gia trợn tròn hai mắt, nhìn chăm chú vào con thuyền gỗ nhỏ xíu đang nằm gọn trong lòng bàn tay đầy vết sẹo của Thẩm Mặc Đẩu. Mặt ông hết tái mét lại chuyển sang ngạc nhiên tột độ:

- Đây... đây là thứ gì? Ai lại giấu một chiếc thuyền gỗ vào giữa mộng xà nhà tôi thế này?

- Đây là trấn vật

Thẩm Mặc Đẩu cẩn thận cầm con thuyền bằng hai tay, hạ giọng:

- Trong Lỗ Ban Kinh, vật này gọi là "Mộc chu nghênh tài", tức là thuyền gỗ đón rước tài lộc.

Hai người theo thang tre leo xuống sàn nhà. Thẩm Mặc Đẩu đặt chiếc thuyền gỗ nhỏ lên mặt chiếc bàn gỗ lim ở gian giữa. Ánh nắng ban mai rực rỡ từ cửa chính rọi thẳng vào, làm lớp sáp ong trên thân thuyền ánh lên màu hổ phách tuyệt đẹp. Chín hạt thóc bên trong khoang thuyền vẫn giữ nguyên màu vàng óng ả, không hề có dấu hiệu ẩm mục hay mối mọt gặm nhấm.

Trần Đông gia ngồi phịch xuống ghế, hai tay run run bưng lấy chiếc thuyền ngắm nghía. Những ký ức về đợt dựng nhà mấy tháng trước bắt đầu ùa về rõ mồn một trong tâm trí ông.

- Lão sư phụ... tôi nhớ ra rồi.

Giọng Trần Đông gia nghẹn lại. Ông nhìn trân trân vào đôi mái chèo bằng gỗ dâu:

- Ba tháng trước, khi chuẩn bị phạt mộc dựng nhà, tôi tình cờ gặp ba anh em thợ mộc tha hương từ mạn sông Hoài trôi dạt tới đầu làng. Trông họ đói rách, gánh đồ nghề cũ nát, người anh cả thì mắt chột một bên, hai người em gầy trơ xương sườn. Họ ngồi nghỉ chân dưới gốc đa đầu làng, chia nhau nửa cái bánh ngô mốc meo.

Trần Đông gia thở ra một hơi dài, tiếp lời:

- Tôi thấy tội nghiệp quá, nghĩ bụng đằng nào nhà mình cũng đang cần thợ làm khung gỗ, bèn mời họ về nhà. Suốt hai tháng ròng rã dựng nhà, tôi bảo nhà bếp mỗi bữa đều nấu cơm gạo trắng dẻo, có thịt lợn và cá tươi đầy đủ, không để họ phải ăn đói một bữa nào. Đến ngày lễ phạt mộc và cất nóc, tôi còn mổ một con lợn béo, mua liền ba vò rượu gạo nếp ngon nhất vùng về thết đãi họ suốt ba ngày liền.

- Tiền công thì sao?

Thẩm Mặc Đẩu hỏi lại chuyện tiền công.

Trần Đông gia đáp: Đúng giá thợ cả trong vùng, không bớt một đồng một cắc.

Rồi ông nhớ lại:

- Đến ngày hoàn công, thấy họ chuẩn bị gánh đồ nghề đi về mạn hạ lưu tìm việc, tôi thấy họ thật thà chịu khó. Nên tôi thưởng thêm cho mỗi người một xâu tiền đồng, tặng riêng người thợ cả ba lượng bạc vụn làm lộ phí đi đường.

Trần Đông gia chỉ tay vào con thuyền nhỏ:

- Tôi nhớ như in buổi chiều hôm ấy, người thợ cả nhận bạc xong cứ nắm chặt lấy tay tôi, đôi mắt đỏ hoe. Lúc gánh hòm đồ nghề bước qua ngưỡng cửa, ông ấy quay đầu lại, mỉm cười nói một câu rất lạ: Trần lão bản là người phúc hậu hiếm có trên đời. Căn nhà này, anh em chúng tôi xin để lại cho ông một chút tấm lòng, coi như đền đáp ơn ba bữa cơm no và bát rượu nghĩa tình. Lúc đó tôi chỉ nghĩ ông ấy nói đãi bôi cảm tạ theo thói thường của cánh thợ, nào ngờ...

Thẩm Mặc Đẩu khẽ gật đầu, ngón tay lần theo đường mép cong của mũi thuyền gỗ:

- Đúng là chút tấm lòng của người thợ mộc đấy. Trần lão bản, ông đối đãi với thợ bằng cái tâm chí thành, nên mới nhận được món quà này.

Lão mộc sư kéo ghế ngồi xuống đối diện. Ông bắt đầu giảng giải phép tắc trong nghề:

- Người đời nay xây nhà dựng cửa, thường chỉ biết kiêng kỵ những điều mắt thấy tai nghe như hướng gió, góc ao, đòn dông đâm vào cửa. Họ không biết rằng trong thuật yếm thắng của Lỗ Ban môn, lòng dạ của người thợ dựng nhà mới là thứ quyết định phúc họa của cả cơ nghiệp.

Thẩm Mặc Đẩu chỉ vào hướng đặt của chiếc thuyền gỗ:

- Trong sách Lỗ Ban, phép đặt thuyền gỗ trong khe đấu củng là một trong mười phép cát tường bậc nhất để chiêu tài tụ bảo. Nhưng phép này là con dao hai lưỡi, ranh giới giữa phúc và họa chỉ cách nhau một đường quay mũi thuyền.

Lão xoay nhẹ thân thuyền để minh họa:

- Nếu chủ nhà keo kiệt bủn xỉn, trừ bớt tiền công, cho thợ ăn cơm hẩm canh thiu thì người thợ có bụng oán hận sẽ đẽo con thuyền giấu vào xà nóc. Nhưng đầu thuyền sẽ quay thẳng ra phía cửa chính hoặc hướng ra dòng sông lớn ngoài bến. Khi ấy, chiếc thuyền mang ý nghĩa là "chở của đi". Ban đêm dòng nước sông chảy qua sẽ cuốn toàn bộ tài khí, phúc lộc của ngôi nhà trôi tuột ra biển lớn. Gia chủ làm ăn càng nhiều thì nợ nần càng lớn, của cải đội nón ra đi, ba năm sau ắt khánh kiệt, con cháu phiêu bạt tha hương làm kẻ ăn mày.

Trần Đông gia nghe đến đó thì mặt mày biến sắc, mồ hôi rỉ ra trên trán:

- Quay mũi thuyền ra ngoài... lại độc địa đến thế sao?

- Nhưng nếu chủ nhà đối đãi tử tế, thợ mộc cảm kích ân đức

Thẩm Mặc Đẩu xoay mũi thuyền hướng trở lại gian trong:

- Họ sẽ quay mũi thuyền chở lúa vào thẳng lòng nhà, đuôi thuyền hướng ra mé sông. Sông Lạc Thủy vốn là dòng nước lớn tụ khí ngàn năm của cả vùng châu thổ. Chiếc thuyền này nằm ở khe đấu cột cái, đóng vai trò như một chiếc phễu ngầm. Ngày đêm mượn sức nước sông Lạc Thủy để gom góp tài khí, bổng lộc trôi dạt trên sông chở thẳng vào bồ thóc, chum tiền của nhà ông. Chín hạt thóc tượng trưng cho cửu như, phúc lộc trường cửu không bao giờ cạn.

Thẩm Mặc Đẩu ngừng lại một nhịp, nhìn vào mắt gia chủ:

- Đó là lý do vì sao mấy tháng nay nhà ông làm ăn trúng lớn, gạo chở mười chuyến không hỏng một bao, con trai thi cử đỗ đạt. Và đó cũng là lý do vì sao nửa đêm về sáng, cả nhà ông luôn nghe thấy tiếng sóng vỗ bì bõm và tiếng mái chèo khua trên nóc. Đó không phải ma quỷ, mà là tiếng chiếc thuyền gỗ vô hình đang cật lực chèo chống để chở tài lộc từ lòng sông vào nhà. Đây chính là trấn vật trả ơn.

Trần Đông gia nghe xong, xúc động đến mức đứng bật dậy, chắp hai tay vái lạy con thuyền gỗ nhỏ rồi vái tạ trời đất:

- Đa tạ trời đất, đa tạ anh em người thợ mạn sông Hoài! Thật không ngờ một bữa cơm đĩa thịt lúc cơ hàn lại đổi được cả cơ nghiệp lớn cho con cháu sau này.

Thẩm Mặc Đẩu nhìn vẻ mặt mừng rỡ của người chủ nhà, trong lòng thoáng dâng lên một nỗi ưu tư quen thuộc của người thợ già hiểu thấu luật trời. Phép cát tường dù mang lại tiền tài rực rỡ đến đâu, thì bản chất của nó trong Lỗ Ban Kinh vẫn là một sự vay mượn khí vận. Không có thứ gì tự nhiên sinh ra mà không phải trả bằng một cái giá vô hình, chỉ là cái giá ấy do ai gánh chịu và đến sớm hay muộn mà thôi.

Lão đứng dậy, với tay lấy chiếc hòm đồ nghề gỗ đào đặt lên mặt bàn. Lão mở chốt đồng, lấy ra cuốn sổ trấn vật bọc bằng da thú đã sờn rách bốn góc, mặt da trơn láng bóng loáng màu thời gian.

Cuốn sổ này là di vật do sư phụ truyền lại cho Thẩm Mặc Đẩu trước khi nhắm mắt xuôi tay, bên trong ghi chép cặn kẽ từng loại trấn vật. Từng phép yếm thắng từ tà thuật hại người cho đến cát thuật cứu đời mà môn phái Lỗ Ban đã tích lũy qua hàng trăm năm. Mỗi lần đi qua một ngôi nhà, giải mã hoặc chứng kiến một trấn vật, Thẩm Mặc Đẩu đều phải dùng bút lông ghi chép lại đầy đủ ngày tháng. Tên đất, tên người và hình dáng vật yếm để lưu giữ lại dấu vết của thuật mộc cho đời sau.

Lão mộc sư lật từng trang giấy dó ngả màu vàng sẫm. Những trang đầu chi chít những hình vẽ xà cột, rui mè và những dòng chữ mực tàu chân phương ghi chép về các thế nhà bị yếm bằng dao nhọn, đinh rỉ hay hình nhân gỗ cụt đầu.

Lật tới một trang giấy còn trống tinh ở gần giữa cuốn sổ, Thẩm Mặc Đẩu rút chiếc quản bút lông cán trúc cài bên hông hòm đồ nghề ra. Lão định chấm mực tàu để vẽ lại hình dáng con thuyền gỗ thông và ghi lại câu chuyện ân nghĩa giữa gia chủ họ Trần cùng ba người thợ vùng sông Hoài.

Nhưng đầu ngọn bút lông vừa chạm vào mặt giấy khô ráo thì một hiện tượng kỳ lạ xảy ra.

Mặt giấy bản trắng tinh bỗng nhiên mềm nhũn ra. Một vệt ẩm ướt hình vòng cung sẫm màu từ từ loang ra trên mặt giấy, giống hệt như có một dòng nước vô hình đang rỉ ra từ bên dưới thớ giấy ép. Vệt ẩm lan dần, làm sợi giấy dó nở bung ra, rồi từ từ chuyển sang màu đen nhờ nhờ như thể có ai đó đang dùng mực tàu đậm đặc viết ngược từ mặt sau của trang giấy xuyên thấu sang mặt trước.

Chương khác

Xem thêm